nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 1904|Trả lời: 0

Ơn Thượng Đế Nhậm Lời Cầu Nguyện - phần 2

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 3-5-2015 21:53:47 | Xem tất |Chế độ đọc
Ơn Thượng Đế Nhậm Lời Cầu Nguyện
Cố Mục sư: Nguyễn Duy Xuân
(Phần 2)

CHƯƠNG MƯỜI
ĐƯỢC KÊU GỌI SANG PHÁP

Tôi nhớ có lần một giáo sư đã nói với chúng tôi: “Ở Pháp có rất đông Việt Kiều, nhưng
không ai giảng Tin Lành cho họ, có lúc gặp họ tôi nói về Tin Lành, thì họ như có vẻ nghi ngờ và
bỏ đi.” Câu nói ấy như in sâu vào óc tôi. Chúng tôi thường cầu nguyện, xin Chúa cứu Kiều bào
bên Pháp đang bị hư mất, vì không có ai nhận trách nhiệm giảng Tin Lành để cứu linh hồn họ.
Đôi khi tôi cũng được Chúa Thánh Linh thúc giục, hãy tình nguyện qua Pháp hầu việc Chúa. Vả
lại nơi đó cũng thuận hiệp cho các con chúng tôi tiếp tục việc học. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ
lại, thấy có biết bao sự khó khăn trên đường đi, chúng tôi ngại mình không thể vượt qua được.
Lại nữa khi đã đến đất Pháp rồi, làm sao chúng tôi có đủ phương tiện sinh sống để hầu việc
Chúa? Nên tiếng nói ‘qua Pháp để hầu việc Chúa’ bị dập tắt nhiều lần, và tôi dường như không
còn muốn nghe những tiếng đó trở lại trong đầu óc nữa. Nhưng rồi thỉnh thoảng tiếng nói qua
Pháp hầu việc Chúa lại phát lên cách mạnh mẽ. Chúa thúc giục tôi đừng sợ! Ngài có thể lo liệu
vì Đức Chúa Trời là Đấng Sống, sao lại e ngại? Vả lại, bấy lâu nay Chúa đã cho chúng tôi dành
dụm được một số tiền ít nhiều để làm gì? Há không phải đây là cơ hội để khả dĩ trang trải sở phí
trên đường sang Pháp hầu việc Chúa hay sao? Chúng tôi bàn tính lần mò theo ý Chúa, rồi nhất
định rằng, nếu việc thu xếp được dễ dàng thì đó là ý Đức Chúa Trời; còn nếu có nhiều sự ngăn
trở thì nguyện ý Chúa được nên.


ƠN CHÚA KHIẾN CHÚNG TÔI ĐỔI CHƯƠNG TRÌNH SANG PHÁP SỚM HƠN MỘT
NĂM NÊN KHÔNG GẶP TRỞ NGẠI VÌ THỜI CUỘC

Vào khoảng tháng Bảy, năm 1969 tôi gởi đơn đến Ban Chấp Hành Địa Hạt (BCHĐH) ở
Sài Gòn để xin tình nguyện đi qua Pháp hầu việc Chúa giữa kiều bào bên đó, và định sẽ rời khỏi
Hội thánh Nam Vang (Phnom Penh) vào tháng 8, 1971. Lúc đó chúng tôi không thể nào biết
trước là người Việt không thể ở Cao Miên được đến năm 1971, vì một biến cố chính trị sẽ xảy ra
đầu năm 1970, và người Miên sẽ trụt xuất hết người Việt. Vì vậy Đức Chúa Trời phải can thiệp
bằng cách nào cho có hiệu lực, để giúp đỡ cho một tôi tớ của Chúa đã có chương trình và kế
hoạch nhưng phải ra đi cho đúng thời điểm, thuận hiệp cho sự chuẩn bị cũng như mọi sự thu xếp
trong gia đình mình, và khả dĩ cũng thấy rõ được ý Chúa để vâng theo.

Cảm tạ ơn Chúa cho kế hoạch của Ngài trong sự yêu thương thật mầu nhiệm, nếu không
phải là người đã từng bước đi trên đường của Chúa thì không thể nào hiểu được ý Chúa. Trong
sự biết trước của Chúa, Ngài có kế hoạch can thiệp cách lạ lùng, và chỉ cho chúng tôi đường lối
duy nhất đó mà thôi, nên Ngài cho phép có một sự khó khăn xảy ra trong Hội thánh để có thể rút
chúng tôi ra khỏi Hội thánh sớm hơn. Trong 13 năm hầu việc Chúa tại đó, không phải là chúng
tôi không gặp sự khó khăn trong nội bộ, nhưng không có lần nào gay gắt như lần nầy. Có một
người ngoại quốc trực tiếp cầm cán, mời BCH Hội thánh nhóm họp, thảo luận nhiều lần… nên
tinh thần chia rẽ trong hội thánh đạt đến mức độ không thể nào còn giữ được sự hiệp một. Chúng
tôi nghĩ rằng chắc là Chúa muốn mình qua Pháp sớm hơn nên cho phép có sự bất hòa thình lình
xảy ra trong Hội thánh như vậy. (Nghe nói người ngoại quốc nầy về sau được Đức Chúa Trời
cho một bài học thật đau đớn và có thể nói là khủng khiếp, nếu ai nghe đến cũng phải kinh ngạc
và thương hại cho số phận của người.)

Chúng tôi liền gởi cho BCHĐH ở Sài Gòn một đơn thứ hai để xin đổi lại ngày sang Pháp
sớm hơn một năm, tức là sẽ rời khỏi Hội thánh vào khoảng tháng 8, năm 1970. Đồng thời, chúng
tôi cũng gởi đơn gấp về Bộ Nội vụ ở Sài Gòn xin sang Pháp vào khoảng đó. Chúng tôi được biết
rằng, việc xin giấy xuất dương cho một gia quyến gồm 8 người mà có hai con trai đã đúng tuổi đi
quân dịch không phải là một việc dễ. Có một người quen vừa xin được giấy phép qua Pháp nói
với chúng tôi: “Xin giấy xuất dương qua Pháp hết sức khó, nhưng nhờ tôi có quen với một vị
tổng trưởng nên mới xin được; còn về phần Mục sư chắc khó hơn!” Chúng tôi Ngày đêm cầu xin
Chúa lo liệu giùm, chớ tự mình không thể nào lo được! Cám ơn Chúa, Ngài đã khiến cho ông
Đại sứ Việt Nam ở Nam vang chỉ dẫn cho kế hoạch (thật nếu không theo kế hoạch của ông ta thì
không thể nào xin được giấy). Hơn nữa, đơn chúng tôi khi về tới Sài Gòn thì nằm kẹt ở văn
phòng dường như không được cứu xét. Thấy đơn nộp đã quá lâu mà chưa có tin tức, tôi về Sài
Gòn và đến Bộ Nội vụ để tìm hồ sơ thì may thay, tôi gặp được một người bạn quen làm việc
trong đó. Người nầy đi tìm lục hồ sơ và đem vào gặp ông Trưởng phòng. Ông Trưởng phòng nói
với tôi: “Lúc nầy có lệnh Chính phủ, công chức xuất dương không đươc đem gia quyến theo mà
Mục sư đem theo hết cả gia quyến.” – “Chúng tôi là nhà truyền giáo, đâu phải công chức? Vả lại,
tôi không đi thì thôi, chớ ra đi mà để vợ và các con còn vị thanh niên ở lại thì làm sao an tâm để
truyền giáo?” Ông nói: “Mục sư an tâm về Nam vang, mọi sự sẽ xong trong vài tuần, và hồ sơ sẽ
gởi trở lại Tòa Đại sứ.” Thật cám ơn Chúa, sau đó ít lâu là giấy xuất dương cho gia quyến chúng
tôi được xong xuôi cả. BCHĐH Hội thánh Tin Lành Việt Nam cũng báo tin cho chúng tôi là đơn
xin được chấp nhận, và yêu cầu chúng tôi bàn giao công việc hội thánh với vị Giáo sĩ hiện hữu ở
Nam vang. Cám ơn Chúa có giúp chúng tôi vượt qua được sự những trở ngại ở buổi ban đầu.


ƠN CHÚA CỨU KHỎI MÌN NỔ

Nhớ lại khoảng tháng 8, năm 1969, tôi từ Nam vang về Việt nam để thu xếp việc gia
đình. Buổi sáng kia, tôi lên Bến Cát để thăm bà thân và người anh là Mục sư Nguyễn Văn Phách.
Lúc về đến đoạn đường cách Thủ Dầu Một chừng 10 cây số, thì tôi nghe tiếng lớn vì chiếc xe đò
chạy phía sau bị cán mìn, chiếc xe hư, hành khách có người bị thương, có người chết. Thật cám
ơn Chúa, Ngài có dẫn dắt thế nào mà chiếc xe đò của tôi chạy trước, lại tránh khỏi được mìn, còn
chiếc xe sau lại bị lâm nạn. Thật Đức Chúa Trời là Đấng biết trước mọi hiểm nguy nên có thể
bảo vệ được con cái Ngài an toàn như lời tác giả Đavít, người có kinh nghiệm trên đường đi với
Chúa đã nói: “Bởi vì ngươi nhờ Đức Giê hô va làm nơi nương náu mình… nên sẽ chẳng tai họa
gì xảy đến ngươi, vì Ngài sẽ ban lịnh cho Thiên sứ Ngài, bảo gìn giữ ngươi trong các đường lối
ngươi”. (Thi thiên 91:9-11)


ƠN CHÚA DỰ BỊ CHO CÓ NGƯỜI Ở PHÁP BẢO LÃNH

Chúng tôi hơi ngại nói lên sự thật, nhưng sự thật là người nào có đến Pháp trước năm
1970, mới biết giấy bảo lãnh ở Pháp rất khó xin, mặc dầu có bà con ruột thịt, hoặc bạn bè thân
thiết cũng không phải dễ gì xin mau lẹ được. Nếu ai xin được thì cũng phải chờ đợi rất nhiều thời
gian và phải vượt qua rất nhiều điều kiện. Nhất là một gia đình đông người như chúng tôi (gồm 8
người) thì thật là một nan đề, vì người bảo lãnh phải đến trước nhà cầm quyền Pháp làm giấy tờ
cung cấp chổ ở, cũng như cam kết lo việc ăn uống và có thể còn chịu trách nhiệm đủ mọi thứ
khác suốt thời gian người mình bảo lãnh du lịch trên đất Pháp.

Đã biết được những điều kiện thực tế khó khăn như vậy, nhưng chúng tôi cũng có viết
thơ cho người bà con ở Pháp xin nhờ bảo lãnh để sớm được ra khỏi nước Cao miên. Thực ra,
chúng tôi không dám tin tưởng, nên đồng thời chúng tôi cũng gởi những thơ đến các bạn người
Pháp và người Việt có quen đang cư ngụ tại Paris, Toulouse, Monperlier và Marseille. Mặc dầu
có địa chỉ rất đúng nhưng chúng tôi chờ suốt cả tháng mà chẳng thấy người nào trả lời. Chúng tôi
hết sức bối rối, vì nếu không có ai bảo lãnh thì không thể nào được Tòa Đại sứ Pháp cấp chiếu
khán thông hành. Chúng tôi đi tìm một người Pháp, có quen biết với họ tại Nam vang, xin
thương lượng trả tiền để họ gởi thơ về Pháp cho con hoặc vợ họ làm dùm giấy bảo lãnh, nhưng
họ cũng không dám làm!

Tiến trình như đã đến ngõ bí. Chúng tôi tha thiết cầu xin ơn Chúa chỉ dẫn cách nào hay
gặp được người mà Chúa khiến họ sẵn lòng giúp chúng tôi. Thật là Chúa chúng ta rất diệu kỳ.
Một ngày kia, tôi đến thăm một tín hữu người Miên gốc Việt, thấy trên bàn có một bức
thơ của một mục sư Pháp tên là Roger Bertrand ở Bordeaux. Tôi liền xin địa chỉ. Khi về đến nhà
tôi liền viết một bức thơ gởi đến ông để nhờ bảo lãnh qua du lịch nước Pháp. Mặc dù chua quen
biết nhau lần nào, nhưng ông rất tử tế và sẵn lòng làm giấy bảo lãnh. Nội trong 20 ngày là chúng
tôi nhận được một giấy bảo lãnh hợp pháp (Certificat d’Hebergement). Chúng tôi cầm giấy bảo
lãnh và miệng không ngớt cảm tạ ơn Chúa về sự giúp đỡ thật lạ lùng của Ngài! Liền trong ngày,
chúng tôi đem hồ sơ xin đi Pháp nạp cho Tòa Đại sứ Pháp và được chấp thuận nhanh chóng. Sau
đó vài tháng, chúng tôi nhận được một tờ giấy bảo lãnh nữa của bà con; nhưng lại không sử dụng
vì chỉ cần một tờ là đủ. Khi sang đến Toulouse (Pháp) được vài tháng, thì tình cờ chúng tôi lại
gặp được Mục sư Roger Rertrand trong một nhà thờ Pháp. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, hết sức
vui vẻ như là bạn cố tri. Chúng tôi mời ông ta về nhà đãi tiệc để tỏ lòng cám ơn và ngưỡng mộ
một người quá tử tế như ông!


ƠN CHÚA GIÚP CHO THƠ NHÀ BĂNG ĐẾN KỊP LÚC
ĐỂ CỨU TÔI THOÁT NẠN

Những giấy tờ cần thiết đã có đủ rồi, nhưng bây giờ còn lại một việc cũng không kém
phần quan trọng, đó là làm sao có thể chuyển ngân qua Pháp. Chúng tôi được biết rõ rằng nhà
cầm quyền Cao miên cấm nhặt ngoại kiều có tiền gởi băng ngoại quốc và chuyển ngân. Nhưng vì
quá cần nên chúng tôi phải liều lĩnh. Chúng tôi khởi sự cầu hỏi ý Chúa xin Ngài chỉ dẫn cách nào
để có thể chuyển tiền qua Pháp. Sau đó, tôi đến cùng ông giám đốc một nhà băng Pháp, có chi
nhánh ở Nam vang, để xin mở một trương mục gởi tiền qua Pháp. Cũng rất may, vì ông giám
đốc là người Pháp nên tôi dạn dĩ trình bày hoàn cảnh. Sau khi ông biết tôi sắp sang Pháp để
truyền giáo, nên rất tử tế và sẵn lòng lấy hồ sơ ra điền liền để giới thiệu tôi và gởi về nhà băng
chánh ở Paris. Cám ơn Chúa, độ 20 ngày sau là chúng tôi nhận được hồ sơ nhà băng đầy đủ.
Đoạn tôi bí mật mua ngoại tệ để gởi vào và chuyển qua nhà băng ở Paris.

Thình lình, trong tháng Tư năm 1970 có cuộc đảo chánh xảy ra ở Nam vang, chúng tôi
biết thế nào cũng có sự kiểm duyệt những thơ từ qua lại. Lòng chúng tôi rất sợ hãi vì nhớ lại tuần
trước tôi đã chuyển qua Paris 1.500 USD Đollars; nếu việc nầy bị bại lộ thì rất nguy hiễm, vì lúc
đó hiện đang có phong trào thù oán người Việt nổi lên, từ chính quyền đến dân chúng. Sau ngày
đảo chánh đồng bào đã trải qua một tuần lễ đầy khủng khiếp vì hàng ngàn nhà Việt kiều bị đập
phá, nhiều gia đình tan tành sự nghiệp. Nếu lúc đó sự chuyển ngân bị phát giác thì chẳng khác
nào chúng tôi tự chui vào hang cọp đói! Nhận biết việc nầy có thể trở thành một hoạn nạn lớn, có
thể nguy đến tính mạng, chúng tôi cầu xin cánh tay quyền phép của Chúa đưa ra giúp chúng tôi
vượt qua cơn nguy khốn! Chúng tôi cầu Chúa khiến cho nhân viên nhà Băng ở Paris lấy hồ sơ
chuyển ngân của tôi ra làm sớm và gởi biên lai qua cách mau lẹ trước thời gian có lệnh kiểm
duyệt thơ từ.

Cám ơn Chúa, nhà băng thật có làm việc mau lẹ hơn những ngày thường. Tuần sau chúng
tôi nhận được một thơ từ nhà Băng tại Paris gởi đến. Tôi cầm thơ lật qua lật lại, thấy không có
dấu kiểm duyệt. Tôi cảm tạ ơn Chúa và nhận thấy mình như thoát được cơn hoạn nạn lớn! Ngày
hôm sau, chúng tôi nhận được một thơ từ Sài Gòn gởi đến có đóng dấu kiểm duyệt của bưu
chính Cao miên. Thật Chúa là Đức Chúa Trời quyền năng. Ngài bày tỏ lòng thương xót đối với
chúng tôi, và ra tay cứu giúp đúng lúc và kịp thời. Nếu bức thơ nhà băng chỉ đến trễ một vài
ngày, là tôi bị sa vào tay những người hung ác, đã nuôi mộng từ bao nhiêu năm qua muốn trả thù
và cướp giực sản nghiệp của Việt kiều. Cám ơn Chúa còn có sự may mắn hơn nữa, là tuần sau,
tôi tình cờ gặp một người quen đi Pháp. Tôi liền viết một thơ trao tay và nhờ người khi qua tới
Paris bỏ vào thùng thơ. Trong thơ tôi xin nhà băng hủy bỏ địa chỉ của tôi ở Nam vang vĩnh
viễn… Thế là chúng tôi kể như được hoàn toàn thoát nạn. Cám ơn Chúa đã giúp chúng tôi nhiều
may mắn!


ƠN CHÚA CHO BÁN ĐƯỢC HAI CĂN NHÀ SAU MỘT THỜI GIAN
NHIỀU KHÓ KHĂN

Chúng tôi đã thu xếp được nhiều việc, nhưng còn lại hai căn nhà ở Long thành và
Nguyễn Tri Phương thì không làm sao bán được vì những căn nhà nầy đã cho mướn. Có nhiều
người muốn mua, nhưng người mướn nhà cứ ngăn cản, viện lẽ họ sẽ mua, mặc dù họ không có
đủ tiền. Thật khó cho chúng tôi vì không làm sao bán được. Vả lại, ngày giờ đi Pháp cũng gần
đến. Chúng tôi cầu xin cánh tay Chúa can thiệp giùm cách nào để có thể bán được 2 căn nhà đó.
Việc bán được nhà cũng là một dấu chứng mà chúng tôi cầu nguyện từ lâu để biết ý Chúa có kêu
gọi chúng tôi sang Pháp hầu việc Chúa hay không?

Cảm tạ ơn Chúa, trước ngày đi Pháp độ chừng vài tháng chúng tôi được thơ những người
mướn nhà gởi đến xin tôi về gấp để làm giấy bán nhà cho họ. Thế là chúng tôi đã thu xếp được
mọi việc tại Việt Nam do Chúa hoàn thành theo kế hoạch của Ngài, như Kinh Thánh có ghi
những lời dạy dỗ của Đavít theo kinh nghiệm của ông: “Hãy phó thác đường lối mình cho Đức
Giê hô va, và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy. Hãy phó các việc mình cho Chúa
thì những mưu ý mình sẽ được thành công” (Thi thiên 37:5; Châm ngôn 15:3)


ƠN CHÚA CHỮA LÀNH BỆNH THẤP KHỚP CHO VỢ TÔI TRƯỚC NGÀY
SANG PHÁP

Trước ngày chúng tôi sang Pháp độ vài tháng, vợ tôi thình lình bộc phát lên chứng bệnh
thấp khớp, hai đầu gối sưng lên nhức nhối không đi được. Bà phải nằm dưỡng bệnh cả tháng.
Bác sĩ khám và cho biết bệnh rất khó trị. Chúng tôi thấy một bà cùng xóm, cũng đau giống như
bệnh của vợ tôi, hai đầu gối sưng lên phải đến bác sĩ chích lấy nước ra và sau đó băng bột, nhưng
cũng không chữa lành dứt được.

Ngày đi Pháp đã gần mà vợ tôi mắc một chứng bệnh khiến cho không đi được. Vậy làm
sao lên đường đây? Hơn nữa, tình hình trong xứ càng ngày càng có thêm lắm điều khó khăn!
Chúng tôi tha thiết nài xin một phép lạ từ cánh tay toàn năng của Đức Chúa Trời chữa lành
chứng bệnh nguy hiểm cho vợ tôi được mạnh, thì đó sẽ là thêm một bằng chứng để biết rõ hơn
Chúa muốn dùng chúng tôi để hầu việc Ngài ở Pháp. Dù vậy, nếu Chúa muốn chúng tôi tiếp tục
hầu việc Ngài ở Pháp, Cao miên hay Việt Nam, nơi nào cũng đều tốt cả.
Cảm tạ ơn điển diệu kỳ của Chúa, Ngài đã nhậm lời cầu nguyện, nên vợ tôi được chữa
lành hoàn toàn trước ngày sang Pháp. Thật cảm tạ Cứu Chúa Jê-sus vì chính Ngài là Đấng gánh
lấy bịnh tật của chúng ta như lời Chúa trong Êsai 53:4-5 rằng: “Thật, Người (Jêsus) đã mang sự
đau ốm của chúng ta… Nhưng Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà
bị thương. Bởi sự sửa phạt người (Jêsus) chịu, chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta
được lành bịnh.” cảm tạ ơn Chúa.


CHƯƠNG MƯỜI MỘT
ƠN CHÚA PHÙ HỘ TẠI NAM VANG TRƯỚC CẢNH KIỀU BÀO
Ở CAO MIÊN BỊ CƯỚP GIỰT…

Sau cuộc đảo chính ở Nam vang (Tháng Tư 1970), nhà cầm quyền mới ra lịnh trục xuất
tất cả Việt kiều, cùng tịch thu tài sản của họ. Quốc hội thì sẽ bỏ thăm biểu quyết việc nầy. Đồng
bào vì sợ và cũng khôn ngoan hành động trước khi quốc hội biểu quyết tịch thu tài sản, nên gấp
rút bán nhà, đất, xe cộ và đồ đạc với giá rẻ mạt, chỉ còn độ 20 đến 30% giá trị trước đó. Những
người bán được cũng còn kể là may; có người ở thôn quê hoặc ở thành phố nhỏ bị hăm dọa, bỏ
nhà cửa chạy trốn để cứu mạng nên chẳng còn chi hết! Người Cao miên đã từ lâu nghe lời tuyên
truyền của báo chí nuôi mộng báo thù người Việt, nhất là cướp giựt cho hết sản nghiệp của họ
khi có cơ hội. Hôm nay cơ hội “Ngàn năm một thuở” đã đến, họ hiệp nhau hàng ngàn người
(giới đạp xích-lô là đông nhứt) vào buổi tối, cầm dao, mác, gậy gộc luôn với bao bị để di đánh
phá nhà người Việt. (Thời gian nầy nhà cầm quyền Cao miên làm ngơ để cho dân chúng tự do đi
cướp phá, và sau một tuần mới có lịnh cho cảnh sát đến can thiệp cho qua loa).

Khi những người nầy kéo đến, đồng bào hoảng sợ chạy trốn; mặc sức cho họ tung hoành
như chổ không người. Sau những đêm đập phá và cướp giựt, những căn nhà của người Việt chỉ
còn là những cái nhà trống: Bàn, ghế, chén, bát bể gãy, đồ đạc nằm ngổn ngang, cái gì quí thì họ
lấy đem đi hết. Nhưng thời may là việc đập phá chỉ kéo dài trong một tuần lễ, nên vẫn còn sót lại
nhiều nhà kiều bào chưa kịp bị đập phá. Thiệt hại nặng nhứt là xóm nhà ở Cầu Lầu, là xóm có
đông người Việt sinh sống, và rất sung túc. Chỉ nội trong đêm đầu là đã có hàng ngàn căn nhà
không còn lại món gì đáng giá. Chúng tôi có đến tại chổ để thăm viếng và an ủi đồng bào, nhưng
trước cảnh hoạn nạn quá khủng khiếp, chúng tôi không thể nào có đủ lời để xoa dịu nổi đau lòng
của họ!...


ƠN CHÚA CỨU NHÀ THỜ KHỎI BỊ ĐỐT

Những người thù ghét người Việt đã đập phá được mấy đêm, nhưng họ chưa đến xóm
của nhà thờ Tin lành. Có một người Miên quen rất tử tế ở kế bên nhà chúng tôi đến cho chúng tôi
hay: “Có nghe bọn chúng bàn luận đêm nay sẽ đến đốt nhà thờ Tin lành, và chúng đã mua xăng.
Vậy Mục sư cho bà và các cháu tản cư trước.” Người cũng đề nghị với chúng tôi nên cho cảnh
sát hay để can thiệp, “Nếu Mục sư bằng lòng tôi sẽ giúp”. Chúng tôi rất cám ơn người và nhờ
người đi báo tin tự sự với cảnh sát.

Chúng tôi liền hiệp chung nhau cầu nguyện, xin Chúa giải cứu nhà thờ cùa Ngài, xô đuổi
bọn gian ác và xin Chúa xui kiến cho cảnh sát có thể đến kịp. Thật đúng như người lân cận đã
nói. Vừa 7 giờ tối là có hàng ngàn người đến đập phá các cửa tiệm ở ngã tư, cách nhà 2 thờ
chừng 100 thước. Từ trong tư thất cạnh nhà thờ, chúng tôi nhìn thấy chừng năm, sáu người đi lại
phía nhà thờ chờ sẵn để khi đoàn dân đông kéo đến là thi hành mưu ác. Nhưng Chúa lại phá mưu
của họ, khiến cho đoàn đông chỉ thích đập phá các cửa tiệm nên đi luôn phía kia đường, chớ
không quẹo qua nhà thờ, nên các anh xách thùng xăng lần lượt rút theo đoàn người đông. Chúng
tôi hết sức cảm tạ ơn Chúa.

Đã qua khỏi được một đêm, sáng hôm sau, chúng tôi thúc giục người lân cận đi báo tin
cảnh sát một lần nữa, chúng tôi cứ hiệp chung nhau cầu xin Chúa can thiệp khiến cho cảnh sát có
thể đến kịp lúc nếu đoàn dân kia đến phá nhà thờ. Cám ơn Chúa, đúng 6 giờ chiều, có chừng 10
cảnh sát đến canh gác trước cửa nhà thờ. Độ chừng vài chục phút sau, bọn đập phá cũng ào đến
hàng ngàn. Chúng xô lấn với 10 cảnh sát; cảnh sát bị yếu thế hơn họ. Chúng tôi đứng nhìn xem,
nhận thấy phút nguy sắp đến! Nhưng cảm tạ ơn Chúa rất diệu kỳ! Liền lúc đó, có một xe chở đầy
cảnh binh đến tăng cường vừa kịp lúc. Xô đẩy bọn chúng ra xa được chừng vài chục thước.
Nhưng chúng cứ đứng chờ mãi cho đến 12 giờ khuya, hy vọng cảnh binh rút về sẽ thi hành mưu
ác.

Cám ơn Chúa, lúc bấy giờ nhà cầm quyền cũng nhận thấy dân chúng đã đập phá nhiều
nhà lắm rồi. Họ cũng muốn chấm dứt tình trạng hỗn loạn nên có lịnh cho cảnh binh ở lại bảo vệ
nhà thờ Tin lành. Đêm đó, có một tiểu đội cảnh binh ở lại canh gác nhà thờ cho đến sáng, và sau
đó, một tiểu đội lính dù đến thay thế và đóng binh luôn tại nhà thờ trong hai tháng trường. Khi đã
thấy trật tự được hoàn toàn vãn hồi họ mới rút di. Thật cảm tạ ơn Chúa, Ngài đã giải cứu nhà thờ
và gia đình chúng tôi kịp lúc, đúng giờ. Nếu đêm đầu mà Ngài không giục đoàn người đi hướng
khác, nếu cảnh sát đến trể ít phút, cũng như hiến binh đến tăng cường không kịp, thì nhà thờ có
thể đã bị đốt, tư thất nơi chúng tôi ở chắc cũng không thoát nạn.


ƠN CHÚA GIẢI CỨU CHO GIA ĐÌNH KHỎI BỊ TẬP TRUNG

Sự tập trung người Việt diễn ra lần lần từng xóm một (vì lúc bấy giờ quân Việt cộng tấn
công mạnh vào các tỉnh gần thủ đô Nam vang. Nên chính phủ lâm thời Cao miên cho lịnh tập
trung tất cả Việt kiều, lấy cớ là sợ họ sẽ làm nội công cho Việt cộng). Họ đem kiều bào vào
những trường học, nhà thờ, chùa và những nhà trống nào lớn có thể chứa được nhiều người. Một
buổi sáng kia, hàng trăm cảnh sát đến bao vây vùng chung quanh nhà thờ Tin lành bắt đi tất cả
người Việt. Mặc dù là người đang đau yếu, hoặc mới vừa sinh con một vài ngày, chúng cũng
không tha thứ cho ở lại ít ngày. Dưới con mắt họ lúc bấy giờ, họ coi người Việt như tù cần phải
bắt đem vô khám, nhưng có điều khá hơn tù là họ cho phép mỗi người được xách theo chỉ hai
vali, hoặc hai rương đồ đạc, mặc dù người đó có cả một tiệm buôn lớn chẳng hạn. Trong hoàn
cảnh gấp rút, có người ngẩn ngơ chẳng biết món gì mang theo, món gì phải bỏ, rốt cuộc bị cảnh
binh kéo đi tay không! Cả kiều bào trong xóm bị gom lại trước cửa nhà thờ Tin lành để chờ xe
nhà binh đến chở đi. Chúng tôi lén hé cửa để xem, nhìn thấy kiều bào, kẻ đứng người ngồi
khoanh tay la khóc, vẽ mặt đầy thểu não! Có kẻ đang bị lùa đi, tay xách gói, tay bồng bế con nhỏ
trông thảm thương. Cũng có người đang đau phải nhờ hai người dìu hai bên. Còn những tên cảnh
binh Cao Miên như được thời thế la hét ồn ào.

Chúng tôi khóa cửa lại cách chắc chắn và ra sau nhà bếp cầu nguyện: “Chúa ơi! Ngài là
Đức Chúa Trời toàn năng, là Đấng chúng con phục sự mấy mươi năm qua. Hôm nay xin Ngài
ban đạo binh Thiên sứ của Ngài gìn giữ và bảo vệ chúng con khỏi bị bắt vào trại tập trung”.
Chúng tôi bàn tính với nhau: Dầu chúng có bắn vào cũng không mở cửa; ngoại trừ trường hợp
chúng phá cửa vào được thì mới chịu đi. Cảnh binh đến căn nhà kế bên vách và leo lên lầu bắt cả
thảy. Kế đó, chúng dập cửa nhà chúng tôi dữ dội, nhưng cám ơn Chúa, là chúng chỉ đi tay không,
nên không có gì để cạy cửa. Rồi một vài phút sau, chúng trở lại đập cửa một hồi nữa (có lẽ chúng
lầm tưởng chúng tôi đã bị lôi đi rồi) nên bỏ đi qua bên kia đường. Chúng tôi lén nhìn qua, thấy
chủ nhà bên kia không mở cửa, chúng chạy kiếm sà beng cạy cửa, và sau khi mở được, chúng
dẫn họ đi và chẳng cho đem theo thứ gì. (Đó là qui luật của chúng, vì trong trường hợp không
hợp tác, chúng phải cạy cửa thì gia đình đó không được mang theo món đồ nào).
Đã được thoát nạn, chúng tôi đóng cửa ở luôn trong nhà gần một tháng cho đến khi có
Đại sứ Việt nam Cộng hòa đến Nam vang can thiệp được có hiệu lực. Sau đó tình hình cũng có
vẻ hơi êm dịu đi đôi chút. Tôi nói êm dịu là có ý nói chung người Miên bớt hà hiếp và đánh đập
người Việt; còn về lịnh tập trung là họ còn đang thi hành nghiêm chỉnh!
Đồng bào bị vào trại thì quá dau khổ vì đã mất hết sản nghiệp nên rất buồn rầu; còn chính
phủ thì chẳng trợ cấp gì cả; mọi người phải tự lo lấy bản thân nên có người bị đói khát. Sự kiện
kéo dài mấy tháng như vậy thật đau thương cho số phận người Việt. Hơn nữa, thỉnh thoảng
chúng vào trại tập trung để bắt hàng trăm người cột tay dẫn đi để làm bia đỡ đạn tại chiến trường
khi chúng tấn công quân Việt cộng. Không biết bao nhiêu mạng người phải chịu chết oan
uổng!...

Về phần chúng tôi tuy thoát nạn khỏi bị đưa vào trại tập trung, nhưng ở mãi trong nhà
cũng hết đồ ăn, nên tôi phải liều lĩnh lái xe đi chợ. Khi đến chợ, chưa mua được gì đầy đủ thì gặp
cảnh sát chận xét. Anh ta kêu tôi lại định bắt vào trại, nhưng rất may trong túi còn 700 Ria, tôi
liền móc đưa hết cho. Nhưng hắn đòi 3.000. Tôi vét hết trong túi tiền lẻ thêm được 70 đồng nữa
và nói chỉ có bao nhiêu đó thôi. Biết tôi chỉ có bấy nhiêu, nên tên ác ôn ấy cho tôi về. Thật cám
ơn Chúa, tôi không hiểu sao ngày đó tôi đem theo số tiền nhiều như vậy, nếu không có tiền để
hối lộ thì chắc tôi đã bị đưa vào trại tập trung. Và nếu tôi bị vào trại tập trung thì không làm sao
thu xếp được việc gia đình và các giấy tờ cần thiết để chuẩn bị lên đường sang Pháp. Thật cảm tạ
ơn Chúa rất diệu kỳ, vì mọi việc lớn nhỏ điều có bàn tay bí mật của Chúa lo liệu và tính trước,
cũng như cứu giúp kịp thời và đúng lúc, tùy theo mọi hoàn cảnh xảy đến. Thật như Chúa đã
phán: “Ta sẽ nắm chắc tay hữu ngươi và phán cùng ngươi rằng: đừng sợ, Ta sẽ giúp đỡ ngươi”
(Êsai 41:13) “Hãy trao sự lo lắng mình cho Ngài vì Ngài luôn săn sóc anh em” (I Phierơ 5:7).


ƠN CHÚA GIÚP CHO MUA ĐƯỢC VÉ MÁY BAY MỘT CHIỀU

Đều chúng tôi hết sức lo lắng là phải kẹt mua vé máy bay “khứ hồi”. Khi hỏi thăm hãng
máy bay, cũng như Tòa Đại sứ Pháp, họ đều trả lời là không biết được, vì phải tùy theo lịnh
chính phủ, nên phải chờ khi xin giấy xuất dương của nhà cầm quyền Cao miên cấp cho mới định
đoạt được. Chúng tôi tha thiết cầu nguyện, xin Chúa khiến cho nhà cầm quyền cho phép chỉ mua
một vé “khứ” mà thôi; vì nếu phải mua vé “hồi” nữa thì tốn quá nhiều tiền, mà khi qua đến Pháp
rồi, không hồi cũng không lấy tiền lại được. Dù lúc đó có bán lại được vé “hồi” cũng khó khăn
và lỗ lã. Thật vậy, gia quyến chúng tôi gồm 8 người, nếu chỉ trả tiền vé máy bay một chuyến
“khứ” thôi cũng đã tốn 285.000 ria (tương đương 5.000 US dollars). Nếu phải trả “hồi” nữa là
570.000.00 (tương đương là 10.000 dollars, tính theo giá hối xuất năm 1970). Do đó, chúng tôi
phải chuẩn bị tiền mua vé khứ hồi bằng tiền Ria. Nhược bằng nhà cầm quyền Cao miên không
cho mua bằng Ria, thì phải mua bằng Dollars theo hối xuất chợ đen, phải tốn thêm 2.000 đô nữa!
Cám ơn Chúa, đến ngày chúng tôi xin giấy xuất dương, thì có lịnh thay đổi tạm thời dễ
dàng. Nhà cầm quyền Cao miên cho phép chúng tôi trả bằng tiền Ria cũng như cho mua vé một
chuyến khứ. Thật cảm tạ ơn Chúa, là Đấng có đáp ứng lời cầu nguyện của chúng tôi nên lúc ra đi
có được một vài việc dễ dãi và may mắn. Nhờ vậy, nên chúng tôi còn dư lại một số tiền để đem
qua Pháp xoay sở trong buổi đầu mới đến. Thật cảm tạ ơn Chúa!
Khi chúng tôi qua Pháp được vài tháng, có gặp các bạn qua sau nói lại, họ phải trả bằng
dollars, chớ nhà cầm quyền không cho trả bằng Ria nữa như lúc chúng tôi ra đi. Nghe vậy, chúng
tôi càng thêm lòng cảm tạ ơn Chúa. Vì biết rằng của cải và tiền bạc là do Chúa ban cho y như
Chúa đã phán trong Phục truyền 28:3,6,12 rằng: “Ngươi sẽ được phước trong thành và được
phước ngoài đồng. Ngươi sẽ được phước khi đi ra và sẽ được phước khi đi vào. Chúa sẽ ban
phước lành tại kho lúa và trong các công việc của ngươi… Chúa sẽ làm cho ngươi được của cải,
Chúa sẽ mở kho báu của Ngài… ban phước cho mọi công việc tay ngươi.” Cảm tạ ơn Chúa. Ha
lê lu gia!


ƠN CHÚA DỰ BỊ MỘT NGƯỜI GIÚP CHIẾU KHÁN GIẤY THÔNG HÀNH

Cuộc hành trình bị trở ngại ở điểm cuối cùng, vì chúng tôi còn một căn nhà đúc 3 từng ở
Nam vang không thể bán được. Hơn nữa, tình hình thời cuộc lúc bấy giờ thật căng thẳng, vì quân
đội Việt cộng đang chĩa mũi dùi thẳng vào Nam vang, chỉ còn mấy chục cây số nữa là tới tận
Thủ đô xứ Chùa tháp. Chúng tôi bối rối vì sợ bị kẹt vào giữa trận chiến lớn, có thể bị nguy hiểm
vì bom đạn, hoặc bị người Miên trả thù giết chết lúc hai bên hỗn chiến. Chúng tôi lấy đức tin, tin
cậy nơi sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời là Đấng có quyền phép lớn lao vì không có điều chi khó
cho Chúa. Nên tôi đem tất cả 5 giấy thông hành đến Tòa Đại sứ Việt Nam để xin chiếu khán
sang Pháp.

Khi đến Tòa Đại sứ Việt nam, tôi gặp những nhân viên mới từ Sài gòn đổi lên Nam vang
nên chẳng quen biết một ai. Hơn nữa công việc họ thật bề bộn, vì luôn có hàng trăm Kiều bào
đang chờ đợi. Khi chúng tôi trình 5 giấy thông hành để xin chiếu khán, thì họ cho biết hồ sơ xin
sang Pháp của chúng tôi bị thất lạc, không biết ở đâu mà tìm, vì các nhân viên củ đã đổi đi hết
thảy. Tòa Đại sứ thì mới dọn đến đây một tuần, nên tất cả sổ sách và hồ sơ nằm ngổn ngang,
không biết hồ sơ chúng tôi nằm ở đâu để lục kiếm. Đáng lý ra họ phải cố gắng tìm giùm cho
được để phục vụ đồng bào chớ? Nhưng ở đời có những sự kiện thực tế là như vậy đó!
Việc khó khăn càng làm cho chúng tôi thêm bối rối. Trở về nhà, chúng tôi tha thiết cầu
xin cánh tay Đức Chúa Trời can thiệp cách nào cho gặp được người tử tế, sẵn lòng giúp đỡ lục
kiếm hồ sơ. Sáng hôm sau, chúng tôi trở lại Tòa Đại sứ, xin vào gặp ông Đại sứ. Nhưng chúng
tôi chỉ gặp ông cố vấn Đại sứ là ông Lê Nhung (Lúc bấy giờ ông Đại sứ Phước chưa lên Nam
vang nên ông Lê Nhung, Cố vấn cho Đại sứ thay thế). Ông ta là người có dáng điệu tao nhã, tính
tình vui vẻ, ăn nói bặt thiệp, tiếp chuyện với chúng tôi cách thân mật. Sau khi nghe chúng tôi
trình bày tự sự, thì chính ông ta đi lục kiếm được sổ sách và giao cho tôi tìm tên họ. Sau khi tôi
tìm được tên họ của chúng tôi trong sổ đem đến cho ông, ông liền cho lịnh chiếu khán và chỉ
trong vài ngày là mọi sự điều xong tất cả. Cảm tạ ơn Chúa. Ngài đã dự bị cho chúng tôi được gặp
người tử tế giúp cho qua đoạn đường chót đầy khó khăn! Ha lê lu gia! Ngợi khen Chúa.


ƠN CHÚA NGĂN TRỞ KHÔNG CHO BÁN ĐƯỢC NHÀ…

Chúng tôi cố gắng tìm người mua nhà hơn bốn tháng (từ tháng 3 đến tháng 7) nhưng
không bán được, vì nhà cầm quyền cấm không cho sang bộ những nhà do người Việt đứng tên.
Chúng tôi đã đồng ý bán được hai lần nhưng cuối cùng phải trả lại tiền đặt cọc. Cũng may, nếu
hai lần trước mà chúng tôi bán được nhà, chắc đã bị cướp giựt hết, vì lúc ấy tình hình còn rối
loạn và lịnh tập trung còn thi hành truyệt để; nhưng vì sự việc gấp rút cho cuộc hành trình nên
chúng tôi liều lĩnh bán.
(Căn nhà này Chúa cho chúng tôi vì trước đó tôi có ký giao kèo với Giáo sĩ và Hội thánh,
chịu trách nhiệm về tiền bạc đứng ra cất hai căn nhà. Hội thánh lấy một căn làm tư thất; còn căn
kia bán để trang trải sở phí, lời lỗ tôi phải chịu. Lúc đó Hội thánh đã kêu thầu khoán xây nhà trên
đất của nhà thờ nhưng không ai chịu lãnh cất, vì thầu khoáng đứng cất phải chia 3: Họ lấy hai
căn, chủ đất nhận một căn. Vì phần đất của nhà thờ không đủ cất 3 căn nên không ai nhận xây 2
căn để chia. Phần nhà cầm quyền thì cho kỳ hạn kiến thiết gấp rút nội trong 3 tháng; nếu Hội
thánh không cất, thì họ sẽ lấy đất lại cho người khác. Vì quyền lợi tối cần cho Hội thánh, nên
chúng tôi cậy ơn Chúa đánh liều đứng ra chịu trách nhiệm kiến trúc, nhận 1 căn thay vì 2 căn
như các nhà thầu khác. Nhờ đó Chúa cho chúng tôi sở hữu được 1 căn phố mà chúng tôi cần bán
trước khi ra đi.)


KHỎI MẤT ĐẤT, CÒN ĐƯỢC LỜI ĐẤT

Nhớ lại lúc chúng tôi đang kiến trúc hai căn nhà ấy, có nhận được thông cáo nhà cầm
quyền cho hay rằng: “Sau khi sở công chánh đặt ống cống dọc theo hai bên lộ, thì trước cửa nhà
của ai thì người đó phải tự lót gạch.” Do đó, khi xe đào đất (để làm cống) làm trước nhà người
lân cận thì ông nầy cho tiền người tài xế bảo móc đất bên chúng tôi đổ về phía bên đất của ông ta
(vì người có ý lót gạch trước cửa mà khỏi mua thêm đất. Vì nơi đặt ống cống là đường mương
nên ai cũng phải mua thêm đất mới lấp được lề đường cho bằng phẳn).
Khi xe móc đất phía chúng tôi thì lại đổ cả về bên đất người lân cận (Người bạn láng
giềng nầy là Đại tá hàm, một cán bộ cao cấp của Việt cộng đang mở tiệm buôn bán để kinh tài).
Vợ tôi thấy sự việc như vậy, lòng nôn náo chạy vào nhà kêu: “Ông ơi! Hãy ra coi! Xe móc đất
bên mình bỏ hết bên kia!” Tôi liền chạy ra đứng nhìn.Thật đúng như vậy. Mất của cũng sốt ruột,
tôi muốn đi đến khiếu nại! Nhưng thình lình Chúa nhắc tôi: “Hởi con! Hãy phó thác các công
việc mình cho Đức Giê hô va. Chớ phiền lòng vì kẻ ác.Tay Đức Giê hô va há ngắn không cứu
giúp được sau?” (Châm ngôn 16:3; Thi thiên 37:1; Êsai 59:1). Cảm tạ ơn Chúa, lòng tôi cảm
thấy bình an và cầu xin Chúa xui giục người móc đất đổ bên kia ít ít thôi, để cho chúng tôi khỏi
bị thiếu nhiều đất lúc lót gạch; vì biết rằng mỗi xe đất phải trả ba, bốn trăm Ria. Trong lúc đó,
chúng tôi thấy gia quyến người lân cận đứng nhìn xe móc đất mà miệng mỉm cười như đắc ý!
Vài tháng sau, lúc sở công chánh đặt ống cống xuống, người lân cận vì nóng lòng việc
buôn bán nên lật đật mua cây, ván và mướn người đóng nọc, đóng ván chận chắc chắn theo ranh
mương chừng bốn thước để làm đập chận đất. Xong, ông ta mướn xe ủi đất xuống. Đất vun lên
vì quá nhiều!... Cha con, chồng vợ hết sức vui vẻ, xúm ra dậm đạp cho dẽ dặt!
Thật Chúa là Đức Chúa Trời “Ngài cười chúng nó”, Ngài là Đấng phá mưu kẻ ác vì
“Chúa binh vực con cái Ngài”….
Rồi một đêm kia, có một đám mưa rất lớn đổ xuống như thác đổ. Đập ván bị ngã, đất từ
bên đó tuông xuống cả bên chúng tôi. Khi nước rút đi, chúng tôi nhìn xuống mương thấy hai bên
đất bằng nhau. Chúng tôi cười và cảm tạ ơn Chúa vì Ngài cho đất trở về lại bên chúng tôi. Chúng
tôi nhìn qua nhà người lân cận thấy cả gia đình lớn nhỏ đứng xem, mặt mày buồn bả! Vì việc
buôn bán, họ cần mau lẹ sửa lại để có đường cho khách hàng ra vào. Người kêu thợ sửa lại đập
cho chắc hơn nữa và mua mấy xe đất đổ thêm cho bằng phẳng. Rồi ít ngày sau, cũng có những
cơn mưa lớn như lần trước. Đập lại bị bể, đất bên người cũng chảy qua bên đất chúng tôi. Rồi
người cũng làm như vậy, cứ sửa đập và mua thêm đất. Rồi trời cũng mưa như vậy, đất bên người
chảy qua bên mương chúng tôi, càng ngày càng đầy lên, cho nên đến ngày chúng tôi lót gạch thì
khỏi mua thêm xe đất nào! Thật cảm tạ ơn Chúa, nếu trường hợp nầy không xảy ra thì ít lắm
chúng tôi cũng phải tốn hàng ngàn bạc để mua thêm đất.
Cám ơn Chúa, bài học yên lặng để sống an lành với người lân cận rất tốt đẹp! Như tục
ngữ Việt nam ta có câu: “Bà con xa không bằng láng giềng gần.” Ngược lại, người lân cận chúng
tôi vì tánh tham lam nên phải bị lỗ lã. Chúng tôi nghe người nói lại: “Phải đổ hết 1.500 tiền đất
và tiền lặt vặt nữa”… Thật như câu: “Tham thì thâm”, không bao giờ sai! Cũng giống như quan
điểm của tác giả Châm ngôn đã nói: “Hoạnh tài ắt phải hao bớt” (Châm ngôn 13:11).


ƠN CHÚA TIỀN ĐỊNH VIỆC BÁN CĂN NHÀ THẬT LẠ LÙNG!

Lúc bấy giờ giấy thông hành của chúng tôi được chiếu khán xong đã 18 ngày rồi. Chúng
tôi đang ngày đêm trông chờ cánh tay của Đức Chúa Trời trợ giúp, để nhờ Ngài mở đường, vạch
lối cách nào bán cho được căn nhà dù hy vọng dường như thật mỏng manh. Chúng tôi trông chờ
nhà cầm quyền Cao miên thay đổi sắc lịnh cấm sang bộ nhà người Việt; nhưng cấm lịnh không
có gì thay đối!
Song cảm tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài đã sắp đặt cho chúng tôi đâu đó đúng theo chương
trình kế hoạch, nên khiến có người đến mua nhà lần nữa. Đây mới là người Đức Chúa Trời đã dự
bị. Người là một Đại tá, cộng sự viên của Thủ tướng Lonnol. Ông là người Miên gốc Việt đến
mua nhà và đòi mua trước mặt Notaire (vị công chứng). Tôi đem giấy tờ nhà đến cho Notaire
xem. Notaire nói: “Tuy ông đứng tên cất nhà, nhưng ông chỉ là người thay mặt Hội, vì trong bản
đồ có ghi bằng chử Khmer: “NGƯỜI THAY MẶT.” Vậy nhà nầy là nhà của Hội. Ai có đủ thẩm
quyền thay mặt Hội thì tôi mới cho phép bán.” Mừng quá! Tôi liền đến xin cụ Giáo sĩ Jean-Funé
đứng bán giùm. Nhưng cụ có việc cần đi Thái lan nên giao quyền lại cho Ông Giáo sĩ Piaget bán.
Khi bán xong, 5 ngày sau là chúng tôi lên máy bay.

Thật cám ơn lớn lao của Đức Chúa Trời, Ngài đã dự bị trước mọi việc rất lạ lùng! Chúa
đã thấu rỏ 5 năm sau nầy, chúng tôi phải gặp sự khó khăn trong việc bán căn nhà để ra đi; nên
xui giục cho kiến trúc sư ghi thêm mấy chữ trong bản đồ: “NGƯỜI THAY MẶT” bằng chữ
Khmer; chớ không ghi bằng chữ Pháp để cho tôi không biết. Nếu tôi biết thì đã xin điều chỉnh lại
trước đó thì hôm nay không làm sao bán được căn nhà, vì chính quyển có sắc lịnh cấm sang tên
nhà người Việt. Thật cám ơn Chúa về sự lo liệu của Ngài đối với chúng tôi rất vẹn toàn. Nhờ vậy
mà chúng tôi bán được căn nhà; trong khi có hàng trăm, hàng ngàn kiều bào khốn khó vì không
bán được sản nghiệp để ra đi. Cám ơn Chúa hơn nữa, Ngài đã dự bị một Ông Đại tá mua nhà, mà
còn giúp tôi thoát nạn mấy ngày sau đó nữa!...


ƠN CHÚA CỨU KHỎI QUYỀN THẾ MUỐN TỐNG TIỀN CHÚNG TÔI

Lúc bấy giờ có ai nhiều tiền là mau mất mạng. Tên Cò ác ôn ở bót gần nhà tôi đã theo dõi
việc bán nhà của tôi từ lâu. Đã có lần hắn kêu tôi đến hăm dọa nhưng biết tôi chưa bán được nhà.
Hắn đang chờ tôi bán được nhà sẽ làm thịt! Chúng tôi biết tên Cò nầy vốn là một người nguy
hiểm nên lúc bán được nhà chúng tôi yêu cầu viên Đại tá, người mua nhà, cho phép được tiếp tục
treo bảng bán nhà cho đến ngày chúng tôi ra đi. Dù vậy, mấy ngày sau, tên Cò cũng biết được
chúng tôi đã bán nhà, nên hắn sai lính đòi tôi lại bót. Tôi cảm biết có sự hoạn nạn nên liền vào
phòng cầu nguyện, xin sự giải cứu của Đức Chúa Trời, thì cảm tạ ơn Chúa, Ngài là Đấng toàn tri
nên cũng biết trước và đã dự bị sự cứu giúp thật đúng lúc và kịp thời.
Cảm tạ ơn Chúa, đang lúc tên lính còn ngồi chờ tôi, thì viên Đại tá người mua nhà bước
vào, mặc quân phục và lon Đại tá, tên lính liền mọp xá. (Những lần trước Đại tá đến bàn chuyện
mua nhà thì luôn luôn mặc đồ thường dân, nhưng chỉ lần nầy thì mặc quân phục). Đại tá nói
chuyện với tôi có vẻ như người trong nhà, cũng trao cho tôi chìa khóa cửa để nhờ sửa lại bóng
đèn.

Khi Đại tá đi, tên lính hỏi tôi: Đại tá ấy ở đâu? Tôi nói, Ông ta là cộng sự viên của Thủ
tướng Lonnol, nhà ở gần bên đây, quen với chúng tôi đến chơi. Tên lính về trước thưa lại với tên
Cò như thế nào, mà khi chúng tôi đến, thì Cò ta nói chuyện rất thử tế với tôi và cho về. Thật cảm
tạ ơn Chúa, nếu Đại tá ngày đó không mặc quân phục và đến đúng lúc tên lính còn ngồi chờ thì
chắc tôi sẽ bị sa vào tay kẻ làm tiền nguy hiểm! Tôi được biết rằng, tên Cò ác ôn nầy nổi tiếng là
gian ác, vì hễ hắn đòi bao nhiêu tiền là phải có; bằng không sẽ bị thủ tiêu như nhiều kiều bào đã
bị mất tích lúc bấy giờ.

Tuy đã qua được một cơn nguy nhưng còn 3 ngày nữa mới đến ngày chúng tôi lên máy
bay. Ba ngày chờ đợi thấy dường như quá lâu! Chúng tôi vẫn còn lo sợ có thể gặp bất trắc nên
tinh thần như bị xao động. Chúng tôi trông cho mau tới ngày lên máy bay, thì cảm tạ ơn Chúa,
Hãng máy bay cho hay: Nếu chúng tôi muốn đi chuyến ngày mai, thứ Bảy cũng được, vì chuyến
bay từ Nhật bổn qua còn trống 7 chổ, nên hai em nhỏ vui lòng ngồi chung một ghế, đến Ấn độ
thì sẽ có đủ ghế. Cảm tạ ơn Chúa, thật là một tin vui quá bất ngờ, vì chúng tôi đang nóng nảy chờ
đợi từng giờ, từng phút, vì sợ có tai biến nào bất thường xảy ra, mà hôm nay lại được đi sớm hơn
hai ngày nên chúng tôi mau lẹ chấp nhận để đổi chuyến bay.

Chúng tôi rất cảm tạ ơn Chúa vì biết đây là ý chỉ của Đức Chúa Trời sắp đặt, bởi Ngài
biết chúng tôi không thể ở lại Nam vang lâu hơn nữa. Dù chỉ một vài ngày cũng có thể có chuyện
chẳng may, vì cả xóm ai cũng biết chúng tôi đã bán được nhà.
Chiều ngày sau, ngày 1 tháng 8 năm 1970, lúc 4 giờ, chúng tôi lên xe của hãng máy bay
Air France để ra phi trường, nhưng lòng vẫn còn nhiều lo lắng, vì biết rằng tất cả số tiền bán nhà
của chúng tôi đã đổi ra dollars đều giấu trong các vali quần áo. Có nhiều kiều bào đã giấu tiền
như vậy đều bị chúng xét lấy hết tại phi trường.
Nhớ lại lúc chúng tôi xách đồ lên xe ca, không có một tín hữu người Việt nào đến đưa
tiễn chúng tôi, nhưng trái lại, có hàng bảy, tám chục người Miên trong xóm đến giơ tay vẫy chào
chúng tôi lúc xe ca bắt đầu lăn bánh. Thật cám ơn Chúa, mọi việc Chúa làm rất diệu kỳ!


ƠN CHÚA ĐƯA LÊN MÁY BAY.

Chúng tôi phải lên máy bay lúc 9 giờ tối, nhưng giờ đó nhằm giờ giới nghiêm nên phải ra
phi trường lúc 5 giờ. Vì đi sớm nên chúng tôi phải chờ tại sân bay gần 4 tiếng đồng hồ. Chúng
tôi rất lo lắng vì phải ở sân bay lâu như vậy, sợ những tên làm việc ở đó có nhiều thì giờ tha hồ
lục soát hành lý. Nhưng cảm tạ ơn Chúa, mọi việc đều có Ngài lo liệu trước để đưa chúng tôi lên
máy bay được an toàn. Vừa ra tới sân bay, chúng tôi gặp ngay ông Chánh Sở Mật thám Cao miên
(Bọn lính sở thương chính chạy ra xá mọp ông và giúp xách đồ vào). Ông nầy thì lại đến niềm
nở bắt tay tôi chào hỏi, nói chuyện như người quen biết từ lâu, vì ông là người gốc Việt, có đứa
cháu gái lai Việt đi một mình sang Pháp du học, nên ông có ý muốn làm quen để gởi gấm đứa
cháu trên đường đến Paris.
Sau đó, ông ở lại nói chuyện để tiễn đưa đứa cháu cũng như với chúng tôi cho đến phút
bước ra sân bay. Cám ơn Chúa, nhờ thấy chúng tôi có quen với ông Chánh sở Mật thám nên
nhân viên thương chánh đối xử với chúng tôi cách đặt biệt, chỉ coi sơ vài món đồ rồi cho xách tất
cả hành lý vào cách dễ dàng, không lục xét.
Thật cảm tạ ơn Chúa. Khi ngồi nhớ lại những ngày tháng cuối cùng sống tại xứ Khmer,
chúng tôi cảm thấy mình quá đơn cô và kể như chẳng còn chút giá trị gì nữa trong một xứ đầy
thù nghịch. Kiều bào cũng như chúng tôi đều bị người Miên khinh rẻ và hăm dọa, đến nỗi những
người da trắng mà chúng tôi quen biết cũng sợ và tránh chúng tôi mỗi khi gặp ngoài công lộ,
hoặc tại nhà riêng. Nên ngày chúng tôi lên đường không có một người tiển đưa ra sân bay.
Nhưng cảm tạ ơn Chúa, chính Ngài cho có người đưa tiển làm cho chúng tôi cảm thấy không
khác nào mình là “NGƯỜI CÓ THẾ LỰC” trong những giờ phút cuối cùng, để không bị ai ức
hiếp trước khi rời bỏ đất nước Cao miên, là nơi mà chúng tôi đã hoạt động hầu việc Chúa hơn 14
năm…


NGỒI TRÊN MÁY BAY SUY NGẪM ĐẾN ƠN CHÚA

Chúng tôi xách đồ lên máy bay, tuy nặng nhọc, nhưng lòng được nhẹ nhàng, khoan
khoái, không bút mực nào có thể mô tả hết! Vì đã trải qua hơn 4 tháng gặp phải hoàn cảnh đầy
biến loạn, tinh thần chúng tôi luôn bị xao động và tâm trí lúc nào cũng thấy nặng nề trước những
khó khăn trong đời sống mình, cũng như sự hoạn nạn của đồng bào. Hôm nay đã lên được máy
bay cách bình yên chúng tôi cảm thấy như trúc được một gánh nặng nghìn cân! Khi ngồi xuống
ghế, chúng tôi luôn miệng cảm tạ ơn Chúa, là Đấng Cứu độ đã giúp chúng tôi vượt qua được một
đoạn đường gây cấn nhất trong cuộc đời; tưởng rằng trước không có và sau nầy sẽ không còn
gặp đoạn nào như thế nữa.
Phi cơ đã cất cánh bay cao cách nhẹ nhàng ở trên không trung thể nào, thì lòng chúng tôi
cũng cảm thấy nhẹ nhàng phơi phới thể ấy! Cả gia quyến chúng tôi, mạnh ai nấy nói, mạnh ai
nấy cười như chỗ không người, quên đi sự hiểm nguy có thể xảy ra trên cuộc hành trình, như đã
có sự lo lắng lúc sắp ra đi. Vì trước đó, chúng tôi có làm giấy chính thức ủy quyền cho hai ông
giáo sĩ Jean-Funé và J.J. Piaget rằng, “nếu trường hợp gia quyến chúng tôi bị tử nạn máy bay thì
với số tiền mà hãng bảo hiểm bồi thường là 500.000 Dollars, xin Hội truyền giáo lãnh và dùng
để kiến trúc tại Paris một Hội thánh Tin lành cho Việt kiều, cũng như mời một mục sư Việt nam
qua hầu việc Chúa tại đó.”
Nhớ lại, trải qua mấy tháng đầy khó khăn, nhưng nhờ ơn Chúa chúng tôi vẫn mở cửa Đền
thờ nhóm họp, không đóng cửa một tuần nào. Mặc dù ngoài gia quyến chúng tôi, chỉ có một bà
tín hữu lai Tàu (bà năm Di) còn đến nhóm. Có lúc chúng tôi đang nhóm, những người biểu tình
cầm gậy gộc dừng lại trước cửa, hàng trăm người hướng vô nhà thờ mắng chửi ồn ào! Chúng tôi
phải bước ra phía sau đề phòng, chờ lúc họ qua khỏi hết mới trở vô nhóm lại.
Nhớ lại, ơn Chúa cũng thật lạ lùng, đã cho phép một số kẻ khuấy rối dấy lên! Do đó,
chúng tôi mới đổi chương trình sang Pháp sớm hơn một năm nên có đủ thời giờ thu xếp được
việc gia đình, cũng như kịp thời xin đủ giấy tờ cần thiết. Họ như vô tình thúc đẩy, giúp chúng tôi
đi ra kịp thoát khỏi một nơi đầy biến loạn, để sang được nước Pháp hầu việc Chúa đúng theo
chương trình và kế hoạch của Đức Chúa Trời. Thật cảm tạ ơn Chúa là Đấng Toàn tri, Toàn thiện,
Toàn đức, Toàn quyền, và là Đấng Khả năng nên đã giải cứu được chúng tôi ra khỏi xứ Khmer
thù nghịch một cách vẹn toàn; chẳng khác nào như chiên đã sa vào miệng sói đói, mà lại được
giải cứu không bị một vết thương. Thật quyền năng Chúa rất diệu kỳ!
Sau 18 tiếng đồng hồ, chiếc phản lực cơ “Boeing” của Pháp, số 183, lướt gió, tung mây
suốt đêm ngày, đáp lên đáp xuống tại Bombay và Karachi, vượt qua hàng vạn cây số cho đến
sáng ngày 2/8/1970, lúc 8 giờ, thì phi cơ hạ cánh xuống phi trường Orly cách an toàn. Tất cả gia
quyến chúng tôi đều được mạnh khỏe. Cảm tạ ơn Chúa.


CHƯƠNG 12
ÂN THƯỢNG ĐẾ TẠI ĐẤT PHÁP

Khi ra khỏi phi trường Orly, chúng tôi đến ngay Trường Kinh thánh Nogent như đã định.
Chúng tôi được giúp đỡ để tạm trú tại đây 4 ngày để thăm bà con và anh em tín hữu cũng như để
dạo chơi Thủ đô “Ánh sáng”. Lúc đang dạo chơi Paris, không thạo đường xá, chúng tôi ước ao
phải chi có bản đồ thành phố để dễ bề du ngoạn! Cám ơn Chúa, vài phút sau đó, chúng tôi lượm
được bên lề đường một bản đồ Paris. Nhờ có bản đồ, nên sự dạo chơi đây đó được dễ dàng hơn,
khi đi cũng như lúc về. Thật cảm tạ ơn Chúa, dầu một vật nhỏ chẳng đáng giá chi; nhưng khi
Chúa thấy con cái của Ngài cần và đáng cho, thì Chúa cũng sẵn sàng cung cấp ngay.


THOÁT KHỎI BỊ TRỘM TẠI TRƯỜNG KINH THÁNH NOGENT.

Mới đến Paris lần thứ nhứt, chúng tôi lầm tưởng xứ nầy không có kẻ trộm, nào ngờ xứ
của các “ÔNG LỚN” nầy cũng có ăn trộm quá nhiều, không kém xứ “ANNAMITE” hoặc xứ
“CAO MIÊN”.
Lúc tới nhà trường, chúng tôi để tất cả các vali ở tầng dưới, trong phòng sách của nhà
trường mà không khóa cửa, luôn với số tiền bạc còn nằm trong các vali đó. Đoạn, chúng tôi đi
thẳng lên lầu ngủ. Sáng hôm sau, mới hay lúc 12 giờ khuya, ăn trộm bắt thang leo lên lầu vô
phòng lấy vali của một người da đen cũng mới đến nghỉ tạm nơi đó như chúng tôi. Chúng cũng
vào bếp lấy đồ hộp và lặt vặt đem đi hết. Nghe vậy, chúng tôi hốt hoảng chạy xuống phòng sách
xét lại các hành lý. Cảm tạ ơn Chúa, tất cả vẫn còn nguyên. Nếu chẳng may mất tiền bạc và đồ
đạc trong hoàn cảnh nầy, chắc phải khổ sở lắm, vì đó là tất cả tài sản của chúng tôi mang theo
lúc bấy giờ! Nhưng nhờ ơn Đức Chúa Trời gìn giữ và coi sóc của cải cho chúng tôi như người
mẹ săn sóc con cái minh khi hữu sự hoặc lúc chúng tôi thiếu xót. Như lời Chúa có phán: “Ta đã
gánh vác các ngươi từ lúc mới sanh, bồng ẫm các ngươi từ trong lòng mẹ. Cho đến chừng đầu
râu tóc bạc, Ta cũng sẽ còn bồng ẫm các ngươi nữa.” (Êsai 46:3-4).


CHÚA ĐÃ DỰ BỊ CHO CHÚNG TÔI MỘT CÁI NHÀ ĐỂ Ở KHI MỚI TỚI PHÁP

Gia đình nào có đến Pháp một lần mới biết ở Pháp mướn được một cái nhà khó là dường
nào, nhất là đối với một gia đình có đông con như chúng tôi, cả thảy gồm 8 người. Dầu phòng
ngủ, họ cũng không thích cho mướn, vì sợ ồn ào hoặc trẻ con có thể làm hư hao đồ đạc.
Khi đến Toulouse ngày 5, tháng 8, năm 1970, chúng tôi tìm được cậu Chương, con của
ông bà Phan Văn Thình, tín hữu ở Biên hòa. Cậu sẵn lòng cho chúng tôi tạm trú vài tháng tại căn
nhà của Cậu mới mua còn bỏ trống, và sau đó, vì mùa đông tại Pháp khó mướn được nhà nên
chúng tôi thương lượng trả tiền để chờ qua mùa đông. Thật cám ơn Chúa, chúng tôi mới đến xứ
người mà có căn nhà để tạm trú, dù đối với gia đình đông người như chúng tôi thì hơi chật,
nhưng có chổ ở tạm một thời gian để chờ mướn nhà khác thì thật không gì quí bằng! Chúng tôi
cũng không quên tại đây cám ơn Cậu Chương một lần nữa đã cho chúng tôi tạm trú trong căn
nhà của cậu.


CHÚA ĐÃ DỰ BỊ CHO CHÚNG TÔI MƯỚN ĐƯỢC MỘT CĂN NHÀ RỘNG RÃI

Căn nhà ở tạm này nhỏ nên chật cho 8 người. Chúng tôi bắt đầu cầu nguyện, xin Chúa dự
bị cho mướn được một nhà khác rộng rãi hơn ở vùng Rangeuille, gần trường Đại học nơi mà 3
con của chúng tôi sắp vào học. Cám ơn Chúa về sự dự bị của Ngài thật lạ lùng! Chúng tôi tìm
mướn được một nhà có 5 phòng, giá tiền mỗi tháng là 560 Franc, (tương đương với 120 dollars).
Ông chủ nhà thì rất tử tế chịu cho mướn, nhưng trái lại, viên quản lý không bằng lòng, viện lẽ
rằng, gia quyến chúng tôi đông con, sợ gây ồn ào, rồi sinh ra có sự khiếu nại của những người
lân cận. Hơn nữa, nếu trường hợp chúng tôi không có đủ tiền để trả tiền nhà; trách nhiệm về
phần quản lý chịu. (Tất cả chủ nhà ở Pháp khi cho mướn nhà đều đòi giấy chứng minh có lãnh
lương, nếu đang thất nghiệp thị không ai chịu cho mướn. Sự dằn co giữa chủ nhà và người quản
lý kéo dài hơn hai ngày. Cuối cùng, người chủ nhà chấp nhận lãnh hết trách nhiệm nếu trường
hợp có điều gì khó khăn trở ngại xảy ra trong tương lai khi cho chúng tôi mướn.
Thật cảm tạ ơn Đức Chúa Trời đã dự bị cho chúng tôi gặp một ông chủ nhà rất tử tế, có
thể tìm cả thành phố Toulouse cũng không gặp một người thứ hai. Nhờ vậy, nên chúng tôi mới
mướn được nhà ở thoải mái hơn, với phòng khách rộng rãi mà sau đó chúng tôi đã dùng căn nhà
nầy để hàng tuần một số con cái Chúa đến nhóm lại thờ phượng Chúa tạm trong 3 năm. Sau đó
thì chúng tôi mới mướn thêm được một nơi khác để làm trụ sở Hội thánh và có giấy phép nhóm
họp chính thức để thờ phượng Chúa.
Cám ơn Chúa, Ngài đã giúp đỡ chúng tôi vượt qua được những giai đoạn khó khăn.
Trong mỗi giai đoạn nào cũng có bàn tay Chúa sắp đặt trước; còn về phần chúng tôi chỉ là những
người thừa hưởng các ân huệ của Chúa. Nên chúng tôi không có đủ lời để mô tả hết ơn Ngài!
(Hình Gia đình chụp trước nhà tại Toulouse năm 1976)


ƠN CHÚA GIÚP ĐỠ CHO CÁC CON TÔI VÀO TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Khi chúng tôi đến Toulouse, vì bận rộn xin giấy kiều ngụ, và cũng vì văn phòng nhà
trường đóng cửa nghỉ hè, nên khi chúng tôi đến ghi tên cho hai con chúng tôi là: Duy Tân và Ân
Huệ vào học ngành Dược khoa thì đã trể ngày ghi tên, nên dù nài xin cách gì cũng không được.
Chúng tôi cầu xin Chúa can thiệp và giúp đỡ cách nào để cho chúng nó có thể vào trường khỏi bị
dở dang một năm học. Cảm tạ ơn Chúa. Một buổi tối kia, chúng tôi đến thăm một gia đình tín
hữu, thì tình cờ gặp một ông tiến sĩ người Việt, là Giám đốc một Viện khảo cứu Khoa học tại
Toulouse. Tôi trình bày việc hai con tôi muốn vào học ngành Dược nhưng đã trể việc ghi danh.
Ông là người rất tử tế, nên sau đó đã sẵn lòng giới thiệu cho hai con chúng tôi được nhận vào
trường. Và hơn nữa, ông còn cho phép chúng nó được vào viện của ông để tập sự, cũng giới
thiệu cho một tiến sĩ đến dạy kèm thêm, cho nên lúc cuối niên học, có rất nhiều bạn học người
Việt cùng lớp bị thi rớt ở lại; hai con chúng tôi đều được lên lớp. Thật là một đặc ân của Cứu
Chúa có nâng đỡ việc học hành của các con chúng tôi. Cảm tạ ơn Chúa.


ƠN CHÚA TIẾP TRỢ

Ai đã đến xứ Pháp rồi mới biết sự sinh sống ở xứ nầy rất khó khăn! Về phần chúng tôi đã
là mục sư tình nguyện, thì lẽ tự nhiên chúng tôi phải tự túc. Nhưng cảm tạ ơn Đức Chúa Trời, vì
chính Ngài là Đức Giê hô Va Di rê (nghĩa là Đức Chúa Trời sắm sẵn) nên chúng tôi có thể nói
như tác giả Đavit rằng: “Ngài là Đấng chăn giữ tôi, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì. Sư tử tơ bị thiếu
kém và đói; nhưng người nào tìm cầu (hầu việc) Đức Chúa Trời sẽ chẳng thiếu của tốt gì. Vì
nguồn sự sống chúng tôi đều ở nơi Chúa” (Thi thiên 23:1; 34:10; 36:9)
Nhớ lại, sau những tháng đầu tiên tại Pháp, có nhiều người đến khuyến khích và xúi giục
chúng tôi tìm việc làm, hoặc mở tiệm ăn (Restaurant) (Tiệm ăn là một nghề dễ kiếm tiền và chỉ
cân một ít vốn liếng là mở được). Nhưng chúng tôi quyết chống lại sự cám dỗ, vì nghĩ rằng: Nếu
đến xứ nầy mà kiếm tiền để làm giàu, thì mình cũng như mọi người. Như vậy, Chúa cho qua đế
đây để làm chi? Nên chúng tôi cứ tiếp tục nhiệm vụ rao giảng Tin lành và kể việc đó là nhiệm vụ
trọng yếu cần phải làm trước hết, mọi việc khác Chúa sẽ lo liệu, như Chúa đã dạy trong Mathiơ
6:33 “Nhưng trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ
cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa.”
Cảm tạ ơn Chúa, sau gần 7 năm hầu việc Chúa, thật Ngài có lo liệu cho chúng tôi đầy đủ,
nên một lần nữa, chúng tôi nói như Đavít rằng: “Chúa là Đấng chăn giữ tôi nên tôi chẳng thiếu
thốn gì.” (Thi thiên 23:1)


ƠN CHÚA GIÚP CHO XIN ĐƯỢC GIẤY KIỀU NGỤ DỄ DÀNG

Nhớ lại, trước ngày chúng tôi sang Pháp, một Giáo sĩ đã nói với chúng tôi “Bây giờ biết
ông bà sang Pháp được; nhưng qua Pháp rồi, chưa chắc gì ở lại Pháp được”. Lại nữa, lúc chúng
tôi mới tới Paris, có một tín hữu đã nói với chúng tôi “Giấy kiều ngụ xứ nầy rất khó xin, nếu
đúng ngày giấy thông hành hết hạn mà xin giấy cư trú chưa được, thì sẽ được cảnh sát đến mời
ra khỏi xứ! Dầu khó, nhưng tôi có thể xin được, vì tôi có một nghề nghiệp dễ xin ở lại. Theo tôi
biết luật lệ tại đây, thì tình trạng của mục sư còn khó hơn tôi nhiều.”
Dù nghe toàn là khó khăn nhưng chúng tôi không ngạc nhiên vì đã biết rõ về thực tế nầy
từ lúc chưa đến đất Pháp. Nhưng vì lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời nên chúng tôi mới dám liều
lĩnh ra đi. (Người đến Pháp muốn xin ở lại, phải có việc làm, và phải có chủ bảo lãnh mới có thể
xin được giấy cư trú; nhưng người nào không có nghề chuyên môn thì không dễ gì tìm được việc
làm. Mà nếu đi làm việc trong thời gian còn du lịch, thì bị trái ngược với lời cam kết của chúng
tôi tại Tòa Đại sứ Pháp ở Cao miên rằng: “Khi qua tới Pháp, không được phép làm việc, dầu rằng
làm việc để ăn cơm cũng bị cấm”. Như vậy, nếu tôi đi làm việc là phạm lời cam kết, trong trường
hợp đó có thể bị trục xuất ngay; còn nếu không tìm được việc làm để có chủ bảo lãnh, thì làm
sao xin được giấy kiều ngụ? Ấy đó là hai diều mâu thuẫn nhau).
Khi đến Toulouse, chúng tôi hiệp nhau cầu nguyện, xin Đức Chúa Trời là Đấng quyền
năng đã dẫn dắt chúng tôi đến xứ Pháp thì cứu giúp chúng tôi để có thể đóng góp phần nào vào
sự hầu việc Chúa giữa kiều bào, tùy theo tài hèn sức mọn của chúng tôi hiến dâng lên cho Chúa.
Sau đó, chúng tôi tìm đến một Hội Thánh Cải chánh (Reformée) để giao thiệp. Chúng tôi
liền gặp ngay Ông Mục sư Stocklin, người rất được ơn và vui vẻ. Sau khi nghe chúng tôi trình
bày ý nguyện muốn ở lại để hầu việc Chúa giữa Việt kiều, Ông liền cho chúng tôi một chứng thư
hợp tác để trình lên nhà cầm quyền.
Cảm tạ ơn Chúa, sau 15 ngày nạp đơn, chúng tôi được nhà cầm quyền Pháp chấp nhận
cho gia quyến chúng tôi ở lại truyền giáo cho Việt kiều với thời hạn một năm, không đòi hỏi điều
kiện nào khó khăn như những kiều dân khác. Cũng xin nói sơ về Nhà thờ Cải chánh nầy. Đây là
một đền thờ lớn kiến trúc theo lối cổ. Bên trong có hai tòa giảng, một tòa giảng cho dành cho vị
Mục sư đứng giảng mỗi tuần, cao gần hai thước; còn tòa giảng kia cao gần 4 thước để dành cho
các ngày Đại lễ có quan quyền, hoặc Vua Chúa đến dự. Đã có một lần tôi được mời lên đứng bên
phía cao đó để làm chứng, thật là rất ngại ngùng! Theo chuyện xưa kể lại thì nhà thờ nầy được
xây trên nền của một “Lò sát sanh” của một tôn giáo kia được Vua nước Pháp cho phép xây
dựng nên để đốt những người mà họ gọi là “theo tà giáo” tức là những người có Kinh Thánh và
không chịu thờ bà Mari. Trong nhà thờ có bản khắc nhiều tên những người đã tử vì đạo tại đó).
Cám ơn Chúa, sau đó, chúng tôi được đổi giấy lại với thời hạn 3 năm, và hơn thế nữa, sau
đó cả gia quyến chúng tôi đều xin được gia nhập Pháp tịch, nên tôi có cơ hội rộng rãi đi truyền
giáo các xứ lân cận với nước Pháp, vì dân Pháp được di chuyển cách dễ dàng trong các nước của
khối Thị trường Chung Âu châu.


ƠN CHÚA DỰ BỊ CHO SỰ HỢP PHÁP VỚI HỘI THÁNH TIN LÀNH TỰ DO

Nhờ cơ hội được tiếp xúc và quen với ông Mục sư Roger-Bertrand, thuộc hội thánh Tin
lành Tự do, người đã bảo lãnh gia quyến chúng tôi sang Pháp, nên sau đó ít lâu, chúng tôi tìm
được Hội thánh Tin lành Tự do ở Toulouse để xin chính thức hợp tác. Chủ tọa Tội thánh ấy là
Mục sư Pierre Tessier rất vui vẻ nhận lời và mời chúng tôi cùng làm việc với tư cách Mục sư
Phụ tá để lo cho người Việt.
Chúng tôi thường xuyên thăm viếng tín hữu và kiều bào, cùng mời họ đến nhóm họp, nên
mỗi chiều Chúa nhật đều có nhóm lại thờ phượng Chúa cách vui vẻ, mặc dù buổi nhóm đầu tiên
chỉ có hơn 10 người. Có lúc lại ít hơn, nhưng chúng tôi không ngã lòng vì biết rằng “Vạn sự khởi
đầu nan.”
Sau gần 7 năm truyền giáo, kết quả không được như ý muốn, nhưng cám ơn Chúa, là có
nhiều người được cơ hội nghe rõ về Đạo Tin lành, nhiều quyển sách nhỏ, truyền đạo đơn, và trên
ba trăm quyển Kinh Tân Cựu ước đã được phân phát đến tận tay kiều bào (số sách nhỏ do ông
Phan Văn Tình tín hữu Biên hòa gởi cho, Tân ước do Thánh thơ Công hội Anh quốc cung cấp).
Thật cám ơn Chúa đã lo liệu cho chúng tôi là người ra đi truyền giáo tự túc nơi hải ngoại,
nhận thấy mình như cô đơn, bất lực, nhưng chúng tôi đã làm được một ít việc nho nhỏ; ấy là nhờ
Chúa làm cho như Kinh thánh đã chép: “Vì mọi đều chúng tôi làm, ấy là Ngài làm cho.” (Êsai
36:12).



ƠN CHÚA NGĂN TRỞ CHÚNG TÔI LÁI XE QUA ĐỒI…

Nhớ lại, tối thứ 7, ngày 18/12/71, lúc 8 giờ 30 tối, tôi lái xe đưa hai con và vài thanh niên
Pháp đi nhóm thanh niên vào buổi tối thứ 7, tại nhà thờ Tin lành Tự do ở số 4, đường Montoyol.
Khi đến trước cửa nhà thờ, thì các con tôi mới nhớ lại tuần trước đó, Mục sư P. Tessier có mời
thanh niên đến họp tại nhà của ông đêm ấy, ở số 19, đường Imprimerie (cách nhà thờ độ 4 cây
số).
Xe ngừng trước cửa nhà thờ ít phút, vì tôi hơi nhức đầu nên lưỡng lự không muốn đi. Các
con cũng như các bạn thanh niên thúc giục tôi lái đi, vì chẳng những nhóm họp mà cũng sẽ có
bữa ăn sau giờ họp. Nhưng tôi đưa tay lên trán mấy lần vì nghe đầu hơi ê nhức. Đoạn tôi lái xe ra
khỏi đường nhà thờ, nhưng cũng chưa quyết định đi hay không? Các con tôi đinh ninh là tôi sẽ
đưa chúng đi. Nhưng khi đến đường lớn, tức là chổ rẽ đi nhà Mục sư Tessier hay trở về, thì tôi
lại có một quyết định bẻ lái trở về. Các con tôi cũng như các thanh niên tiếc quá la lên: “Ô, Ba lái
trở về rồi.” Khi về vừa tới nhà (đoạn đường đi chừng vài cây số) thì xe thắng không được. Sau
khi coi lại thì dầu thắng đã khô cạn hết.
Thật cảm tạ ơn Chúa, sự thương xót của Ngài thật lớn biết bao. Vì đường đến nhà Mục sư
P. Tessier phải leo lên đồi cao và xuống hết dốc mới tới nhà. Nếu trường hợp xe lên đồi hoặc
xuống dốc mà không thắng được thì sự nguy hiểm đến tánh mạng cả 5 người là điều cầm chắc.
Mỗi khi tôi nhớ lại việc nầy, lòng tôi vẫn còn thấy ghê rợn, miệng không quên cảm tạ ơn Chúa là
Đấng biết trước mọi sự nguy hiểm có thể xảy ra nên can thiệp đúng lúc để giúp chúng tôi khỏi bị
lâm nạn! Thật cảm tạ ơn Chúa.


CẦU NGUYỆN CHO MỘT THẦY DÒNG BỊ BỊNH

Ngày kia, chúng tôi đến thăm một gia đình bán tiệm ăn (restaurant). Khi bước vào thì gặp
một ông khách đang ngồi đó. Bà chủ nhà liền giới thiệu: “Đây là cậu… học ở nhà dòng, gần lên
chức Cha, nhưng bị bịnh nên không làm Cha được.” Thấy người có vẻ lờ đờ, ít nói chuyện.
Chúng tôi bắt đầu làm quen và sau đó, nói chuyện về quyền phép lớn lao của Chúa Jê sus, cùng
mở Kinh thánh chỉ dẫn cho người về Đạo Tin lành là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu
người tin. Sự chết của Chúa Jesus trên Thập tự giá, huyết Ngài đã đổ ra là để cứu rỗi linh hồn;
nhưng việc bị hành hạ và đánh đập trên thân thể mà Chúa Jesus phải chịu, là để cứu thân thể của
con người bị bịnh tật, như sách Êsai đã nói: “Nhưng người (Jesus) đã vì tội lỗi chúng ta mà bị
vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi
lằn roi người, chúng ta được lành bịnh.” (Êsai53:5)
Sau gần 1 giờ, người ngồi nghe chăm chú, thỉnh thoảng người có hỏi một vài câu. Kế đó,
người quỳ xuống giữa phòng ăn và nói: “Xin Mục sư cầu nguyện cho tôi được chữa lành bịnh
nhức đầu.” Tôi liền dặt tay lên đầu người và cầu nguyện, xin một phép lạ của Cứu Chúa Jesus
cứu người khỏi bịnh nhức đầu, để người thấy rỏ quyền năng và phép lạ của Chúa mà trở lại với
Đạo Tin lành đúng theo chính giáo của Chúa để linh hồn được cứu rỗi.
Sau một tuần, chúng tôi trở lại thăm thì hết sức ngạc nhiên, thấy người nói chuyện lanh lẹ
và hoạt bát như không đau chi cả, người đem Kinh thánh ra thảo luận rất vui vẻ, và sau đó người
hợp tác với một vị mục sư Pháp để lo truyển giảng cho sinh viên. Cảm tạ ơn Chúa rất diệu kỳ!
Ước mong người thắng hơn những bắt bớ, tiếp tục trung tín với Chúa Jesus để thân thể được
khỏe mạnh và được Chúa dùng để mang đến sự cứu rỗi cho nhiều người.


CẦU NGUYỆN CHO MỘT NGƯỜI BỊ MA QUỈ ÁM ẢNH KHUẤY PHÁ.

Ngày kia, có một người đến nhà để bán một chiếc xe đạp gắn máy cho con chúng tôi. Sau
khi xong việc mua bán, tôi liền chia sẻ về tình yêu thương Chúa Jesus cho người. Người rất chú
ý nghe và sau đó người xin tôi cầu nguyện giúp người tin Chúa Jesus.
Qua ngày hôm sau, vừa sáng sớm, người đến nhà chúng tôi, tay xách một giỏ trái cây để
biếu. Chúng tôi từ chối không nhận vì việc chúng tôi giúp cho mọi người biết Tin lành để tin
Chúa là một việc làm nhưng không; nên không dám nhận tiền hay quà bánh chi hết. Người yêu
cầu chúng tôi nhận cho người một lần để người kể chuyện. Sau đó người kể: “Tôi đã bị một con
quỉ theo ám ảnh và khuấy phá gần 5 năm, ban đêm là nó hiện ra để khuấy phá, gỏ cửa và ngồi
gần đầu giường nói chuyện rù rì, trải qua mấy năm. Tôi phải dọn nhà nhiều lần, thử xem có hết
không, nhưng vô hiệu quả, đành chịu đựng số phận, nên ban đêm tôi để đèn thật sáng mà ngủ.
Tôi thường đi nhà thờ Công giáo để cầu nguyện vào lúc sáng sớm, mặc dù trời đổ tuyết, tôi cũng
cố gắng đến đó cầu nguyện, mong lập công quả để Chúa thương xót đuổi quỉ lánh xa. Nhưng nó
vẫn theo tôi. Có lần tôi cũng đã đến Lourde đề cầu nguyện nhưng cũng vô hiệu. (Lourde là một
chổ mà người Công giáo cho biết là nơi có xảy ra nhiều phép lạ của bà Mari, nên từ khắp các xứ
Âu châu người hay đến đó nguyện cầu). Hôm qua Mục sư đã cầu nguyện cho tôi tin Jesus và về
nhà tôi ngủ suốt đêm chẳng còn nghe thấy gì nữa như những đêm trước.”
Thật cảm tạ ơn Chúa rất diệu kỳ! Ngài có thương xót một NẠN NHƠN của “THẾ GIỚI
TỐI TĂM”. Và từ ấy đến nay đã hơn 4 năm, người vẫn một lòng tin Chúa và chẳng còn một lần
nào bị ma quỉ đến khuấy phá nữa. Cảm tạ ơn điển và quyền năng thật lạ lùng của Chúa!


VÀI LỜI KẾT LUẬN CHO PHẦN NẦY

Đồng bào thân mến! Ước vọng chính của tôi khi được Chúa thúc giục viết ra quyển sách
nhỏ nầy, là mong nó được tới tận tay đồng bào là người chưa tin Chúa Jesus, để khi có dịp đọc
qua thì được biết ít nhiều về NIỀM TIN mà chúng tôi đặt nơi Chúa Jesus, và hiểu rằng Chúa
Jesus là Đấng đã ban ơn phước trên chúng tôi bởi NIỀM TIN ấy.
Dù phải trải qua những lúc gặp khó khăn, hoạn nạn, gia dình bị đau yếu, bịnh tật, có lúc
bị bắt bớ hăm dọa… Nhưng trong mọi hoàn cảnh ấy, chúng tôi luôn hướng về Chúa Jesus mà
cầu xin, thì được Ngài nhậm lời và đáp ứng sự cầu xin bằng những sự cứu giúp kịp thời và lạ
lùng của Ngài. Đúng như lời Kinh thánh đã chép: “Chúa Jesus phán: các ngươi nhơn danh Ta mà
cầu xin đều chi mặc dầu, ta sẽ làm cho.” (Giăng 14:13) “Ta sẽ nhậm lời họ trước khi kêu cầu ta;
họ còn nói Ta đã nghe rồi.” (Êsai 63:24). “Khi ngươi cầu, Ta ứng,” (Êsai 58:9). “Khi dân Ngài bị
khốn khó, thì chính Ngài cũng khốn khó và Thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ rồi.” (Êsai 63:9).
“ Đức Chúa Trời ở gần mọi người cầu khẩn Ngài, tức là ở gần mọi người có lòng thành thực cầu
khẩn, Ngài sẽ nghe tiếng kêu cầu của họ và giải cứu họ, vì Đức Chúa Trời bảo hộ kẻ yêu mến
Ngài.” (Thi thiên 145:18-20).
Vậy, đồng bào muốn được phước đời nầy và đời sau, muốn được cứu rỗi linh hồn, hãy
mau mau tin nhận Cứu Chúa Jesus làm Cứu Chúa duy nhất của mình, để tội được tha và linh hồn
được cứu. Còn trái lại, không chịu tin Chúa Jesus mà vẫn đi tìm đạo lý nầy, tôn giáo kia; thì
không thể nào được cứu như Kinh thánh đã nói: “Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở
dưới trời, chẳng có Đấng nào khác ban cho loài người, để chúng ta nhờ đó mà được cứu rỗi.” (Sứ
đồ 4:12). “Hễ ai tin Chúa Jesus thì được tha tội vì Danh Ngài.” (Công vụ các Sứ-đồ 10:43). “Chỉ
nhờ Ngài mà anh em được cứu. Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết
Ngài, được tha tội theo sự dư dật của ân điển Ngài.” (Êphêsô 1:7). “Hỡi anh em, tôi nhắc lại cho
anh em Tin Lành mà tôi đã rao giảng và anh em đã nhận lấy, cùng đứng vững vàng trong đạo ấy,
và nhờ đạo ấy, anh em được cứu rỗi, miễn là anh em giữ lấy y như tôi đã giảng cho; bằng không,
thì anh em dầu có tin cũng vô ích.” (I Cô rinh tô 15:1-2). “Cho nên hiện nay chẳng còn có sự
đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ.” (Rô ma 8:1).
Riêng về phần tôi là tác giả quyển sách nhỏ nầy, tôi muốn ôn lại những ơn phước của
Chúa trong thời quá khứ để rút kinh nghiệm dùng làm bài học cho hiện tại và tương lai, hầu khả
dĩ tiếp tục đóng góp ít nhiều cho công việc Chúa trên đường phục vụ Ngài nơi Hải ngoại. Chúng
tôi đã quyết định rằng, dầu giàu hay nghèo, dầu đau hay mạnh, dầu may mắn hay không, dầu
được quý trọng hay khinh thường, dầu khi giảng Tin lành có nhận được trợ cấp hay không,
chúng tôi quyết tâm tiếp tục nhiệm vụ hầu việc Chúa, mong đáp đền ơn muôn một với Chúa
Jesus, là Đấng ban ơn xuống phước không kể xiết trên chúng tôi, ấy là lo “rao truyền Tin lành,
không phải để đẹp lòng loài người, nhưng để được đẹp lòng Đức Chúa Trời” (I Têsalônica 2:4)


VÀI LỜI TÓM TẮC:

Chúng tôi muốn nói lên:
“ƠN THƯỢNG ĐẾ ĐÃ NHẬN LỜI CẦU NGUYỆN” như đầu đề quyển sách đã nêu ra.
Thử hỏi: Nếu không có Đức Chúa Trời yêu thương, nếu không có Đức Chúa Trời phù hộ, nếu
không có Đức Chúa Trời dẫn dắt người tin, nếu không có Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện,
thì mấy mươi năm qua Đấng nào đã cứu giúp chúng tôi qua những biến cố và hoàn cảnh đã kể
qua trong sách nầy? Há không phải Đức Chúa Trời hay sao? Phải! Dù quí vị có tin hay không thì
chúng tôi bao giờ cũng chỉ có một câu trả lời là: “Phải!” Chính Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng hay
ban ơn và nhậm lời cầu nguyện của con cái Ngài. Nhờ NIỀM TIN chắc chắn trong Chúa Jesus
nên lòng chúng tôi luôn vui vẻ và thường ngâm lên bài thơ mà tôi đã sáng tác để tạ ơn Thượng
đế, là Đấng đã nhậm lời cầu nguyện như dưới đây:


ÂN THƯỢNG ĐẾ

Ân Thượng đế đã nhậm lời cầu nguyện,
Ân ban từ Việt nam đến Cao miên,
Ân cứu sinh thật rộng lớn vô biên,
Nguyện cung hiến tấm lòng thành cho Chúa.
Rời đất Nam Vang lòng vui chan chứa!
Sang xứ người, đất Pháp Chúa dẫn đưa.
Biết bao nhiêu cơn thử thách nắng mưa!
Cùng gia quyến, Tou-lou đồng thẳng tiến.
Sống, thác, đói, no chẳng màng nguy biến!
Quyết dâng đời hầu việc Chúa Jesus.
Phú quí trời Tây, lòng quyết chối từ.
Dâng, Hồn, Linh, Thể lên cho Cha Thánh.
Lòng tự nguyện suốt đời dù ấm lạnh!
Đem đạo Trời gieo rắc khắp nơi nơi,
Giảng Tin lành, truyền Ân Sủng cứu đời,
Chờ hột giống, một ngày kia nẩy nở!
Các bạn đồng lao và anh chị em tín hữu thân mến! Chúng tôi tình nguyện hầu việc Chúa
ở nơi phương trời Tây xa xôi và lạnh lẽo nên chức vụ thêm phần khó khăn. Nhưng chúng tôi cố
gắng làm một vài công việc cho Chúa trước ngày Chúa chúng ta gần trở lại, mong góp phần với
các nhà truyền giáo ở khắp thế gian ít nhiều theo tài hèn sức mọn của chúng tôi hiến lên cho
Chúa.
Ước mong quí vị nào có dịp đọc qua quyển sách nhỏ nầy, xin ủng hộ chức vụ của chúng
tôi bằng sự cầu nguyện, để Chúa ban ơn nâng đỡ công cuộc truyền giáo Tin lành cho kiều bào tại
Pháp được sâu rộng, nhứt là đến những địa phương có đông kiều bào chúng ta trú ngụ. Xin thành
thật cám ơn.
Viết xong mùa Nô ên năm 1976, tại Toulouse.
Mục sư Nguyễn Duy Xuân
Tái bút: Hẹn sẽ tiếp tục viết thêm để hoàn thành xong quyển sách nhỏ làm chứng nầy
trong những năm còn hầu việc Chúa với hội thánh Toulouse, để kính dâng lên cho Chúa lòng
biết ơn và cảm tạ.


THÀNH LẬP HỘI THÁNH TOULOUSE.

Nhớ lại, trong 7 năm hoạt động hầu việc Chúa tại Toulouse (Pháp), thỉnh thoảng, chúng
tôi cũng có đi những vòng truyền giáo cho kiều bào tại Luân đôn, Paris, Lyon, Bordeaux,
Monperlier và Marseille. v.v… Công việc Chúa tuy không kết quả như sở nguyện, nhưng cũng
thâu lượm được ít nhiều thành quả. Thật cảm tạ ơn Chúa.
Đến tháng mười, năm 1976, Cụ Giào sĩ George Irwin đến Toulouse thăm hội thánh và đề
nghị chúng tôi hợp tác trở lại với Hội truyền giáo Phúc âm Liên hiệp. Chúng tôi nghĩ rằng: Sau
hơn 20 năm hợp tác với Hội truyền giáo Phúc âm thì nay trở lại cũng chẳng có gì trở ngại, nên
chúng tôi liền chấp nhận đề nghị ấy.
Nhận thấy hơn 7 năm qua, chúng tôi đã hợp tác với hội thánh Tin lành Tự do (Eglise
Évangélique Libre) tại Toulouse; hôm nay chúng tôi trở lại với Hội truyền giáo Phúc âm Liên
hiệp, thì lẽ tự nhiên chúng tôi phải lo lập Hội thánh riêng cho mình.
Sau khi chúng tôi trình bày mục đích quan trọng ấy cho Mục sư P. Tessier, thuộc
HTTLTD, thì Mục sư ấy rất vui lòng và tích cực ủng hộ, nên chúng tôi khởi sự nạp đơn tại Tòa
Đô chính để xin thành lập Hội thánh. Cám ơn Chúa, sau hơn 4 tháng nạp đơn, đến ngày 31 tháng
Giêng năm 1977, tờ Công Báo tại Toulouse đã đăng lên tên Hội mà chúng tôi đã xin: “Mission
Évangélique Vietnamienne en France” (Hội Truyền giáo Tin lành Việt nam tại Pháp).
Nhớ lại, mặc dù chưa có giấy phép chính thức, nhưng dưới sự bào trợ của Mục sư
P.Tessier, thuộc Hội Thánh Tin lành Tự do, nên chúng tôi cố gắng mướn một cái nhà, sửa lại để
làm nhà giảng và trụ sở cho Hội. Mọi việc xong, đến ngày 17-10-76 thì chúng tôi treo bảng lên
làm lễ khai hội. Trong ngày khai hội có sự hiện diện của Mục sư P. Tessier, Giáo sĩ George Irwin
và Mục sư Nguyễn Văn Bình, cùng khá đông các vị quan khách, nên buổi lễ khai hội được long
trọng, đáng qui vinh hiển Danh Chúa.
(* Ghi chú thêm của Mục sư Nguyễn Duy Tân: Hội Thánh Việt Nam tại Toulouse sau đó được
giao lại cho Giáo sĩ G. Irwin chăm sóc, và tiếp theo có một số tôi tớ Chúa, trong đó có Mục sư
Đặng Đức Tín, tiếp tục quản nhiệm. Tạ ơn Chúa, công việc Chúa vẫn tiếp tục tồn tại và phát
triển tại Toulouse cho đến ngày nay. Những hạt giống do Cố Mục sư Nguyễn Duy Xuân gieo ra
tại đó trong 7 năm đã tiếp tục sanh bông trái tốt đẹp cho Nhà Chúa. Thật như Lời Chúa nói:
“…Vì biết rằng, công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu.” - I Côrinhtô 15:17).


ĐƯỢC KÊU GỌI ĐẶC BIỆT SANG MỸ.

Cám ơn Chúa đã ban cho chúng tôi có cơ hội hợp tác với Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên
hiệp để truyền giáo được tốt đẹp. Nhưng chúng tôi chưa được thỏa lòng vì thấy kiều bào ở
Toulouse rất ít oi và khó tiếp xúc với họ để truyền giáo vì đời sống quá bận rộn của họ. Chúng
tôi lại nghe rằng bên Mỹ đồng bào đã qua đó rất đông sau năm 1975 nên ước nguyện xin Chúa
mở đường cho qua Mỹ để truyền giáo. Vả lại, công việc Chúa ở Toulouse lúc đó có thể giao lại
cho Giáo sĩ George Irwin đảm trách vì cụ giảng được bằng tiếng Việt rất thông thạo.
Chúng tôi đặt vấn đề cầu nguyện để xin qua Mỹ hầu việc Chúa. Nhưng sau khi tìm hiểu,
thì được biết là không phải dễ gì cho người Pháp sang được Mỹ quốc. Đầu vậy, chúng tôi cứ cầu
nguyện và tin rằng Chúa là Đấng toàn năng làm được mọi sự như Chúa phán cùng Ápraham
rằng: “Há có điều chi khó cho Giê hô va Đức Chúa Trời chăng?” (Sáng 18:14)
Đến tháng 7, năm 1977, tôi có cơ hội sang dự Hội đồng Giáo hạt Bắc Mỹ tại Los
Angeles. Tôi gặp cụ Mục sư Phạm Văn Năm cho biết cụ sắp đổi đi khỏi Hội Thánh Chicago mà
chưa có người thay thế, nếu tôi muốn qua đó hầu việc Chúa, thì gởi đơn cho Ban Chấp Hành
Giáo Hạt.
Sau 2 ngày cầu nguyện để biết ý Chúa. Tôi liền viết đơn đưa cho BCH GH để xin hầu
việc Chúa tại Mỹ. Ban Chấp hành Giáo hạt sẵn lòng chấp thuận và đồng thời cho tôi chứng thơ
để xin chiếu khán qua Mỹ.
Sau khi từ Hội đồng trở về Toulouse, Chúng tôi liền đến nạp đơn tại Tòa Đại sứ Mỹ ở
Bordeaux để xin qua Chicago truyền giáo. Cám ơn Chúa, sau 5 tháng thì giấy thông hành và
chiếu khán đươc cấp xong. Chúng tôi chuẩn bị và thu xếp hành trang cần yếu, còn nhà cửa thì
giao lại cho sở quản lý. Mọi việt xong xuôi, chúng tôi cùng với 2 con nhỏ tuổi nhất đáp xe lửa
lên Paris và tạm trú tại nhà người cháu vài ngày để chờ ít hôm lên máy bay đi Chicago. Đột
nhiên, có điện thoại từ Mỹ của Mục sư Trương Văn Tốt, Giáo hạt Trưởng, cho hay rằng vì Hội
Thánh Chicago và tư thất được Hội truyền Giáo sắp bán lại cho một Hội Thánh khác, nên yêu
cầu chúng tôi hoãn lại cuộc hành trình. Chúng tôi hơi bối rối và cảm thấy quá tiếc! Phải chi Mục
sư Giáo Hạt Trưởng gọi điện thoại sớm hơn vài ngày là chúng tôi đã ở lại Toulouse hầu việc
Chúa. Nhưng thực ra, ý Chúa muốn chúng tôi qua Mỹ hầu việc Chúa, nên hoàn cảnh nào xảy ra
đều là đúng thời điểm và theo ý thánh của Ngài. Chúng tôi không còn ngã nào thối lui lại
Toulouse nên cứ phó thác mọi việc và tương lai cho Chúa. Chúng tôi đến hãng máy bay điều
đình trả thêm tiền để đi đến Los Angeles. Mọi việc thu xếp xong, sáng ngày 5 tháng Tư năm
1978, chúng tôi và 2 con là: Quang và Tuyết Mai lên máy bay qua Los Angeles. Chúng tôi để lại
4 con lớn trên 21 tuổi đang làm việc tại Pháp, vì theo luật không thể đem theo được, nhưng
chúng tôi hy vọng khi qua tới Mỹ sẽ tìm cách đoàn tụ gia đình.
Cám ơn Chúa, đến 12 giờ khuya ngày 6 tháng Tư, thì máy bay đáp xuống phi trường
quốc tế Los Angeles cách an toàn. Có ông bà Mục sư Trương Văn Tốt, Giáo Hạt Trưởng, ông
Mục sư Samuel Ông Hiền, và một số anh em tín hữu ra phi trường đón rước rất nồng hậu và đưa
về nhà nghỉ ngơi.
Chúng tôi được Ông Bà Mục sư Hiền cho tạm trú tại nhà Ông Bà được vài tuần, kế đó
chúng tôi nhờ ơn Chúa chỉ dẫn mướn được một cái nhà và dọn đến nhà mới. Sau khi trú ngụ tại
đây được 4 tháng, chúng tôi được BCH GH đề ngị đến Miami mở Hội Thánh mới, nhưng đến
đầu năm 1978 mới có phụ cấp. Chúng tôi nhận thấy hoàn cảnh hiện tại rất khó khăn, ở lại Los
Angeles 5 tháng nữa cũng chẳng làm chi! Nên chúng tôi chấp nhận sự sắp đặt của Giáo hạt và
đến ngày 9 tháng 8 năm 1978 thì cả gia quyến lấy máy bay sang Miami để nhận chức vụ mới,
hầu việc Chúa tự túc. Khi đến Miami, có gia dình Ông Bà Hồ Phiên, một tín hữu trụ cột tại đây
ra Phi trường tiếp đón về tạm trú tại nhà ông bà ít ngày. Ông bà tiếp đãi chúng tôi rất nồng hậu,
lo cho chỗ nghỉ ngơi và ăn uống. Sau đó vài tuần, Chúa cho mướn được một cái nhà gần đó nên
chúng tôi dọn đến nhà mới, và mọi việc cũng tạm yên. Sau gần một tháng hoạt động thăm viếng
tín hữu và đồng bào để làm quen với môi trường xã hội mới tại đây, chúng tôi cũng bắt đầu quen
biết ít nhiều về tình hình dân trí và dân sinh trong khu vực. Nhận thấy căn nhà đang ở nằm trong
xóm không được an ninh, nên chúng tôi ước ao tìm mướn hoặc mua một căn nhà nơi khác được
an toàn hơn.


SỰ TIẾP TRỢ ĐÚNG LÚC

Biết rằng: đã trải qua gần 5 tháng bị thất nghiệp tại Mỹ, mà không có nhận được trợ cấp
từ một cơ quan nào, số tiền túi chúng tôi mang theo đã chi tiêu gần hết. Hôm nay lại đến Miami
hầu việc Chúa tình nguyện, anh em tín hữu thấu hiểu hoàn cảnh nên đề nghị và khuyến khích
chúng tôi đi tìm việc làm như các Mục sư khác ở Mỹ đã làm việc trong khi Hội Thánh chưa đủ
cung nhu.
Nghĩ rằng: Chúng tôi cả 2 đều đã gần 60 tuổi thì dễ gì kiếm được việc làm. Thực ra,
chúng tôi đã hầu việc Chúa hơn 30 năm, chẳng từng làm việc chi khác, nên chỉ muốn có đủ thì
giờ dể hầu việc Chúa mà thôi. Nay nghe người đề nghị tìm việc làm, thì lòng chúng tôi hơi chua
xót và ngỡ ngàng! Vả lại, đã lãnh nhiệm vụ mở Hội Thánh mới mà lại đi làm việc kiếm ăn, thì
công việc Hội Thánh biết ngày nào mới được phát triển? Nếu vậy, tốt hơn ở lại Pháp chớ qua đây
làm chi?
Nghĩ vậy, chúng tôi cầu nguyện đặc biệt, xin Chúa cho biết phải xoay sở bằng cách nào
trong hoàn cảnh nầy, để có cơ hội phục vụ Chúa và đồng bào. Đồng thời, chúng tôi báo tin cho
các con ở bên Pháp biết hoàn cảnh để cầu nguyện.
Sau một tháng cầu nguyện và tiếp tục lấy đức tin di hầu việc Chúa, chúng tôi tiêu phí gần
hết, đến đồng dollar cuối cùng. Nhớ lại buổi chiều kia, vợ tôi cho hay trong bốp chỉ còn có 2 đô
rưỡi mà thôi. Người đề nghị nên đi mượn một số tiền của tín hữu xài đỡ. Tôi khẳng định
“Không.” Đã là Mục sư, không nên mượn tiền của bất cứ ai, nhất là của tín đồ. Vả lại, Mục sư
mới mở Hội Thánh, anh em tín hữu chưa biết mình là người như thế nào, nay lại đi mượn tiền, sợ
bị họ đánh giá không đúng về mình.
Cám ơn Chúa, thật Chúa là Đức Giê hô Va Di rê (Đức Chúa Trời Sắm sẵn). Sự tiếp trợ
Ngài luôn đúng lúc. Chiều hôm sau, là ngày 15 tháng 9, năm 1978, chúng tôi nhận được thơ và
ngân phiếu của các con là Duy Tân và Ân Huệ ở Pháp gởi qua trợ giúp, và chúng nó hứa sẽ tiếp
tục gởi tiền qua mỗi tháng để chúng tôi có phương tiện hầu việc Chúa. Thật sự tiếp trợ của Chúa
rất diệu kỳ và đúng lúc. Hơn thế nữa, các con chúng tôi vì muốn qua Mỹ sinh sống nên tiếp tục
chuyễn ngân qua, nhờ đó chúng tôi khả dĩ tạm mượn để mua một căn nhà. Đúng như lời tác giả
Thi thiên đã nói: “Sư tử tơ bị thiếu kém, và đói; Nhưng người nào tìm cầu Đức Giê-hô-va sẽ
chẳng thiếu của tốt gì. Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va, Và nhờ cậy nơi Ngài,
thì Ngài sẽ làm thành việc ấy.” (Thi thiên 34:10; 37:5)


MUA CÁI NHÀ CHÚA ĐÃ SẮM SẴN

Chúng tôi bắt đầu cầu nguyện cho kế hoạch mua nhà, dĩ nhiên rất là khó có thể tìm được
căn nhà nào giá rẽ vừa với số tiền nhỏ của mình thi mới mua được. Cảm tạ ơn Chúa, sáng ngày
19/9/1978, tôi xách dù ra đi lang thang để tìm nhà. Khi ra sân, tôi còn nói với vợ tôi: “Hôm nay
chắc mua được nhà.” Thật đúng như vậy! Ngày hôm đó, tôi đi hết xóm nầy qua xóm khác, lúc
đến ngã tư kia, gặp một người Cuba đang sửa xe. Anh ta chào tôi: “Good morning!” Tôi chào lại
“Good morning!” Ông ta hỏi tôi: “Đi dạo chơi?” - “Tôi đi kiếm mua nhà” - “Đằng kia có căn nhà
bán rẻ lắm! Hãy lại mua đi.” Tôi còn phân vân chưa biết ở đâu? Ông ta lên xe cho máy nổ, và
chở tôi đến ngay căn nhà có để bảng bán và bảo tôi vào coi. Tôi không vào nhà mà chi biên số
điện thoại của sở địa ốc mà thôi. Khi trở về nhà, tôi liền gọi đến hỏi giá. Họ cho biết căn nhà đó
bán 23 ngàn đô. Chúng tôi còn lưỡng lự, thì chiều lại, sở địa ốc kêu cho biết giá đã nói lúc sáng
là giá cũ; bây giờ bà chủ nhà muốn bán gấp, chỉ đòi 13.500 đô thôi! Nghe giá quá rẻ, chúng tôi
yêu cầu cho vào xem nhà liền.
Đúng giờ hẹn, chúng tôi đến căn nhà và gặp nhân viên địa ốc cùng bà chủ nhà. Sau vài
phút nói chuyện để làm quen. Tôi tự giới thiệu là Mục sư ở từ bên Pháp qua đây để hầu việc
Chúa tại Hội Thánh Việt nam. Bà chủ nhà có thái độ nhã nhặn và vui vẻ. Chúng tôi yêu cầu bà
bớt cho 1.500 đô để trang trải sở phí sang bộ. Bà nhận lời ngay, thế thì giá căn nhà chỉ còn
12.000 đô. Bà còn hứa sẽ cho tất cả đồ đạc trong nhà như: Lò điện, tủ lạnh, bàn ghế, tủ, giường
và nhiều đồ lặt vặt; ngoại trừ cây đờn Piano và TV mà đứa cháu đã xin. Được biết Bà đã ở tại
căn nhà nầy hơn 30 năm, nên đồ đạc khá đầy đủ.
Sau đó, chúng tôi đến ngay Sở Địa ốc làm giấy tờ mua và trả tiền, cũng yêu cầu làm giấy
tờ mau lẹ để sớm dọn đến nhà mới. Cám ơn Chúa, sau 23 ngày, sở địa ốc đến giao cho chúng tôi
chìa khóa nhà. Thật là thời gian mau lẹ hiếm có. Chúng tôi liền dọn đến nhà mới, ngày 10 tháng
10 năm 1978. Nhà nầy có 2 phòng ngũ, lại có một phòng họp gia đình (Family room) mới cất
thêm khá rộng có cửa như một phòng ngủ nên khá tiện nghi cho gia quyến chúng tôi gồm có 4
người. Hơn nữa, đất phía sau cũng rộng và có các cây ăn trái như: cam, tắc, v.v… Vợ tôi lúc rảnh
rỗi có trồng thêm các loại rau thơm cũng tiện lợi và thoải mái! Khi bước chân vô nhà mới chúng
tôi tạ ơn Chúa đã dự bị cho căn nhà giá rẻ, vừa túi tiền hiện có, mà lại đầy đủ tiện nghi cho chúng
tôi ở để hầu việc Ngài. Đúng như Kinh thánh nói: “Áp-ra-ham gọi chỗ đó là Giê-hô-va Di-rê.
Bởi cớ ấy, ngày nay có tục ngữ rằng: Trên núi của Đức Giê-hô-va sẽ có sắm sẵn.” (Sáng. 22:14).


GIẤY BẢO LÃNH CON ĐƯỢC CHẤP TUẬN CHỈ TRONG VÒNG 15 PHÚT.

Nhớ lại, lúc còn ở Los Angeles, khoảng tháng 5, năm 1978, sau khi đã nhận được giấy
kiều ngụ chính thức, chúng tôi liền đến Sở Di Trú nạp đơn bảo lãnh cho 4 con chúng tôi còn kẹt
lại tại Pháp là: Duy Tân, Ân Huệ, Duy Khiêm và Duy Sang để được đoàn tụ gia đình. Nhưng sau
3 tháng nạp đơn, thì Sở Di Trú bác đơn. Nguyên do là tờ hôn thú mà chúng tôi lập tại Bến cát
năm 1945 đã bị thất lạc bởi chiến tranh, nên lúc chúng tôi còn ở Nam vang phải lập lại hôn thú
mới để đủ điều kiện mang các con qua Pháp. Nhưng đối với Mỹ, hôn thú mới lập lại sau ngày
sanh con thì không đúng điều kiện, mặc dầu lúc ở Pháp chúng tôi đã có ra tòa công nhận các con
mình cho hợp pháp.
Trước những sự kiện rắc rối của pháp luật Mỹ đầy khó khăn cho chúng tôi, nếu không
nói là đầy nước mắt, chúng tôi chỉ còn biết một điều là đem mọi sự ấy trình lên cho Chúa mà
thôi. Lúc ấy, Duy Tân, con trai chúng tôi, đã đính hôn với Thanh Thủy, thứ nữ của Bà Sauveur
Đoàn Mỹ Chưởng tại San Leandro; còn Ân Huệ, con gái chúng tôi cũng đã hứa gã cho cậu Minh
ở El Paso (Texas). Chúng đã viết thơ qua lại và thương nhau. Hôm nay không bảo lãnh được
chúng nó qua Mỹ thì cuộc hôn nhơn của chúng nó sẽ như thế nào? Với trách nhiệm của người
làm cha mẹ yêu thương con cái, mà phải đương đầu với một thực tại vượt quá khả năng, lòng
chúng tôi thật nặng nề và lo lắng. Nhưng cảm tạ ơn Chúa, sau khi chúng tôi đem những khó khăn
trình lên cho Chúa, thì Ngài nhắc cho chúng tôi câu Kinh thánh: “Hãy trao mọi điều lo lắng mình
cho Chúa, vì Ngài hay săn sóc anh em” (I Phiero 4:7), và “Há có điều chi Giê hô va Đức Chúa
Trời không làm được chăng?” (Sáng.18:4). Hơn nữa, chúng tôi nhớ lại thế nào Chúa đã lo liệu
cho mọi việc được chu toàn khi gặp những thủ tục giấy tờ khó khăn lúc mới tới Nam vang, cũng
như giấy bảo lãnh khi đi Pháp, nên chúng tôi lấy lại được lòng bình an và đặt lòng tin cậy hoàn
toàn nơi Chúa sắp đặt, cứ ngày đêm cầu nguyện trình lên cho Chúa.
Khi chúng tôi vừa đến Miami độ vài tuần thì gặp một người quen đang học trường luật.
Chúng tôi đem mọi việc khó khăn hỏi thăm, người đó hứa sẽ hỏi thăm Ông Thầy. Sau vài ngảy,
người trả lời rằng: “Việc đó rất khó vì ít có trường hợp nào như thế có thể xin được nếu đã có
một lần bị bác đơn.”
Tuy nghe biết vậy nhưng chúng tôi chưa thất vọng và trình việc ấy ra giữa Hội Thánh để
nhờ tín hữu cầu nguyện. Sau vài tuần cầu nguyện đặc biệt, chúng tôi được Chúa thúc giục đến sở
di trú tại Miami nạp đơn một lần nữa. Thật, ơn Chúa rất diệu kỳ! Khi nạp đơn, nhân viên thâu
đơn hỏi chúng tôi muôn gặp Giám đốc không? Chúng tôi hỏi có thể gặp được không? – “Được!
Nếu ông muốn gặp, hãy lên từng 14 thì được giải quyết mau lẹ.”
Chúng tôi hết sức vui mừng vì hy vọng sẽ có cơ hội giải bày những lý lẽ và sự kiện cách
trực tiếp với người có khả năng giải quyết. Đoạn, chúng tôi xin lấy hồ sơ trở lại và bước vào
thang máy lên tầng số 14, tìm phòng Giám đốc. Người thư ký tiếp kiến và thâu đơn. Chúng tôi
ngồi phòng đợi cầu xin Chúa cho hôm nay được ơn trước mặt ông Giám đốc. Cám ơn Chúa, việc
diễn ra hết sức lạ lùng dường như trong giấc mơ! Khi chúng tôi được mời vào văn phòng, thì
không phải gặp Ông Giám đốc mà một Bà Giám đốc. Bà có dáng người mảnh khảnh, hiền lành,
xinh đẹp và duyên dáng, tuổi độ mới gần 30, ăn nói vui vẻ và bặc thiệp. Sau khi xem xét các khai
sinh bằng Miên ngữ của các con chúng tôi, bà hỏi thăm người Cao miên đối xử với chúng tôi
như thế nào? Và các con ông làm sao thoát khỏi Cao miên? Như cảm thông hoàn cảnh, Bà lấy
viết ký tên vào hồ sơ và lấy mẫu giấy in sẵn gạch dưới 3 lần rồi giao cho chúng tôi và nói: “Mọi
sự đã xong.” Khi ông về thì gởi giấy nầy báo tin cho các con ông bên Pháp biết nội trong 16
ngày là hồ sơ sẽ tới Tòa Đại sứ Mỹ ở Paris để các con ông chuẩn bị.
Chúng tôi cầm giấy và tay như hơi run vì sự việc xảy ra rất mau lẹ, quá bất ngờ, không
thể đoán trước được. Thật cám ơn Chúa! Khi chúng tôi ra về miệng luôn cám ơn Chúa vì thấy
Chúa đã lo liệu sẵn mọi việc, nhưng vì đức tin yếu đuối của mình nên sanh ra lo lắng mà thôi;
chớ thật ra mọi sự trong đời sống của con cái Chúa đã nằm trong chương trình và kế hoạch mà
Ngài đã sắp đặt.
Về đến nhà, chúng tôi liền gởi giấy bào tin chấp nhận của bà Giám đốc cho các con
chúng tôi ở Pháp hay để chúng nó chuẩn bị mọi việc. Chỉ một tháng sau, chúng tôi nhận được
thơ các con báo tin rằng: Tòa Đại sứ Mỹ ở Paris đã kêu lên khám bịnh và thiết lập hồ sơ. Sau
một thời gian chờ đợi, mọi thủ tục đã xong xuôi, đến ngày 22/5/1979 ba con chúng tôi là: Tân,
Huệ và Sang đáp máy bay qua tới phi trường Miami. Chúng tôi đi đón rước các con mà lòng
không xiết kể nỗi vui mừng vì đã hơn một năm xa cách! Thật cám ơn Chúa đã nhậm lời cầu
nguyện, lo liệu cho chúng tôi được đoàn tụ gia đình, đúng thời gian để có thể sắp đặt cho các con
mọi việc được chu toàn.
Rồi 2 tháng sau, đến ngày 30/06/1979, là ngày hôn phối của Tân với Thủy được cử hành
trọng thể tại nhà thờ Neighborhood, Castro Valley (California). Sau đó 2 tháng, ngày 18/8/1979
lễ hôn phối cùa Huệ và Minh cũng được cử hành trọng thể tại nhà thờ Miami (Florida).
Thật, ơn Chúa thật diệu kỳ, vượt quá sự cầu xin hoặc suy tưởng của chúng tôi, như Đức
Chúa Jesus đã phán: “Các ngươi nhơn danh Ta mà cầu xin đều chi mặc dầu; Ta sẽ làm cho, để
Cha được sáng danh. Nếu các ngươi nhơn danh Ta xin điều chi, Ta sẽ làm cho” (Giăng 14:13-
14). Halelugia. Cám ơn Chúa.


THĂM VIẾNG VÀ LÀM CHỨNG 2 NĂM MỚI GIÚP ĐƯỢC MỘT GIA ĐÌNH
PHẬT TỬ TIN CHÚA

Đành rằng, chúng tôi đã hầu việc Chúa hơn 30 năm, nay dù chúng tôi có dẫn được vài
người tin Chúa, cũng chẳng có gì đáng phải nói. Nhưng đều đáng ghi nhận tại đây là vì thấy ơn
Chúa cho chúng tôi quá diệu kỳ! Vì tình thương của Chúa thật là cao, sâu, rộng lớn. Gia đình
Phật tử nầy là Ông bà Bùi Hữu Duệ, người Huế, từng thuộc hàng công chức cao cấp. (Nếu đúng
như lời Ông Giáo sĩ Thomas Stebbins đã nói: “Người Huế khó tin Chúa lắm” thì cũng có thể rất
đúng!)
Chúng tôi biết Ông Bà là những người Phật tử sùng đạo, vì trong nhà có bàn thờ và trên
bàn thờ có tượng Phật đúc khá lớn, hoa quả hiến dâng và nhan đèn cúng kiến suốt ngày. Nhà ông
bà ở cũng hơi khá xa nhà chúng tôi độ chừng 15 miles, nhưng vì tình thương của Chúa thúc giục
nên thỉnh thoảng chúng tôi đến thăm và làm chứng về tình yêu lớn lao của Ngài cho ông bà. Mặc
dầu là nhà Phật tử, nhưng ông bà lại rất chú tâm nghe đạo Chúa. Đôi khi đến ngày lễ, chúng tôi
mời ông bà đến nhà thờ, ông bà cũng nhận lời mời đến nhóm họp. Sự giao hảo giữa ông bà và
chúng tôi được diễn tiến tốt đẹp, nên chúng tôi được dạn dĩ cố gắng đến thăm và tiếp tục làm
chứng thêm về Chúa cho ông bà thường xuyên hơn trước.
Sự việc như vậy kéo dài hơn 2 năm thì trong một đêm kia, sau khi đã làm chứng về Chúa
cho ông bà, tôi nhận thấy ông bà có lòng sẵn sàng nên chúng tôi liền thúc giục ông bà hãy quyết
định tin nhận Chúa. Ông Bà lại được ơn Thánh Linh soi sáng, hiểu được tình yêu của Chúa nên
bằng lòng tin Chúa Jesus làm Cứu Chúa của mình. Sau khi chúng tôi nhơn Danh Đức Chúa Jesus
cầu nguyện và chỉ dạy ông bà cách cầu nguyện cùng Chúa, Ông Bà liền được đổi mới, vui vẻ và
dạn dĩ kêu điện thoại trong đêm đó báo tin cho bạn bè biết rằng mình đã tin Chúa và tượng Phật
đã trả lại cho Chùa. Thật như lời Kinh thánh nói: “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là
người được dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (I Côrinhtô 5:17)
Sau khi tin Chúa, mặc dầu Ông Duệ có bịnh tim khá nặng thường hay mệt mỏi và đôi khi
bị té xỉu, nhưng Ông Bà sốt sắng, vui vẻ nhóm họp thờ phượng Chúa tại nhà thờ mỗi ngày Chúa
nhật, ít khi nào vắng mặt. Và những đêm cầu nguyện tuần hoàn tối thứ Sáu, trong mỗi khu vực
thành phố có nhà tín hữu, Ông Bà cũng luôn đến nhóm đều đặn với anh em. Hơn thế nữa, Ông
Bà ham thích đọc Kinh thánh đến nổi bạn bè và người quen biết đều lấy làm ngạc nhiên! Rồi, sau
đó vài ba tháng, ông bà biết cầu nguyện trôi chảy như người đã tin Chúa lâu năm, khiến cho mỗi
tín hữu lấy làm lạ về Ông Bà và ngợi khen Chúa.
Hơn thế nữa, Ông Bà Duệ còn sốt sắng đem các con trở lại tin Chúa bằng cách mời
chúng tôi đến nhà làm chứng cho họ và chừng 3 tháng sau là trong gia quyến gồm có: Con gái, rể
và các cháu chừng 10 người trở lại tin Chúa. Sau đó, cả thảy đều chịu lễ Báp têm và sốt sắng hầu
việc Chúa.
Thật ơn Chúa thật diệu kỳ và quyền năng Chúa rất lớn lao, đã thay đổi được lòng người.
Chúa cũng có chữa bịnh cho tim ông được khỏe mạnh. Từ khi tin Chúa đến nay đã gần một năm,
bệnh tim của ông không còn tái phát. Halelugia! Cám ơn Chúa.


HẦU VIỆC CHÚA TẠI SANJOSE CÁCH BẤT NGỜ.

Chúng tôi hầu việc Chúa tại Hội Thánh Miami gần 3 năm. Chúng tôi tuy đã có tuổi,
nhưng lại hoạt động trong một môi trường quá rộng lớn. Nếu chỉ hoạt động tại thành phố Miami
mà thôi thì cũng quá lớn rộng, vì thành phố Miami cũng có cái tên là Great Miami (Miami vĩ
đại). Nhưng vì sự nhu cầu thăm viếng tín hữu và đồng bào nên chúng tôi phải hoạt động xuyên
qua các thành phố lân cận như: Hileah, Hollywood, Fort Lauderdale cho đến vùng South Bay,
rộng hơn cả trăm cây số. Công việc tuy không kết quả như ý muốn nhưng cũng gặt hái được một
số kết quả đáng kể. Cảm tạ ơn Chúa.
Nhận thấy ở đây thăm được một người Việt cũng phải đi quá xa mới tiếp xúc được với
họ, và nghe nói rằng ở tiểu bang California, đồng bào qui tụ đến nhiều vùng để sinh sống đông
đúc, nên chúng tôi ước nguyện xin Chúa cho có thể đổi về Cali để có dịp làm chứng về Chúa cho
đồng bào đang hư mất
Nghĩ như vậy, chúng tôi bèn đặt sự cầu nguyện trình lên cho Chúa. Sau thời gian cầu
nguyện để biết rõ ý Chúa, chúng tôi liền viết đơn cho BCH GH để xin dời đổi trong khóa 1981.
Trong khi chờ đợi, chúng tôi tự thu xếp việc gia đình; còn việc Hội Thánh, chúng tôi xin tín hữu
đề cử ra một Quyền Chủ tọa, tạm hướng dẫn Hội Thánh trong khi chờ sự sắp đặt của Giáo hạt.
Sau khi Ông Nguyễn Thạch Kính đắc cử Quyền Chủ tọa, chúng tôi bàn giao việc Hội
Thánh lại cho Ông. Đoạn, chúng tôi chuẩn bị hành trình xa xôi để đến Cali, đường dài hơn 3.500
dậm. Mặc dầu lúc bấy giờ chúng tôi chưa nhận được văn thơ chính thức nào của Giáo hạt, chỉ có
nói chuyện qua điện thoại vài lần với Mục sư Giáo hạt Trưởng, chúng tôi đã dự định sáng ngày
22/8/1981 thì sẽ khởi hành bằng 3 chiếc xe nhà (gồm 1 xe van và 2 xe nhỏ).
Thì bất ngờ, trưa ngày 18/8/1981, chúng tôi nhận được thơ của Ban Chấp Hành Hội
Thánh San Jose thay mặt cho Hội Thánh mời chúng tôi đến hầu việc Chúa với Hội Thánh. Sau
một vài ngày cầu nguyện để biết ý Chúa, chúng tôi liền trả lời chính thức với Hội Thánh San
Jose rằng: “Chúng tôi sẵn sàng đến hầu việc Chúa với Hội Thánh, và theo dự định sẽ đến nhóm
thờ phượng Chúa với Hội Thánh trong buổi nhóm Chúa nhật đầu tiên vào ngày 3/9/1981.


THOÁT HỐ SÂU NHỜ XE ĐÂM ĐẦU XUỐNG HỐ CẠN

Chúng tôi ra đi đúng như chương trình đã định, nên sáng ngày 22/8/1981, lúc 5 giờ sáng
thì 3 xe chúng tôi bắt đầu di chuyển trực chỉ về hướng Bắc. Chiếc xe Van của chúng tôi đã chở
đồ nặng, lại còn kéo theo chiếc xe Pinto nhỏ phía sau, và còn chở thêm 5 người lớn và 2 trẻ em
nửa! Vì lúc ra đi có một gia quyến con cái Chúa là Ông bà Bác sĩ Nguyễn Văn Tấn xin quá giang
qua Houston để tìm việc làm. Thông cảm cho hoàn cảnh của con cái Chúa vừa mới tới đất Mỹ,
nên chúng tôi vui lòng cho đi với chúng tôi trên xe Van, mặc dầu xe rất chật và chở đồ nặng.
Đoàn xe lăn bánh gần suốt buổi sáng được an toàn thì thình lình có người đề nghị ghé
Rest Area (chổ có phòng vệ sinh). “Rest Area kìa!” Tôi quẹo xe vào theo bảng chỉ dẫn. Rest
Area nầy rất kỳ lạ, thường thường thì Rest Area nằm gần bên lộ. Còn chổ nầy thì lại phải leo lên
dốc rồi lại chạy xuống mà chưa thấy Rest Area ở đâu? Rồi xe chạy lên dốc lần nữa, tôi chạy hơi
mau, thình lình thấy cua quẹo hơi gắt, tôi đạp thắng, xe bị trợt bánh trước quá mạnh! Tiếng xe
trợt từ ngoài đường tạt vô phía lề bên trái, nghe ào ào và răn rắc, xe lắc lư, tưng lên sụp xuống
trên bờ lề cách khủng khiếp, và cuối cùng đâm xuống một hố cạn bên đường và sẵn trớn còn leo
lên đồi, đầu xe ngóc lên bên sườn đồi.
Sau khi trải qua những giây phút khủng khiếp, đã lấy lại bình tĩnh, chúng tôi kiểm lại mọi
người trên xe, không thấy ai bị thương tích chi nặng, chỉ trầy một vài chổ không đáng kể. Ai nấy
đều cảm tạ ơn Chúa có gìn giữ mỗi người được an toàn. Coi lại xe thì cũng chẳng thấy hư hại
chi; ngoại trừ bánh xe sau hơi xẹp và vành xe hơi méo. Nghĩ lại tôi biết rằng Chúa đã chọn chỗ
nầy để dạy tôi một bài học kinh nghiệm lái xe để sau đó sẽ lái cẩn thận hơn, vì đường còn quá xa
và đầy nguy hiểm, còn nhiều đồi núi cao hơn 5000 feet phải đi qua. Nên tôi cảm biết Chúa cho
phép xe bị trợt tại đây là chổ đường nhựa bóng láng và lúc sáng sớm đường còn bị sương ướt nên
bị trợt khi xuống dốc.
Chúng tôi mất vài giờ mệt nhọc tháo gở xe Pinto và thay bánh. Lúc xong việc, chúng tôi
nhìn phía trước chừng vài chục thước, thấy có một cây cầu ngắn, hai bên là hố sâu, đá lởm chởm
thấy rợn người; nếu rủi xe bị đâm dầu xuống đó, chắc là không ai được an toàn tánh mạng; và hai
chiếc xe cũng bị hủy bỏ hoàn toàn. Thật cảm tạ ơn Chúa đã ban đạo binh Thiên sứ của Ngài để
bảo vệ chúng tôi được an toàn, và xe cộ cũng chẳng hư hao nên có thể tiếp tục cuộc hành trình.
Cảm tạ ơn Chúa. Đã qua được cơn nguy hiểm tôi học được bài học phải lái xe cẩn thận hơn, nên
đoàn xe từ đây bắt đầu đi chậm lại và tôi phải lái xe Van suốt đoạn đường còn lại mấy ngàn
miles nữa; chớ không dám thay phiên lái xe như đã định trước, vì tôi nghĩ rằng: Tôi đã học được
một bài học, còn con tôi thì chưa. Nếu vì một chút lơ đểnh là rủi ro nguy hiểm!
Cám ơn Chúa, đoàn xe đến Houston (Texas) được an toàn. Chúng tôi nghỉ đêm tại nhà
ông bà Mục sư Nguyễn Hữu Ninh. Ông bà Bác sĩ Tấn mang đồ xuống xe; xe nhẹ đi phần nào.
Đoạn, chúng tôi tiếp tục đến El Paso, thăm con gái Ân Huệ và rể là Nguyễn Tấn Minh. Đã xa
cách gần 2 năm, nay gặp lại con lòng hết sức vui mừng! Chúng tôi ở lại vài ngày với con, kế đó,
chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình thẳng đến Los Angeles, rồi cuối cùng, đến ngày 2/9/1981 thì
tới San Jose. Chúng tôi tạm trú vài ngày nơi nhà của ông bà Thủ quỹ Hội Thánh, ông bà ân cần
tiếp đãi chúng tôi nồng hậu, lo chỗ nghỉ ngơi tiện nghi và ăn uống.
Sau vài ngày nghỉ ngơi, chúng tôi cảm thấy khỏe trờ lại. Kế đó ông Thư ký Hội Thánh
đến thăm chúng tôi và mua báo để giúp tìm mướn nhà. Cám ơn Chúa, Ngài đã dự bị sẵn một cái
nhà 3 phòng tại số 1034 Spencer Ave, San Jose. Chúng tôi đến gặp chủ nhà xin mướn. Ông rất
vui vẻ nhận lời và nói: “Nhiều người hỏi mướn mà tôi chưa cho; nay để dành cho ông đó!” Sau
nữa tiếng đồng hồ thì làm xong giao kèo. Chiều lại, chúng tôi dọn đến nhà mới ở được bình an
và thoải mái!
Biết rằng: Nhà nầy ở gần trung tâm thành phố, nơi rất tiện lợi, để chúng tôi đi thăm tín
hữu và đồng bào trong 7 thành phố: San Jose, Santa Clara, Sunyvale, Mountain View, Milpitas,
Los Altos và Los Gatos. Thật cảm tạ ơn Chúa đã dự bị cho căn nhà rất thuận tiện và lại chỗ có an
ninh. Halelugia! Ngợi khen Chúa.
Thỉnh thoảng, chúng tôi ngồi ngẫm nghĩ lại cuộc hành trình đã qua, càng thêm nức lòng
ngợi khen Chúa về sự dẫn dắt và bảo hộ của Ngài rất diệu kỳ như Kinh thánh đã nói: “Nầy, Ta ở
cùng ngươi, ngươi đi đâu, Ta sẽ theo gìn giữ đó; vì Ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi Ta
làm xong những đều Ta đã hứa cùng ngươi.” (Sáng 38:15)


BA THÁNG TRUYỀN GIÁO TẠI SAN JOSE BẰNG BA NĂM Ở MIAMI

Nhớ lại lúc còn ở Miami, tôi cầu xin Chúa cho tôi khi về California nếu đẹp ý Chúa, thì
còn 5 năm hầu việc Chúa trước khi tôi về hưu, xin Chúa cho chúng tôi dẫn đưa được nhiều linh
hồn về với Chúa.
Cám ơn Chúa, sau khi nhận lãnh nhiệm vụ tại San Jose ngày 3 tháng 9, 1981, chúng tôi
dùng vài tuần lo những việc cần thiết trong gia đình, đoạn, chúng tôi khởi sự thăm viếng tín hữu
và đồng bào. Cám ơn Chúa, ơn Chúa rất diệu kỳ! Trong 3 tháng, chúng tôi lao mình vào việc đi
truyền giáo suốt ngày đêm để làm quen với tín hữu và đồng bào. Kết quả dường như vượt quá trí
tưởng tượng của chúng tôi: Có 75 người tin nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa riêng của mình.
Trong số đó, có một số người thỉnh thoảng có đến nhóm lại thờ phượng Chúa, còn một số khác
chúng tôi phải thường xuyên thăm viếng để giúp đỡ họ.
Thật ơn Chúa rất diệu kỳ! Nếu so sánh 3 tháng truyền giáo tại San Jose thì kết quả bằng 3
năm làm việc tại Miami. Halelugia! Ngợi khen ơn Chúa! Nhưng ma quỉ cũng ganh ghét nổi lên
gầm thét dữ dội để làm cho chúng tôi ngã lòng đừng đi làm chứng đạo nữa.
Nhưng nhờ ơn Chúa, chúng tôi thắng được lời gièm pha, và cứ giữ vững việc truyền giáo
cho đồng bào. Cảm tạ ơn Chúa!
Viết xong mùa Nô ên năm 1981 tại San Jose
Mục sư Nguyễn Duy Xuân
Tái bút: Hẹn sẽ tiếp tục viết thêm để hoàn thành xong quyển sách nhỏ làm chứng nầy,
sau những năm hầu việc Chúa với Hội Thánh San Jose, để kính dâng lên cho Cứu Chúa lòng biết
ơn và cảm tạ.


TIỂU SỬ HẦU VIỆC CHÚA CỦA MỤC SƯ VÀ BÀ NGUYỄN DUY XUÂN


Phần 1: Những năm học ở trưởng Kinh thánh Đà Nẵng:
MS Nguyễn Duy Xuân học khóa 1943-44 và khóa 1944-45. Tốt nghiệp 1949-50
Bà Nguyễn Duy Xuân học khóa 1942-43 và khóa 1949-50 cũng ở Đà Nẵng.

Phần 2: Hầu việc Chúa ở Nam phần Việt Nam:
Tại 2 Hội Thánh ở Cần Giuộc và Long Thành: từ tháng 2/1949 – 7/1950.
Tại Hội Thánh Long Thành: 7/1950 - 3/1955.
Tại Hội Thánh Bình Hòa Phước: 4/1955 – 9/1956

Phần 3: Hầu việc Chúa tại Hội Thánh Việt kiều ở Nam vang (Cao miên)
Từ 10/1956 – 8/1970.

Phần 4: hầu việc Chúa ở Toulouse (Pháp Quốc)
Tại Hội Thánh Tin lành Tự do (Eglise Evangélique Libre) từ 8/1970 – 8/1972.
Mở Hội Thánh Việt kiều tại Toulouse: từ 8/1972 – 1978

Phần 5: Hầu việc Chúa ở Mỹ Quốc.
Mở Hội Thánh mới ở Miami (Florida): Ngày 9/8/1978 – 8/1981.
Hầu việc Chúa tại Hội Thánh San Jose: 8/1981- 11/1983.
Mở Hội Thánh mới Moorpark, San Jose, ngày 16/10/83.
Đến nay, ngày 2/tháng 3/1985 (Ngày viết tiểu sử nầy), chúng tôi vẫn ước ao tiếp tục hầu
việc Chúa cho đến trọn đời nếu Chúa cho phép.
Xin quý bạn đồng lao và tín hữu vui lòng cầu nguyện cho chức vụ của chúng tôi, để được
Chúa sắp đặt theo ý Ngài. Cám ơn.
Mục sư và Bà Nguyễn Duy Xuân

HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM MOORPARK (SAN JOSE) CALIFORNIA.
Hội Thánh Tin lành Moorpark* được thành lập trong một hoàn cảnh cũng khá đặc biệt!
Vì trước khi tôi (Mục sư Nguyễn Duy Xuân) mãn nhiệm kỳ tại Hội Thánh San Jose vào tháng
11/1983 thì một số tín hữu có cảm tình đề nghị xin tôi đứng ra thành lập Hội Thánh mới, để anh
chị em có cơ hội hợp tác hầu việc Chúa. Hơn nữa, vì đồng bào đã định cư tại San Jose quá đông
nên rất cần có thêm Hội Thánh mới để Truyền giáo.
Vì lý do ấy, nên ngày 1/tháng 10/1983, chúng tôi nhờ ơn Chúa chỉ dẫn tìm được nhà thờ
tại số 1710, Moorpark Ave. San Jose (cách nhà thờ San Jose độ 3 miles). Nhà thờ nầy khá đẹp và
rộng lớn, có thể chứa được hơn 400 người và vị trí rất lý tưởng vì gần bên trường Đại học Cộng
đồng.
Cảm tạ ơn Chúa, mọi kế hoạch được diễn tiến tốt đẹp, nên đến ngày 16/10/83 thì làm lễ
khai hội. Hiện diện trong buổi lễ có Mục sư Nguyễn Hữu Tươi, đại diện cho Giáo hạt và hơn 140
tín hữu trong Hội Thánh San Jose đến tham dự. Sau đó, có chừng 70 tín hữu xin gia nhập Hội
Thánh Moorpark và thường xuyên nhóm lại (trong số nầy hơn 2 phần 3 là thanh niên).
Rồi đến nay, ngày 1/tháng 3/1985, sau hơn 1 năm, thì số tín hữu mới tăng lên lần lần hơn
200 người. Trung bình nhóm mỗi tuần độ 100 người lớn nhỏ.
Về phần tài chánh của Hội Thánh trong năm 1984 như sau: Ngân quỹ tự trị thu được
75.702 đô, quỹ bất thường thu được hơn 300 đô.
Hội Thánh phát triển một phần nhờ có 3 lần giảng bồi linh trong năm 1984.Ngoài ra, Hội
Thánh cũng còn tổ chức thêm được các buổi giảng đặc biệt như: Tết Việt nam, Phục sinh, lễ
Hiền phụ, Hiền mẫu, lễ Tạ ơn, Giáng Sinh, v.v…
Lại nữa, Hội Thánh cũng đã tổ chức được 3 lớp học Thánh kinh tư gia, đặt được máy
Điện thoại Phúc âm, phát hành mỗi tháng độ 2.000 tờ “Tin mừng” để biếu không cho đồng bào
trong vùng.
Mặc dù là Hội Thánh mới, nhưng Hội Thánh cũng đã tổ chức đầy đủ các ban nghành
như: Ban chấp hành, Ban Thanh niên, Ban Cơ đốc Giáo dục, Ban Chứng đạo, Ban Nam giới,
Ban Nữ giới, Ban Âm nhạc, Ban hát thờ phượng, Ban Tiếp tân, và sau hết là Ban Ẩm thực (Ban
nầy hầu như đã cung cấp đồ ăn cho tín hữu trong mỗi chiều Chúa nhật, suốt năm 1984).
Xin quý tôi tớ Chúa và tín hữu vui lòng nhớ đến Hội Thánh Moorpark và chức vụ chúng
tôi mà cầu nguyện nhiều hơn cho, để trong trương lai được phát triển thêm nữa, hầu đem sự vinh
hiển về cho Cứu Chúa Jesus. Xin thành thật cám ơn.
Mục sư Nguyễn Duy Xuân
* Lời ghi chú thêm của Mục sư Nguyễn Duy Tân: Hội Thánh Tin Lành Moorpark sau đó
được dời đến một nơi khác ở địa điểm 1980 đường Hamilton, cũng ở San Jose nên Hội thánh
được đổi tên là Hội Thánh San Jose 2. Cố Mục sư Nguyễn Duy Xuân đã tiếp tục hầu việc Chúa
và gầy dựng Hội Thánh cho đến lúc qua đời. Chúa tiếp tục ban ơn nên hội thánh cứ phát triển tốt
đẹp. Vào khoảng tháng 3 năm 1987, Mục sư vẫn đang hầu việc Chúa cách đắc lực như thường lệ,
chỉ cảm thấy hơi bị hụt hơi khi bồng ẵm và chơi với đứa cháu ngoại nên đến gặp Bác sĩ. Sau khi
xét nghiệm và chụp hình MRI, Bác sĩ cho biết là Mục sư đã bị chứng ung thư nội tạng vào thời
kỳ cuối, đã lan ra từ bao tử đến gan và ruột, không có cách nào để chữa trị và chỉ có thể sống
được nhiều lắm là 3 tháng nữa.
Điều đáng tạ ơn Chúa, là Mục sư không cảm thấy một chút nào đau đớn, cũng vì vậy mà khi phát
hiện thì đã quá trể. Các bác sĩ dùng tay ấn vào bụng mà không có chổ nào Mục sư cảm thấy đau.
Bác sĩ nói thật là một phép lạ, chưa thấy ai bị ung thư nặng như vậy mà không biết đau đớn! Khi
nằm bệnh viện, Mục sư có nói với chúng tôi rằng: “Xin cầu nguyện nếu đẹp ý Chúa thì cho Ba
được lành bệnh, nếu không thì cho ba qua đời vào Chúa nhật Phục sinh.” Quả thật như lòng ao
ước, chỉ 3 tuần sau, Mục sư đã nhẹ nhàng qua đời vào trưa Chúa nhật Phục sinh 19 tháng Tư
năm 1987.
Sau khi Mục sư qua đời Hội thánh San Jose 2 vẫn tiếp tục được Chúa ban phước và phát triển
nhờ quý Mục sư Phạm Quang Trực, Trương Văn Sáng, Trương Văn Được, Phạm Hùng,… chăm
sóc. Gần đây, Hội thánh đã dời về thành phố Milpitas vì đã mua được một cơ sở rộng rãi và tốt
đẹp và tiếp tục được Chúa ban phước, nên đã trở thành hội thánh lớn nhất trong Vùng Bắc Cali.
Rất nhiều tín hữu được chính Ông bà Mục sư giúp tin nhận Chúa vẫn còn sinh hoạt đắc lực với
Hội thánh.

CHƯƠNG TRÌNH
LỄ AN TÁNG
Cố Mục sư Nguyễn Duy Xuân
Tại Santa Clara Funeral Home
1000 Scott Blvd, Santa Clara, California
11 giờ ngày 21-4-87
Chủ lễ: Mục sư Trương Văn Sáng
TẠI PHÒNG HÀNH LỄ
1. NHẠC MỞ ĐẦU
2. THÁNH CA “Miền Vinh Hiển” Hội chúng
3. CẦU NGUYỆN KHAI LỄ MS. Samuel Ông Hiền
4. ĐỌC KINH THÁNH (Thi 90:1; I co6r 15:20-26,50-57)
5. BIỆT CA “Kiếp Cỏ Hoa”
6. TIỂU SỬ CỐ MỤC SƯ NGUYỄN DUY XUÂN
7. LỜI AN ỦI VÀ KHÍCH LỆ, MS. Trương Văn Sáng
8. CẦU NGUYỆN
9. BIỆT CA “Giờ Đây Tôi Quyết Đi…” (Bài Cố Mục Sư Ưa Thích)
10. LỜI PHÂN ƯU Đại Diện Các HT
11. THƯ TỪ, ĐIỆN TÍN, PHÂN ƯU Thư Ký HT
12. LỜI CÁM ƠN Đại Diện Tang Gia
13. CẦU NGUYỆN CHUNG Hội Chúng
14. CHÚC PHƯỚC
NGOÀI MỘ ĐỊA
1. Thánh Ca “Thiên Cung, Chính Quê Hương” Hội Chúng
2. NGHI THỨC LỄ Mục sư Chủ Lễ
3. CẦU NGUYỆN
4. CHÚC PHƯỚC
LỄ CHUNG
---------------------------------
TIỂU SỬ
MỤC SƯ NGUYỄN DUY XUÂN (1921-1987)
Mục sư NGUYỄN DUY XUÂN được sanh ra vào ngày 6 tháng 6, 1921 tại làng Mỹ
Ngải, quận Cao Lãnh, Nam phần Việt Nam, là con của ông Nguyễn Văn Bộ và bà Hồ Thị
Nguyệt, trong một gia đình điền chủ.
Được lớn lên trong một gia đình đạo Phật với nhiều ảnh hưởng của Nho giáo ông học
được lòng kính sợ Đức Chúa Trời từ nơi sự dạy dổ của cha mẹ. Vào năm 12 tuổi ông đã hăng hái
theo Chú mình đến nhà thờ Tin lành học Kinh thánh và cầu nguyện. Từ đó đức tin ông tiếp tục
lớn lên nhờ thấy Chúa có nhiều lần giải cứu ông khỏi những cơn nguy hiểm.
Năm 17 tuổi cha mẹ ông tin nhận Chúa và ông được thường xuyên đến nhà thờ để thờ
phượng Chúa. Lúc được 19 tuổi trong một cơn nguy khốn cùng cực, ông đã hứa nguyện với
Chúa rằng nếu Ngài giải cứu khỏi cảnh hoạn nạn thì ông sẽ dâng mình hầu việc Chúa trọn đời.
Thật Chúa đã che chở và cho ông thoát nạn rất diệu kỳ. Từ đó ông được đầy ơn Chúa và dạn dĩ
làm chứng về Chúa. Ông được bầu làm Trưởng ban thanh niên, giảng viên Trường Chúa nhật và
chấp sự Hội Thánh.
Năm 22 tuổi ông gởi đơn xin nhập học tại trường Kinh thánh Đà Nẵng. Chúa đã giúp ông
vượt qua rất nhiều khó khăn và cuối cùng ông được nhận vào học niên khóa năm 1943-44. Rồi
đến niên khóa 44-45 ông lại gặp nhiều khó khăn khác nữa, nhưng cảm tạ ơn Chúa Ngài đã giải
quyết hết thảy theo sự tiếp trợ rất diệu kỳ của Ngài, nên ông lại được ra Đà Nẵng tiếp tục việc
học.
Sau khi bãi trường, nhờ Chúa hướng dẫn ông đã lập gia đình với bà và cả 2 đã đồng lòng
hiệp ý với nhau lo truyền giảng đạo cứu rổi của Đức Chúa Trời cho đồng bào, dù trải qua nhiều
khó khăn vì thời cuộc. Ông đã tự túc hầu việc Chúa tại Bến cát, Thủ đức và Cần giuộc. Năm
1949 ông lại trở vào trường Kinh thánh Đà Nẵng để tiếp tục học và tốt nghiệp vào mùa hè năm
1950.
Từ đó, suốt gần 40 năm, Chúa đã dùng ông trong công trường thuộc linh của Ngài ở
nhiều Hội Thánh tại Việt nam, Cao miên, Pháp, Hoa kỳ. Tại Việt nam ông đã hầu việc Chúa ở
Long thành (1950-55), Hội Thánh Hòa ninh (1955-56). Sau đó tiếp tục tại Hội Thánh Nam vang,
Cam bốt (1956-70). Tiếp đến ông và gia đình sang Pháp và thành lập Hội Thánh Toulouse và
hầu việc Chúa tại đó cho đến năm 1978. Cuối cùng, ông đã được Chúa cho phép sang Hoa kỳ và
tiếp tục hầu việc Chúa tại Hội Thánh Miami (1978-81) và 2 Hội Thánh ở San Jose (1981-87).
Trên phương diện một tôi tớ Chúa, Mục sư Nguyễn DuyXuân đã nhờ đức tin vượt qua
nhiều khó khăn thử thách, tận tụy hầu việc Chúa đến những ngày cuối cùng của đời mình cách
trung thành và hăng say, giúp cho đức tin nhiều người được tăng trưởng và nhiều người được
cứu rỗi linh hồn.
Nhiều lúc vì yêu thương con cái Chúa, Mục sư đã đạp xe đạp suốt ngày hàng chục cây số
để thăm viếng tín đồ. Dù có lúc bụng đói mệt nhòa nhưng ông không dám ở lại dùng cơm tối vì
thấy tín đồ quá nghèo cực. Mục sư luôn luôn sẵn sàng đưa đón, thăm viếng, giúp đỡ con cái
Chúa bất cứ giờ nào, dù lạnh lẻo hoặc gió mưa.
Trên phương diện là một người cha, Mục sư đã có công dạy dổ con cái theo lẽ thật của
Chúa để mỗi người đều được lớn lên và đứng vững trong niềm tin Cơ đốc. Ông đã hy sinh từng
manh áo miếng ăn để giúp cho con cái có cơ hội đến trường học hành đổ đạt và nên danh phận
với người.
Trên phương diện là chủ gia đình, ông yêu thương đùm bọc và chăm sóc vợ con cách chu
đáo khiến cho bầu không khí gia đình luôn luôn ấm cúng và tràn đầy phước hạnh.
Trước sự luyến tiếc của mọi người Mục sư đã được Chúa cho trở về an nghĩ nơi Nước
Ngài hôm Chúa Nhật Phục Sinh này 19 tháng 4 năm 1987, lúc 1 giờ trưa. Mục sư được hưởng
thọ 66 tuổi với hơn 40 năm tận tụy hầu việc Chúa.
Mục sư đã ra đi trong sự luyến tiếc bùi ngùi của gia đình với muôn vàn thương nhớ.
Mục sư ra đi như một hạt giống phải tan rả đi mới mang lại bao nhiêu bông trái khác.
Hy vọng rồi đây sẽ có nhiều người đứng lên nối gót theo gương Mục sư trên con đường
phục vụ Chúa.
TIỂU SỬ NGẮN - MỤC SƯ NGUYỄN DUY XUÂN
Sanh: năm 1921, Làng Mỹ Ngãi, quận Cao Lãnh, Nam phần Việt Nam
1943-45: Học thần đạo tại trường Kinh thánh Đà Nẵng
1945-49: Truyền giáo tự túc tại các Hội Thánh: Bến cát, Thủ Đức và Cần Giuộc.
1949-50: Học thần đạo tại trường Kinh thánh Đà Nẳng
1950: tốt nghiệp
1950-55: Chủ tọa Hội Thánh Long Thành
1955-56: Chủ Tọa Hội Thánh Hòa Ninh
1956-70: Chủ Tọa Hội Thánh Nam Vang, Cam Bốt.
1970-78: Chủ Tọa Hội Thánh Toulouse, Pháp
1978-81: Chủ Tọa Hội Thánh Miami, Florida, Hoa Kỳ
1981-87: Chủ Tọa Hội Thánh San Jose 1 và San Jose 2
Ngày 19 tháng 4 năm 1987: Về an nghỉ nơi nước Chúa vào Chúa Nhật Phục Sinh, lúc 1 giờ trưa.
Mục sư để lại vợ là Bà Phan Thị Hợi, cùng 6 người con, tất cả đều hầu việc Chúa qua nhiều hình thức và
phương tiện khác nhau:
Nguyễn Duy Tân
Nguyễn thị Ân Huệ
Nguyễn Duy Khiêm
Nguyễn Duy Quang
Nguyễn Duy Sang
Nguyễn T. Tuyết Mai
Các cháu:
Andrew Nguyễn và David Nguyễn
Daniel Nguyễn
(3 Cháu trai, con của Khiêm)
Peter Nguyen
Jimmy Phạm
Thơ: CÔNG ƠN THÂN PHỤ
Công cha như núi Thái sơn,
Như trời lồng lộng, như cơn mưa chiều.
Cuộc đời vất vả bao nhiêu,
Chỉ vì yêu mến nâng dìu đàn con.
Ôi tình thân phụ sắc son,
Dù cho sông cạn núi mòn không phai.
Ơn sâu nguyện khắc ghi hoài,
Trọn đời cố gắng để hài lòng cha.
Nhớ khi lầm lỗi được tha
Đôi mắt người thật thiết tha nhân từ
Những khi tánh xấu tật hư,
Cái roi nghiêm khắc chẳng từ lời than.
Vì mong con được khôn ngoan,
Người thường răn dạy muôn ngàn điều hay,
Mỗi khi chân ngã thân trầy,
Tay người chăm sóc, lòng đầy xót thương.
Hy sinh thật quá vô lường,
Trọn đời thiếu thốn nhịn nhường vì con.
Nhịn từng tấm áo miếng ngon,
Mong con ăn học nên khôn với người.
Công cha ôi quá cao vời!
Ơn cha thật chẳng đủ lời nói đâu.
Cầu cho cha được sống lâu,
Cho con cơ hội ơn sâu đáp đền.
Giờ đây ý Chúa được nên,
Cha lìa cõi tạm, về bên kia bờ.
Lòng con se thắt bơ vơ,
Còn đâu cơ hội phụng thờ cha yêu.
Lòng xin khấn hứa một điều,
Gắng lo việc Chúa sớm chiều khôn nguôi.

Mục sư Bác sĩ Nguyễn Duy Tân  





† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 23-1-2018 06:25 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách