† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2379|Trả lời: 0

Dâng Trọn - NÓI CHUYỆN SUÔNG hay CẢM THÔNG NHAU?

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 10-10-2011 08:24:00 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Dâng Trọn Cuộc Đời
Tác giả: Michael Griffiths

NÓI CHUYỆN SUÔNG hay CẢM THÔNG NHAU?

Xin nhận lấy giọng tôi , cho tôi
luôn luôn , và chỉ hát về Vua tôi mà thôi
Xin nhận lấy môi miệng tôi và khiến chúng
Đầy dẫy những sứ điệp từ Ngài
Một trong những khía cạnh rất cảm động và đáng cho chúng ta suy gẫm về đời sống của Helen Keller là việc bà có thể đem đến những phước hạnh, những đặc ân mới mẻ trong việc cảm thông với những người khác. Không nói, không nghe, không hiểu được người khác muốn nói gì, cũng không bày tỏ được những gì mình cảm hay nghĩ, chắc là một từng trải kinh khủng lắm. Chúng ta có thể hiểu được một phần rất nhỏ sự cô đơn ấy nếu chúng ta phải sống một thời gian khá lâu trong một xứ không có ai biết nói tiếng mẹ đẻ của ta, và ta cũng không biết tiếng xứ họ. Ý thức về sự xa lạ, thất vọng có thể gây ra chứng suy nhược thần kinh nếu thời gian đó kéo dài quá mức, và việc giam cầm riêng biệt đã được dùng như một hình phạt có thể nói là một cách hành hạ, tra tấn nữa.
Nhưng tai hại thay, chúng ta rất ít nghĩ rằng có thể cảm thông với người khác là một đặc quyền đáng để ý và đáng lấy làm ngạc nhiên, ngoại trừ khi chúng ta bị bắt buộc phải gặp, một người đã mất đi khả năng cảm thông với người khác. Chúng ta vẫn xem thường khả năng ấy và không cho đó là điều lạ lùng, như có lần một bà rất hoạt bát mà chúng tôi được dịp quen biết, đã bảo: “Tôi chẳng bao giờ suy nghĩ, chỉ nói mà thôi”. Khi người đẹp Eve bị một nhân vật của C. S. Lewis là bác sĩ Ranson lưu ý rằng: “Giống người của cô nói nhiều quá”, thì nàng đã trả lời: “Ông không có một ý niệm nào về chuyện đó cả mà lại khiến cho cái không-có-ý-niệm đó thành lời”.
Một chuyện thật cũng đáng buồn, ấy là chúng ta có thể nói chuyện với người khác mà không hề có ý muốn thông cảm với họ. Chúng ta có thể đưa ra những nhận xét của mình liên hệ đến những việc quan trọng, thí dụ như chúng ta muốn ai đưa mình một cái gì (“Xin cho tôi lọ muối”) hay khi chúng ta muốn thông tin cho nhau về một vấn đề mà cả hai đều biết rõ (“Hôm nay trời đẹp quá phải không?”). Thật ra thì khả năng để nói không phải có vì những mục đích như thế. Một người đàn ông với một người đàn bà có thể sống chung như vợ chồng trong cùng một ngôi nhà; trao đổi cho nhau vài tiếng ậm ừ từ phía sau một tờ báo phát hành vào buổi sáng, giữa lúc miệng ngồm ngoàm nhai bữa điểm tâm; bảo nhau vài tiếng mỏi mệt về việc làm trong ngày sau khi trở về nhà hay trong thời gian của một show quảng cáo trên truyền hình, nhưng chẳng bao giờ thực sự trò chuyện với nhau nhiều hơn về những vấn đề đang khiến họ phải bận tâm đến (mà chắc phần đông đều có một vài vấn đề chứ?). Loài vật hạ đẳng có nhiều phương pháp rất lạ để trao đổi tin tức cho nhau, thường thường rất phức tạp như những công cuộc khảo cứu về loài ong mới đây đã chứng minh. Loài chim liên lạc nhau bằng những dấu hiệu hay những âm thanh nhất định ám chỉ sự cảnh cáo, ve vãn, hăm doạ, vui mừng sau khi đẻ ra một quả trứng và vân vân… Thật là thảm hại nếu loài người không thể diễn tả những điều gì khác hơn vấn đề thời tiết và chiếc bao tử của họ! Chắc chắn rằng đó là điều mà người tín đồ Đấng Christ phải lưu tâm đến. Những lời nói ra từ miệng tôi mỗi ngày đã có ích lợi gì cho Đức Chúa Trời và cho các ý định của Ngài? Nếu chúng không đem đến ích lợi gì thì tôi bị câm đi còn hơn!
Một lá phiếu bằng tiếng nói
“Tất cả những ai đồng ý thì nói: Dạ” có lẽ đem đến câu trả lời yếu ớt nhất. Cách sử dụng tiếng nói của chúng ta có hơi giống cách sử dụng lá phiếu bầu cử của chúng ta. Chúng ta có dùng tiếng nói của mình để bênh vực Đức Chúa Trời hay chống lại Ngài, hay có thể là chúng ta không thèm dùng lá phiếu của mình. Trong số những người xưng mình là tín đồ Đấng Christ, lắm lúc cũng có cảm tưởng rằng thùng phiếu bầu thật quá nhỏ bé, và số người mà bạn mong muốn đứng ra ủng hộ cho chính quyền của Đức Chúa Trời cai trị thế gian, cũng không bày tỏ ý kiến gì. Họ hầu như không để ý gì đến kết quả của cuộc bầu cử. Họ không muốn bị quấy rầy!
Một vài người trong chúng ta có chịu khó mở miệng ra hơi nhiều, không phải chỉ để cho các thức ăn vào đó, mà còn để cho lời nói tuôn ra. Nhưng hành động đó đã làm cho Nước Đức Chúa Trời được đến gần bao nhiêu ngày hôm nay? Dầu chúng ta rêu rao là tin một số chân lý, những hành vi cử chỉ của chúng ta lại dường như đã chứng tỏ điều ngược lại. Nếu thật chúng ta tin chắc điều chúng ta bảo mình tin, há chúng ta không leo lên nóc nhà mà la lên, hay la lên bất cứ nơi nào người ta có thể nghe được, hay sao? Có lẽ chúng ta đã quyết định giao vấn đề đó cho các nhà đạo đức chuyên nghiệp. Nhưng ngoài bài giảng chính thức trên diễn đàn, “Nhiệm vụ phụ” của các nhà truyền đạo dường như cũng “phàm tục” y như bất cứ một ai khác. Một quyển sách mới đây luận về tín đồ của Đức Chúa Trời đã mô tả họ như “Những người nguội lạnh của Đức Chúa Trời”, và dầu tấm lòng họ còn nóng nảy, thì thật ra môi miệng của nhiều người đã quá nguội lạnh rồi. Phải chăng đó là lý do khiến cho Hội Thánh đứng yên thay vì tiến bộ? Nó chỉ cứ giữ thái độ lạnh lùng, khép kín. Phải chăng đó là lý do khiến cho các nhà thờ thường trống vắng, và dường như cũng là lý do khiến chúng ta khó tìm được tín đồ trừ ra vào Chúa Nhật? Phải chăng có một sự đồng ý giữ im lặng vì phép lịch sự?
“Một yếu tố quan trọng đã dự phần làm mất tinh thần đạo đức trong Hội Thánh là quan niệm sai lầm về tình yêu thương trong Cơ Đốc giáo. Người ta đã dạy rằng người có tình thương phải loại bỏ các quan điểm của mình cũng như đã chế phục việc vụ lợi cá nhân. Một thái độ kiểu cách dị kỳ đã xâm chiếm nhiều tín đồ Đấng Christ. Họ đã đi đến chỗ nghĩ rằng một người không vị kỷ phải hãm mình đừng lấy thêm một chiếc bánh ngọt nữa như thế nào, thì cũng vậy, mình phải tự kiềm chế, đừng bao giờ nên đưa ra quan điểm của riêng mình. Nếu khoe khoang về của riêng hay lớn tiếng kể công là xấu thế nào, thì cũng vậy, nói ra niềm tin của mình cũng là xấu… Lẽ dĩ nhiên chính sự kiện hiện nay chúng ta xem các niềm tin như của riêng là triệu chứng của một tinh thần Cơ Đốc giáo đã biến mất. Chính tâm trạng của con người hiện đại đã nhằm vào những khái niệm kỳ dị và khó nắm vững đó để mở rộng mãi quan niệm phàm tục hoá”.
Ý niệm về đức tính không vị kỷ lại bị bóp méo để áp dụng cho người không chịu nói ra cái chân lý mà chính mình thật sự tin quả thật là quái lạ! Hãy tưởng tượng nếu Phao-lô giữ kín không chịu nói gì hết với dân thành A-thên, bởi vì dầu sao họ cũng có hàng lô triết lý về việc thờ hình tượng vốn đã có từ xưa và đang có nhiều ngôi đền thờ cổ vây quanh với rất nhiều ý nghĩa sâu xa, thì nói ra những niềm tin Cơ Đốc giáo là thiếu lịch sự! Hãy tưởng tượng nếu Phi-e-rơ cứ im lặng, bởi vì dầu sao người ta cũng phải kính trọng tín ngưỡng của dân Do Thái dầu không đồng ý với họ! Hãy tưởng tượng Giăng cứ làm thinh giữa các nhà theo Trí Huệ Phái bởi vì dầu sao thì những điều đó cũng chỉ là một vấn đề thần học và rất khó định nghĩa.
Giữ phép lịch sự có khi chỉ là chiếc mặt nạ để che tánh e lệ rụt rè - hay sự hèn nhát. Người ta vẫn hay sợ rằng mình đi vào vấn đề quá gấp và khoá miệng thiên hạ. Đó cũng là một chứng sợ hãi sự “cuồng tín” rất cổ xưa. Thà chúng ta đừng trông thấy cái nụ cười nhẹ rất dễ dãi trên gương mặt của những con người lịch sự muốn che giấu giùm thái độ vụng về trong việc xã giao của bạn, và nói: “Tội nghiệp cho một anh chàng quá hăng đạo. Trông như một người cuồng tín”. Sự quá e dè, thận trọng có khi chỉ là lớp áo bọc ngoài, che đậy cho tánh hèn nhát.
“Thành thật với Đức Chúa Trời” và vân vân
Lẽ dĩ nhiên chúng ta phải sợ cái lời nói ba hoa bằng lợi khẩu, lối nói mà người nghe không biết thật ra mình muốn nói gì. Những danh từ như “sự cứu rỗi”, “tái sanh” là những lối nói vẫn tắt trong thần học, có thể làm rối trí người ta hơn là truyền đạt cho họ một kinh nghiệm sống. Rõ ràng là những chữ đó đều có chứa đựng một chân lý nào đó. Nhưng chúng ta cũng phải tìm một phương pháp mới mẻ để diễn tả một ý niệm đã cũ, những truyện cổ tích cho con người hiện đại có thể hiểu được. Và hình như chưa một ai có thể làm nổi việc đó. Có nhiều vấn đề vượt quá tâm trí của “nhà thần đạo giỏi nhất giữa vòng chúng ta” cho nên nếu chưa thực sự nắm vững vấn đề thì tốt nhất là chúng ta nên ngậm miệng. Đa số đã nhìn nhận rằng lý do khiến cho Hội Thánh thất bại là không thể trình bày được hình ảnh về Đức Chúa Trời cho người ngoại. Cái rắc rối là chúng ta đã không trình bày được một hình ảnh nào cả! Tin Lành đã bị nhốt trong ngôi nhà rộng lớn và chưa bao giờ được trình bày ra cho công chúng.
Chắc chắn là chúng ta phải cố gắng triệt để khảo sát phần nội dung bất biến của Tin Lành để trình bày nó cho cái xã hội trần tục chung quanh chúng ta bằng những ngôn từ họ có thể hiểu được. Nhưng có thật là vấn đề quá khó khăn đến thế không? Tất cả những ai đã từng chưa biết Chúa trước khi tin Ngài đều phải cố gắng để tìm hiểu Tin Lành và đã bị Tin Lành bắt phục. Khi các nam hay nữ tín đồ cố gắng giải thích điều mình tin cho người khác, họ sẽ thấy ngay được đâu là phương pháp trình bày sẽ khiến người ta lưu ý, và lẽ thật sẽ được sáng tỏ, cũng như cách nào thì không hữu hiệu. Có lẽ chúng ta trình bày không được trôi chảy lắm, nhưng sự thành thật sẽ bù vào những khiếm khuyết của các hình ảnh vẽ ra bằng lời nói. Cái khó trong việc cắt nghĩa Tin Lành cho người thế gian không phải là trong cách thức trình bày, nhưng là trong sự kiện nó chẳng bao giờ được trình bày, bất cứ là dưới hình thức nào!
Mối nguy của việc giải thích theo một phương pháp mới là điều nói ra sẽ không còn là Tin Lành nữa. Tấn sĩ Eric Mascall đã diễn tả rất tế nhị điểm đó khi luận về sự đóng góp của Tấn sĩ Lampe trong tạp chí Soundings , khi ông đưa ra một lối giải thích lại về sự chuộc tội: “Tấn sĩ Lampe đã hoàn toàn bỏ qua việc khảo xét bản tính loại suy cần thiết của mọi ý niệm và hình ảnh từ kinh nghiệm thông thường của con người đã được ứng dụng cho các huyền nhiệm Cơ Đốc giáo, cả đến những điều ông bênh vực nữa. Do đó, ông đã từ chối cho là không thể nào chấp nhận được một phần lớn thần học cổ điển Cơ Đốc giáo và thay vào tính cách phức tạp phong phú của nó, một số những điều trình bày được đơn giản hoá quá mức đã trở thành rất nghèo nàn”.
Từ phần trích dẫn trên đây, chúng ta có thể suy ra rằng tốt hơn hết là nên dựa vào Kinh Thánh để dần dần giải thích cẩn thận ý nghĩa của nó. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta phải chuẩn bị để nói cho người khác về Đức Chúa Giê-xu, về việc Ngài là ai, đã làm gì và đang sẵn sàng làm gì cho loài người. Chỉ có kẻ hoàn toàn ngu dại mới thực sự xem việc mình không thể nào tìm được Đức Chúa Trời bằng một chiếc thiên lý kính là một trở ngại không thể nào vượt nổi, không cho phép mình đạt đến đức tin. Anh ta trông mong tìm xem “Đức Chúa Trời” giống như cái gì? Xin đừng để cho sự ôn hoà, chừng mực khoá miệng chúng ta; dầu chúng ta nên sợ rằng cả đến việc giảng đạo cho kẻ khác một cách ôn hoà cũng vẫn bị một số người cho rằng chúng ta cuồng tín như thường! Xin chúng ta dâng môi miệng mình cho Đức Chúa Trời và dùng nó nói ra sự cao cả và ân điển Ngài.
Lòng trống trải… môi miệng cũng trống trải
Tuy nhiên, có một lý do sâu xa hơn đã khiến chúng ta giữ im lặng. Đức Chúa Trời đã phán: “Người lành bởi lòng chứa điều thiện mà phát ra điều thiện, kẻ dữ bởi lòng chứa điều ác mà phát ra điều ác; vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng nói ra (LuLc 6:45). Chúa Giê-xu đã nói và khiến mọi người đều lấy làm lạ về những lời đầy ân hậu từ môi miệng Ngài xuất phát; nhưng cách nói của chúng ta hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc tấm lòng chúng ta có chứa đầy điều thiện y như Ngài hay không. Nếu lòng chúng ta vốn nghèo nàn, trống trải không có vật quý báu gì hay gần như vậy thì đừng nên lấy làm lạ nếu chúng ta không thể rút ra từ đó một báu vật nào tương ứng. Chúng ta thấy là mình không thể nói hay không dám nói chỉ vì chúng ta không hề bị thúc giục nói ra, hay không bao giờ đi đến chỗ được thúc giục để nói ra chỉ vì lời chúng ta nói có vẻ ngập ngừng, mơ hồ, không làm cho chúng ta toại nguyên. Có lẽ từng trải của chúng ta về Đấng Christ vốn yếu đuối, xa rời thực tại cho nên chúng ta không có gì nhiều để nói. Bởi vì lòng chúng ta trống trải quá - hay gần như trống trải - cho nên môi miệng chúng ta cũng trống rỗng theo.
Một giải pháp cho vấn đề ấy là thì giờ thức canh buổi sáng sớm: Thì giờ tĩnh nguyện hằng ngày. Không phải chúng ta chỉ giữ lấy lệ một thì giờ để cầu nguyện và đọc Kinh Thánh như một luật lệ cho sinh hoạt thường nhật, nhưng điều quan trọng là chúng ta có được gặp Chúa hay không. Đó là một thì giờ chúng ta thực sự ngồi dưới chân Ngài và nghe lời Ngài, thực sự được bước vào “nơi ẩn náu của Đấng Chí Cao” - hay nó chỉ là một thói quen tốt không hơn không kém? Vấn đề không phải là học thuộc lòng nhiều câu Kinh Thánh, nhưng là biết cách ứng dụng cho kinh nghiệm mỗi ngày, là khám phá được rằng những lời hứa của Đức Chúa Trời luôn luôn thành tín và công hiệu. Như Ngài đã phán là sẽ ban cho tôi điều đó, thì hôm nay, chắc Ngài sẽ ban điều đó cho tôi. Nếu chúng ta thành thật với chính mình thì đó là việc tự nhìn nhận rằng mỗi người chúng ta đều yếu đuối. Lời làm chứng của chúng ta ít khi hợp thời, và thường khô khan, tẻ nhạt. Điều chúng ta nói có lẽ chỉ là những đoạn phước âm yếu chỉ vẫn thường được lặp đi lặp lại mà chúng ta đã được nghe lần đầu tiên cách đây hàng chục năm rồi. Lời thuật chuyện đó có thể vì nhắc đi nhắc lại quá nhiều lần mà mất hết tính cách tươi mới, dầu đáng ra nó không thể nào mất đi được. Trong cuộc phục hưng tại Đông Phi, các anh em tín đồ Phi Châu đã nhấn mạnh rất đúng về sự làm chứng một cách mới mẻ: “Chúng tôi không muốn nghe điều Đức Chúa Trời đã làm cho bạn mười năm trước đây. Từ đó đến nay, Ngài không làm gì nữa sao? Trong tuần này hay ngay hôm nay, Ngài đã làm gì cho bạn, hãy nói cho chúng tôi biết để giục lòng sốt sắng chung cho chúng ta. Chúng ta rất cần những lời chứng mới mẻ xuất phát từ tấm lòng như vậy, những lời xuất phát từ tấm lòng của một người nào đó, mỗi ngày được thúc giục càng hơn để càng vui hưởng nhiều hơn đời sống thông công với Đấng Christ.”
Chính những lời làm chứng đó sẽ đem đức tin đến cho những người vô tín đang hoài nghi. Dầu sao, phần lớn cuộc bàn cãi liên hệ đến hình ảnh của Đức Chúa Trời hầu như đều chỉ là những giả định về một Đức Chúa Trời không ai biết đến hay đã từng kinh nghiệm được. Cũng vậy, không ai được trải qua và hít thở một bầu không khí hoàn toàn khác hẳn như những kinh nghiệm thật sống động của các tín đồ Cơ Đốc giáo trong Tân Ước. Nếu điều miệng chúng ta nói ra diễn tả những điều ở trong lòng, thì thái độ ít lời chứng tỏ một khiếm khuyết nội tâm tương ứng, hay có lẽ là sự vắng bóng một đức tin đích thực nữa.
Sự tẩy sạch
Lẽ dĩ nhiên không hẳn là như vậy, mà có thể đó chỉ là một tội lỗi chưa được tha thứ. Thường thường thì khi ý thức được một gánh nặng hoặc sự bất khiết, chúng ta sợ hãi và không dám mở miệng vì sợ rơi vào sự giả hình. Khi Ê-sai nhìn thấy vinh quang của Đức Giê-hô-va trong đền thờ, thấy Ngài ngự trên cao và được tôn cao, thì ông biết mình là sắp tàn đời: “Khốn nạn cho tôi, xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!” (EsIs 6:5). Trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, ông ý thức sâu xa về sự ô uế của môi miệng mình. Lời lẽ của ông thật khiếm khuyết bất túc biết bao, chúng vốn dơ dáy biết bao! Rồi một trong số các sê-ra-phin bay đến với phần than lửa đỏ còn lại của chiên con làm sinh tế vừa bị thiêu, gắp nó và cho chạm đến miệng ông, rồi nói: “Này, cái này đã chạm đến môi ngươi, lỗi ngươi được bỏ rồi, tội ngươi được tha rồi”. Và sau khi môi miệng ông được sạch, ông có thể nghe Đức Chúa Trời kêu gọi một người ra đi. Ông liền tình nguyện và tiếng Ngài phán với ông: “Đi đi, nói với dân này rằng…”. Môi miệng được tẩy sạch phải được dùng để rao ra sứ điệp của Đức Chúa Trời. Những sứ điệp từ môi miệng Ê-sai được ban ra cho loài người thật là kỳ diệu biết bao!
Những ai trong vòng chúng ta có quen thuộc với “Những Bài Cầu Nguyện của Giáo hội Anh quốc” chắc đều biết rõ câu này: “Chúa ơi, xin mở môi tôi, rồi miệng tôi sẽ truyền ra sự ngợi khen Chúa” (Thi Tv 51:15). Đoạn văn có câu này mang rất nhiều ý nghĩa, và được liệt vào loại thi thiên sám hối của Đa-vít. Tội lỗi đã khoá miệng ông và cướp đi niềm vui đã được cứu rỗi. Môi ông bị khép chặt và ngăn cản không cho những lời tán tụng thoát ra. Nếu tội chưa được tha mà ông cứ cảm tạ Đức Chúa Trời thì không thể nào thoát khỏi sự giả hình. Nếu Đức Chúa Trời chưa tẩy sạch, thì từ ông không thể nào tuôn tràn ra những lời cảm tạ tự phát, hồn nhiên. Chỉ sau khi việc đó xảy ra, lưỡi ông mới có thể ca hát lớn tiếng sự giải cứu của Đức Chúa Trời (51:14). Nhưng dường như mấy câu này đã cho chúng ta thấy rõ ràng rằng tội lỗi có thể khoá môi miệng ta, và sau khi được tẩy sạch, nó mới được tự do.
Chính người tín đồ Đấng Christ đã được giải thoát khỏi các hầm ghê gớm, khỏi vũng bùn lấm, mới có thể đặt chân mình trên tảng đá, các bước tiến mới được vững chắc và mới có thể bảo rằng Đức Chúa Trời đã đặt vào môi miệng mình một bài ca mới để ca tụng Ngài (40:1-3).
Sự cảm tạ
Môi miệng vừa được tẩy sạch sẽ trước nhất lo chuyện trò với Đức Chúa Trời, và nhất là lo tán tụng Ngài. Chúa không phải là một con người bần tiện, luôn luôn muốn nghe người khác khen ngợi, tán tụng mình. C. S. Lewis đã mô tả điều đó rất hay khi ông nói: “Tất cả những niềm vui hồn nhiên đều tuôn trào thành lời tán tụng… thế gian rung động vì lời tán tụng - kẻ si tình ca tụng người yêu của mình, các độc giả ca tụng những thi sĩ mình mến mộ, khách nhàn du tán thưởng cảnh đẹp…” và ông tiếp tục nói về đủ loại lời khen tặng, ca tụng, chúng ta có thể nghe về mọi mặt. Ông vạch ra rằng chính những tâm hồn cay đắng, bất mãn mới ít ca ngợi Chúa, còn những con người đã được kinh nghiệm sự bình an là thường tán tụng Ngài nhất. Ông nói thêm: “Những người hay ca ngợi những gì thấy là đáng ca ngợi cũng thường tự nhiên, khuyến khích chúng ta đồng thanh với họ để ca ngợi những điều đó: ‘Đẹp chứ? Lạ chứ? Bạn thấy có tuyệt không?’ Các tác giả Thi Thiên khi bảo mọi người hãy ca tụng Đức Chúa Trời, đã làm điều mọi người làm khi nói về điều mình đang chú tâm vào. Tôi nghĩ là chúng ta thích ca tụng điều mình ưa thích bởi vì chẳng những lời ca tụng chỉ diễn tả, mà còn bổ túc cho niềm vui được trọn vẹn; nó là kết quả cần phải có”. Lời cảm tạ là kết quả tất yếu sau khi chúng ta thấu hiểu được Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào. Khi đứa con tự nhiên nói: “Ba ơi, đi dạo với ba thật là thích thú” thì đó là một niềm vui hồn nhiên, muốn cho người cha cũng chia sẻ niềm vui đó với mình. Lời cảm tạ chính là tiếng nói bô bô vui mừng đó khi chúng ta cảm thấy hoan lạc trong Đức Chúa Trời.
Đối với lũ con trẻ tại đền thờ, sự ngạc nhiên về Cứu Chúa và quyền năng Ngài khiến chúng reo lên: “Hô-sa-na” và khi có người chỉ trích, Chúa đã trả lời: “Vậy chớ các ngươi chưa hề đọc lời này: Chúa đã được ca tụng bởi môi miệng con trẻ và con đương bú hay sao?” (Mat Mt 21:16, trích dẫn Thi Tv 8:2). Rồi khi đến gần thành phố, toàn thể các môn đệ Ngài đều vui mừng và lớn tiếng ca ngợi Đức Chúa Trời về những công việc quyền năng họ đã thấy mà rằng: “Đáng ngợi khen thay cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hoà bình ở trên trời, và vinh hiển ở trên nơi rất cao!” Và khi có một người Pha-ri-si nói với Chúa Giê-xu hãy bảo họ im đi, thì Ngài đáp: “Ta phán cùng các ngươi, nếu họ nín lặng thì đá sẽ kêu lên” (LuLc 19:37-40).
Lời cảm tạ là sản phẩm của kinh nghiệm bản thân về sự cao cả và vinh quang của Đức Chúa Trời. Chính vì tấm lòng đầy dẫy niềm vui vì biết Ngài là ai và đã làm những việc gì, cho nên nó tuôn trào ra môi miệng. Tôi muốn nói ra điều gì đang có trong lòng; tôi phải diễn tả một phần những gì đang khiến lòng tôi đầy dẫy vui mừng, và mắt tôi ứa lệ. Con người đã được Đức Giê-hô-va cứu chuộc và được mô tả trong Thi Tv 126:1-8, bị những hành động của Đức Chúa Trời thúc bách nên đã nói:
“Bấy giờ miệng chúng tôi đầy sự vui cười ,
lưỡi chúng tôi hát những bài mừng rỡ ;
Trong các dân ngoại người ta nói rằng :
‘Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng tôi những việc lớn’
Nhân đó chúng tôi vui mừng ”
Khi một người nam hay nữ đến cùng Đức Chúa Giê-xu Christ, môi miệng họ liền tìm cách diễn tả một phần niềm vui vì được thuộc về Ngài và bắt đầu ca tụng Đức Chúa Trời. Đó là điều các gã chăn chiên đã làm ngay khi họ trông thấy con trẻ Giê-xu (LuLc 2:20) đó cũng là việc các môn đệ Ngài đã làm khi Đức Chúa Giê-xu đã thăng thiên (24:53) đó là điều các tín đồ đầu tiên đã làm sau khi chịu báp-tem vào ngày lễ Ngũ Tuần (Cong Cv 2:47) và đó cũng là điều mà người vốn què từ thuở sinh ra nhưng bây giờ “liền nhảy, đứng lên và bước đi cùng hai người vào đền thờ, vừa đi, vừa nhảy, vừa ngợi khen Đức Chúa Trời” (3:8) đã làm. Đây là một việc lạ lùng, và người ấy phải nhảy lên để chứng minh điều mình có thể làm được; cả thân thể lẫn môi miệng người ấy đều hiệp nhau để diễn tả tất cả những gì mình có thể làm được để tỏ lòng biết ơn. Sự nóng nảy của lời cảm tạ thường mở môi miệng khiến chúng được tự do một cách diệu kỳ.
Thi Tv 34:1-22 cho chúng ta thấy thể nào việc này đã đưa đến việc kia một cách thú vị:
“Tôi sẽ chúc tụng Đức Giê-hô-va luôn luôn ,
Sự tán tụng Ngài hằng ở nơi miệng tôi ” (câu 1).
Nhưng vui mừng một mình thì chưa đủ, tác giả muốn cho nhiều người khác đồng thanh với mình, nên ông reo lên:
“Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giê-hô-va ,
Chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh Ngài ” (câu 3).
Nhưng dường như có nhiều người không thể làm như thế. Chắc vì họ không cùng có một kinh nghiệm bản thân y như vậy về Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu và khuyên mời họ:
“Khá nếm thử xem Đức Giê-hô-va tốt lành dường bao !
Phước cho người nào nương náu mình nơi Ngài !” (câu 8).
Tác giả cũng muốn chia sẻ điều đó với thanh niên nữa:
“Hỡi các con , hãy đến nghe ta :
Ta sẽ dạy các con sự kính sợ Đức Giê-hô-va ” (câu 11).
Rồi ông tiếp tục dạy bảo họ cách dùng miệng lưỡi cho phải lẽ bằng những lời mà sau này Phi-e-rơ đã vay mượn để nhằm cùng một mục đích (IPhi 1Pr 3:10-12). Nghĩa là việc sử dụng miệng lưỡi dường như bắt đầu ngay lúc nó được tự do. Mạch nước sống đã được khơi động và tuôn trào thành lời tán tụng, rồi được khai thông để dẫn đến các nẻo đường phục vụ Chúa khác nữa. Nếu chúng ta muốn dùng môi miệng cho Chúa theo một cách thức đẹp lòng Ngài, thì điểm bắt đầu phải là sự cảm tạ.
Việc giảng đạo
Có nhiều nhà truyền đạo dùng một quyển “Sách Không Lời”, nhưng người tín đồ Đấng Christ không thể là người tín đồ im lặng, không lời. Theo một ý nghĩa đầy đủ nhất, người tín đồ Đấng Christ không thể nín lặng “vì nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Giê-xu ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu” (RoRm 10:9). Điều đó có nghĩa là trước khi trở thành người tín đồ thực sự, chúng ta phải xưng ra đức tin của mình, nhận Chúa Giê-xu làm Chúa. Môi miệng phải bỏ phiếu tán thành: Phải, Đức Chúa Giê-xu là Chúa và Đức Chúa Giê-xu là Chúa tôi. Dường như Đấng Christ đã tẻ ra khỏi con đường chính Ngài đang đi để khiến người ta bước vào con đường đang mở rộng. Thí dụ như trường hợp người đàn bà đã lén rờ trôn áo Ngài và được chữa lành bệnh, có lẽ đang âm thầm muốn lánh mặt đi; nhưng dầu Giai-ru đang nóng ruột muốn Chúa Giê-xu đến gấp với con gái mình đang hấp hối, Ngài vẫn cố ý khiến cả đoàn dân dừng lại để hỏi rằng ai đã chạm đến Ngài. Phải chăng Ngài không biết việc vừa xảy ra, hay Ngài muốn làm khó người đàn bà kia? Lẽ dĩ nhiên là không. Người đàn bà phải có cơ hội xưng ra sự xấu hổ, nhu cầu và sự tuyệt vọng đã đưa bà đến cùng Ngài, để sau đó, công bố sự lạ lùng của việc thân thể mình được chữa lành. Điều đó khiến cho cả bà ta lẫn người được nghe bà đều được phước (Mac Mc 5:24-34). Dầu có lẽ người đàn bà nhát sợ kia có bị bối rối đôi chút, đức tin của bà vẫn phải được công khai xưng ra.
Chúng ta cũng được cho biết đặc biệt là các tín đồ tại Hội Thánh Giê-ru-sa-lem đã bị tan lạc trong cuộc bắt bớ, chỉ có các sứ đồ còn ở lại đó mà thôi (Cong Cv 8:1) và những người bị tan lạc đó đã “đi từ nơi này đến nơi khác, truyền giảng đạo (Tin Lành)” (câu 4). Nghĩa là không phải chỉ có các sứ đồ mới được Đấng Christ sai phái mà thôi, nhưng tất cả tín đồ và những người tin Chúa về sau đều đi đây đi đó nói cho người khác biết về Chúa Giê-xu. Trong thế gian, đã có sự dị biệt lớn lao giữa công tác phổ biến Tin Lành của một Hội Thánh khi việc giảng Tin Lành chỉ được thi hành bởi một người duy nhất, thực hiện mỗi tuần chỉ một vài giờ trong một ngôi nhà rộng lớn, với việc phổ biến Tin Lành của một Hội Thánh có hằng trăm nam nữ tín đồ, thực hiện bất cứ giờ phút nào mỗi ngày, bất cứ ngày nào trong tuần lễ và tạo khắp nơi trong thành phố. Nếu Hội Thánh của Đức Chúa Trời chưa trở lại với tinh thần truyền đạo đó, khiến “mỗi tín đồ Đấng Christ đều làm một cuộc cách mạng”, thì Hội Thánh chưa có một sinh hoạt xứng danh là Hội Thánh của Đức Chúa Trời.
Nhưng chắc bạn sẽ nói: Tôi không biết giảng đạo, tôi không biết cắt nghĩa đức tin của tôi cho người khác hiểu. Chắc chắn câu giải đáp sẽ là: Bạn phải biết, phải làm việc đó. Đó là lý do đã khiến bạn trở thành tín đồ Đấng Christ: bạn không phải được kêu gọi để chỉ vui hưởng sự cứu rỗi cho chính bản thân bạn mà thôi, mà còn để đem Tin Lành của Đấng Christ ra khắp mọi nơi. Bạn không hề được đòi hỏi để chỉ làm một khán giả hay một người ghi tên vào sổ của Hội Thánh mà thôi, nhưng để làm một phần tử của một đội, một cuộc cách mạng sôi động chống lại quyền thống trị của điều ác và tội lỗi, tìm cách giải phóng những người nam người nữ khỏi quyền thống trị của nó. Trở thành tín đồ Đấng Christ không giống như gia nhập một thứ Hội Ái Hữu vĩnh viễn cho bằng đầu quân để tham gia một cuộc chiến tranh toàn diện, đòi hỏi mọi người phải nỗ lực, phải nhiệt cuồng.
Nhưng dầu nó có giúp đỡ chúng ta, ý thức về sự khiếm khuyết tài giảng đạo, cắt nghĩa đạo cho người khác vốn rất thông thường giữa vòng chúng ta. Như chàng thanh niên Giê-rê-mi đã nói: “Tôi không biết phải nói làm sao…” và đổ thừa cho tuổi trẻ của mình. Dường như ông quan niệm rằng càng lớn tuổi người ta sẽ càng hoạt bát hơn, điều thỉnh thoảng cũng vẫn đúng. Nhưng Đức Giê-hô-va đã thấy khuyết điểm của ông một cách khác hẳn, nên đã phán với ông: “Đừng nói tôi hãy còn trẻ, vì ngươi sẽ đi khắp nơi nào ta sai ngươi đi, và sẽ nói mọi điều ta truyền cho nói. Đừng sợ chúng nó, vì ta ở với ngươi , đặng giải cứu ngươi. Đức Giê-hô-va phán vậy”. Giê-rê-mi tiếp: “Đoạn, Đức Giê-hô-va giang tay rờ miệng tôi…” (Gie Gr 1:6-9). Lý do thoái thác không phải là sự trẻ tuổi của ông, nhưng vì ông sợ những người mình phải đến. Lời hứa là ông sẽ không đến một mình, nhưng Đức Giê-hô-va sẽ đi với ông, và môi miệng trống rỗng của ông sẽ được đầy dẫy lời lẽ từ Đức Chúa Trời đến.
Như chúng ta đã thấy trong toàn quyển sách của ông, Giê-rê-mi là một con người rất dễ cảm, cho nên việc phải nói ra vì Chúa đã khiến ông thua thiệt rất nhiều. Nhưng ông không thể nào giữ im lặng: và cả những khi ông cảm biết rằng nếu đừng nói thì lịch sự hơn, do đó, tránh phê bình, chỉ trích, ông vẫn không thể nào yên lòng được. “Vì lời của Đức Giê-hô-va làm cho tôi cả ngày bị sỉ nhục chê cười. Nếu tôi nói: ‘Tôi chẳng nói đến Ngài nữa, tôi sẽ chẳng nhân danh Ngài mà nói nữa’, thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi, và tôi mệt mỏi vì nín lặng không chịu được nữa” (20:8, 9). Nguyện Đức Chúa Trời khiến cho lòng chúng ta như lửa đốt cháy, đến nỗi chúng ta phải vì Ngài mà nói; đến nỗi giống như Phao-lô, chúng ta phải la lên: “Còn tôi không rao truyền Tin Lành, thì khốn khó cho tôi thay” (ICo1Cr 9:16).
Chàng thanh niên Ê-xê-chi-ên thấy một khải tượng của Đức Chúa Trời và được truyền dạy: “Ngươi khá đem lời ta nói cùng chúng nó, dầu nghe, dầu chẳng khứng nghe…” rồi ông được truyền hãy mở miệng ra và ăn lấy một vật ban cho mình. Và ông được ban cho một quyển sách nhỏ, trong đó có lời Đức Chúa Trời, để ăn (Exe Ed 2:7 và tt). Những gì Đức Chúa Trời ban cho và dạy dỗ ông, ông có thể ban truyền cho người khác. Điều thú vị là tất cả những người như Ê-sai, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên đều có một từng trải nào đó, liên hệ đến miệng họ: một miếng than lửa đỏ để tẩy sạch nó, tay Đức Chúa Trời chạm đến nó, lời của Đức Chúa Trời để nuôi dưỡng nó - mọi việc đều xảy ra để sai phái họ trọn đời phục vụ Ngài.
Môi-se cũng trốn tránh việc phải vì Đức Chúa Trời mà nói ra, cũng như đã từ chối mọi trách nhiệm: “Ôi lạy Chúa… tôi vẫn chẳng phải là một tay nói giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập ngừng”. Có lẽ nhiều người trong chúng ta muốn lặp lại những lời nói đó của Môi-se, và cảm thấy là chúng cũng đúng với mình nhưng Đức Giê-hô-va phán: “Ai tạo miệng loài người ra? Hay là ai đã làm câm làm điếc, làm sáng làm mờ? Có phải là Đức Giê-hô-va chăng? Vậy bây giờ, hãy đi, ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói (XuXh 4:10-12).
Điều đó có nghĩa là điều gì chúng ta không thể cậy sức cậy tài của mình mà làm, thì Đức Chúa Trời hứa chính Ngài sẽ làm. Trong Tân Ước, chúng ta thấy Đức Thánh Linh là Đấng cảm thúc người tín đồ nói ra, và lời Đức Chúa Trời vẫn còn hứa là sẽ giúp chúng ta vì Ngài mà nói ra. Phi-e-rơ là một ngư phủ, với Giăng, đã bị người phê bình là “người dốt nát, không học” (Cong Cv 4:13), nhưng đồng thời chính những người kia phải lấy làm lạ về sự dạn dĩ của họ, và chỉ có một lý do để giải thích cho việc đó, ấy là họ đã từng ở với Chúa Giê-xu. Chính ông Phi-e-rơ đó cũng khuyên những người muốn nói thì hãy “nói như giảng lời sấm truyền của Đức Chúa Trời” và rõ ràng đó cũng chính là điều ông đã làm. Điều quan trọng không phải là tài hùng biện của người nói, nhưng là sự cao cả của Đấng mà người ấy nhận sứ điệp để rao ra.
Chúa đang cần những người nam, người nữ để bởi họ, Ngài có thể truyền phán cho người nam người nữ khác; Ngài đang cần những người muốn cầu nguyện và tìm cơ hội nói về Ngài cho người khác trong sinh hoạt hằng ngày của mình. Chúng ta có sẵn sàng dâng môi miệng cho Ngài để làm việc đó không?
Cô gái có tiếng nói bằng vàng
Trong câu chuyện thần tiên nhan đề “Ba chàng tí hon ở trong rừng” của Grimm, chúng ta gặp hai cô gái. Một cô thì ngoan ngoãn, vâng lời. Cô ta được sai đi tìm trái dâu vào một ngày băng giá với chiếc áo choàng bằng giấy và một mẩu bánh mì nhỏ mà thôi. Cô đã chia mẩu bánh mì với ba chàng lùn và vâng lời dạy của họ, đi ra, quét tuyết và tại đó cô tìm thấy trái dâu. Người chị khác mẹ của cô thì đi ra với chiếc áo choàng bằng lông, với một bữa ăn thịnh soạn, nhưng không chịu chia nó cho ba chàng lùn. Họ cũng dạy cô ta quét tuyết, nhưng cô ta từ chối, cho nên, lẽ dĩ nhiên cô ta không tìm được trái dâu. Họ đã ban thưởng cho cô gái trước, chẳng những một vẻ đẹp cứ ngày càng gia tăng và lời hứa sẽ được kết duyên với một vì vua, mà còn được điều lạ là mỗi khi mở miệng sẽ có những đồng tiền vàng văng ra! Người chị khác mẹ thì bị trừng phạt bằng sự xấu xí ngày càng gia tăng, và mỗi khi mở miệng, sẽ có một… con cóc nhảy ra!
Đã có gì văng ra từ miệng chúng ta, những đồng tiền vàng hay những con cóc? “Miệng người công bình là một nguồn sự sống… Lưỡi người công bình giống như bạc cao” (ChCn 10:11, 20). Chúng ta là tín đồ Đấng Christ phải giống như cô gái mà tiếng nói là vàng, lời lẽ nói ra có thể giúp đỡ người khác, những lời lẽ hợp thời, đầy ân hậu như môt trận mưa những đồng tiền vàng. “Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến” (Eph Ep 4:29).
Nét tương phản giữa hai cách dùng môi miệng trên đây là đề tài Kinh Thánh rất thường đề cập đến. Miệng người công nghĩa giải cứu chớ không khiến họ mắc bẫy gian ác (ChCn 12:6). Lưỡi người khôn ngoan đem đến sự chữa lành, không như những lời lẽ làm tổn thương như gươm đâm (12:8). “Lời lành giống như tàn ong, ngon ngọt cho tâm hồn, và khoẻ mạnh cho xương cốt” (16:24). Trong thế gian, có sự khác biệt rất xa giữa những lời nói gây thương tích, đồn huyễn, tung ra những sự thật nửa chừng, và những lời đẹp đẽ xây dựng, khích lệ, làm tăng thêm sức mạnh. Lời nói chúng ta không những chỉ có thể dùng cho người khác biết về Đấng Christ, mà còn có thể giúp đỡ khích lệ các bạn tín đồ, và chia sẻ với họ phần khải tượng của chúng ta về sự phục vụ Chúa. Chúng ta có thể giúp đỡ cho những người sa ngã, đang cần sự thông cảm và khích lệ. Chúng ta cần có một môi miệng đầy lời bằng vàng, làm rạng danh Đức Chúa Trời, có thể làm cho Nước Ngài mau đến.
Sự thông công theo đúng ý nghĩa của nó
Người tín đồ dường như hay dùng chữ “thông công” để mô tả việc uống trà, ăn bánh ngọt giữa các tín hữu với nhau! Chúng ta đã đề cập đến việc những người tín đồ rất ít hay nói về Đấng Christ, và đã thấy rằng điều đó thường do sự thiếu từng trải thuộc linh, sự sợ hãi phải bộc lộ chỗ trống trải thuộc linh của mình, có thể tạo ra sự giả hình, tạo ra những câu chuyện bị bắt buộc phải nói một cách tin kính, ngoan đạo không tự nhiên.
“Bấy giờ, những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va nói cùng nhau” (MaMl 3:16). Nói về Đấng Christ ở trong nhà, với các tín đồ khác, thì dễ hơn là nói về Ngài cho những người không chịu chú ý, lại có thể còn phản đối nữa. Nếu chúng ta không dám thổ lộ từng trải thuộc linh của mình cho các bạn tín đồ, thì rất có thể là chúng ta chẳng bao giờ nói được gì nhiều hơn cho người không biết Chúa. Chúng ta đã thấy thể nào vấn đề môi miệng hay ngại ngùng có thể được cố gắng giải quyết bằng sự cầu nguyện xin những cơ hội thuận tiện. Thật là bi đát, nếu chúng ta là tín đồ Đấng Christ chỉ có thể “trò chuyện” mà không thể “cảm thông” nhau với đầy đủ ý nghĩa của danh từ ấy về đức tin và các vấn đề mình tìm ra được để ứng dụng cho đời sống hằng ngày. Không một ai trong chúng ta lại muốn làm người ba hoa hay gợi chuyện về những vấn đề tin kính, nhưng thỉnh thoảng cũng có những vấn đề nho nhỏ hay những điều cần giải thích tác động như một vật xúc tác đưa đến một buổi nói chuyện tích cực, hoặc một lối lái khéo cuộc bàn cãi sang những ngõ ngách khác có ích lợi hơn. Nếu chúng ta không tạo được một mối cảm thông sâu xa hơn, chúng ta sẽ không làm ích lợi được như đáng phải có với tư cách một người trong gia đình Cơ Đốc giáo. Lẽ dĩ nhiên nếu phải sống trong trạng thái xa lạ, cô đơn ngay cả trong đám đông các tín đồ Đấng Christ là một điều thật đáng buồn.
Làm một con người thành thật thì không bao giờ có hại gì, và chấp nhận sự trống vắng, khô khan hay sa ngã thuộc linh có thể là bước đầu tiên để tìm lại được sự kết quả. Nếu không biết rõ các nhu cầu sâu xa hay những vấn đề của người khác, chúng ta rất khó cầu nguyện hữu hiệu cho nhau. Gia-cơ đã giải quyết dứt khoát một việc khi ông viết: “Hãy tiếp tục xưng tội cùng nhau” rồi mới tiếp tục dạy rằng hãy cầu nguyện (Gia Gc 5:16). Đức Thánh Linh đã dạy chúng ta phải làm như vậy, Đó là một lệnh truyền, và sự kiện là có nhiều người đã nhấn mạnh quá đáng đến sự xưng tội hay không thực hiện đều đặn việc ấy, cho nên đã ứng dụng nó một cách sai lầm. Chúng ta không nên xem thường lệnh truyền đo. Nếu một nhóm nhỏ các tín đồ Đấng Christ biết thông báo cho nhau một cách thích hợp những vấn đề của mình và cầu nguyện cho nhau một cách thật tâm, thì sẽ được phước lớn. Sự thông công để thảo luận với nhau, nhất là các vấn đề như sự lười biếng hay e lệ, sự khô hạn thuộc linh hay việc ngồi lê đôi mách, có thể sẽ giúp đỡ chúng ta nhiều.
Những điểm gợi ý để cầu nguyện và suy gẫm
Môi miệng tôi đã được sử dụng để nói về Đấng Christ cho người khác, hay tôi vẫn im lặng?
Tại sao tôi không nói được nhiều hơn , hay tìm nhiều cơ hội hơn để làm chứng về Chúa ?
Phải chăng từ lòng tôi đã không có tình yêu mến Chúa tuôn trào ra?
Môi miệng tôi có cần được tẩy sạch , để nó lại có thể mở ra thong thả , tự do không ?
Tôi đã từng trải được những gì trong việc tự nhiên cảm tạ, tán tụng Chúa?
Chúng ta có cầu xin Chúa cho mình khả năng ăn nói , có xin Ngài ban cho chúng ta một lệnh truyền đi ra nói về Ngài cho kẻ khác không ?
Chúng ta có cầu xin “một ngọn lửa cháy trong lòng” sẽ khiến chúng ta nói không?
Tuần lễ vừa qua , chúng ta có đã nói ra “vàng ” hay chỉ mở miệng để có những “con cóc ” nhảy ra ?
Ngay trong nhà tôi, tôi có phải là người thật sự tạo được sự cảm thông, hay tôi chỉ biết nói ra mà thôi. Hãy làm một bảng liệt kê danh sách những người tôi phải nói về Đấng Christ và về đức tin nơi Ngài cho họ.
Hãy cầu nguyện cho những người ấy và tìm cơ hội để nói về Ngài một cách tự nhiên cho họ .
Tôi có khuynh hướng dùng một thứ ngôn ngữ quá chuyên môn mà người khác không hiểu nổi, khiến họ ngỡ ngàng không? Tại sao tôi không cầu nguyện xin Chúa giúp mình diễn tả Tin Lành của Ngài một cách rõ ràng?
Lạy Chúa yêu dấu , con muốn Ngài nhận lấy môi miệng con và tẩy sạch nó , đổ đầy vào đó những lời lẽ thương yêu , gây dựng để có thể đem phước hạnh đến cho kẻ khác . Xin dùng môi miệng con khiến kẻ khác được nghe lời Ngài và đáp lại lời ấy . Xin dùng môi miệng con để khích lệ các bạn hữu tín đồ của con . Nhân danh Chúa Giê-xu .




Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 06:37 PM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách