† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2262|Trả lời: 0

Dâng Trọn - CHỈ HÀNH NGHỀ hay THEO TIẾNG GỌI?

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 10-10-2011 08:24:38 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Dâng Trọn Cuộc Đời
Tác giả: Michael Griffiths

CHỈ HÀNH NGHỀ hay THEO TIẾNG GỌI?


Nguyện Chúa nhận lấy cả đời sống con ,
để được biệt riêng cho việc phục vụ Ngài .
Chúng ta chỉ có một cuộc đời. Có lẽ chúng ta đã sống nó hết một phần tư, một phần ba, một nửa hay nhiều hơn của cuộc đời đó rồi. Cũng như Clementine phần đó của đời sống ta đã qua đi vĩnh viễn. Nhưng với phần còn lại thì sao? Chúng ta sẽ dùng nó để làm gì? Rất có thể là chúng ta đã gán cho nó một lô những niềm tin và những thói quen thông thường của người tín đồ Đấng Christ, rồi cứ tiếp tục hành động y như chúng ta vẫn luôn luôn hành động mà không bao giờ đặt ra một câu hỏi nào để tự tra vấn chúng ta về mục đích của đời sống.
Một mẫu mực được chấp nhận
Phần đông chúng ta đều chỉ có thể nói rất ít về những điều đã xảy đến cho chúng ta trong thời thơ ấu. Khi chúng ta còn bé thì người khác đã ấn định những điều chúng ta phải làm chứ chính chúng ta không phải quyết định việc gì quan trọng cả. Người khác quyết định cho chúng ta phải học trường nào, phải đi nghỉ lễ, nghỉ hè ở đâu v.v… Có một số quyết định được căn cứ trên những gì người khác đã khảo sát và quyết định cho chúng ta phải làm. Có một số người đã vào đại học, đã ở trong lứa tuổi đôi mươi, mà vẫn chưa thực sự có một quyết định quan trọng nào cho đời sống của mình. Học xong trung học, họ phải đi vào đại học, thế thôi.
Tuy nhiên có hai sự chọn lựa mà càng lớn lên, mỗi cá nhân càng được tự quyền chọn lấy. Điểm này không phải có tính cách phổ quát, vì tại nhiều nơi trong nhiều xứ, các bậc cha mẹ vẫn còn dành quyền quyết định mọi việc quan trọng; nhưng từ 19 tuổi trở đi, phần đông chúng ta đều phải quyết định hai việc quan trọng cho cuộc đời mình, đó là: chọn người bạn đời và một nghề nghiệp cho bản thân. Thông thường thì chúng ta vẫn chưa trưởng thành hoặc chưa được hướng dẫn đầy đủ để tự mình quyết định những điểm đó, mà chỉ bị đẩy đưa cho đến khi gặp một sự sắp xếp nào đó. Đúng hơn thì tất cả chỉ là do tình cờ. Rất may là trong nhiều xứ, việc quyết định về người bạn đời đã được trì hoãn cho đến khi chúng ta già dặn hơn để biết suy nghĩ đến vấn đề tài chánh. Trong nhiều xứ khác, gia đình vẫn còn chú trọng khá nhiều đến việc chọn người bạn đời, cho nên chúng ta có thể được nghe nhiều ý kiến khách quan về vấn đề xứng đôi hay hoà hợp (giữa hai vợ chồng).
Quyết định quan trọng về hướng đi của chúng ta liên hệ đến việc làm hay nghề nghiệp, có thể là do ảnh hưởng công việc làm ăn của gia đình, của một nghề gia truyền, của trường chúng ta học, của việc làm đầu tiên sau khi chúng ta rời ghế nhà trường hay do phần huấn nghệ chúng ta đã hấp thụ được. Một phần là do sự lựa chọn riêng của cá nhân ta và một phần là do sự khuyến khích của cha mẹ và các giáo sư. Trong giới sinh viên, học sinh dường như có người có thể đợi đến ngày tốt nghiệp chỉ trong vài tuần lễ mà không cần biết là về sau mình sẽ làm gì. Nhưng đa số lại thấy rằng phần định hướng nói chung đã được định hình từ những năm sau 15 tuổi hay ở độ trên dưới hai mươi, ngay cả nếu các chi tiết và khả năng thành công, tiến bộ sẽ chỉ phát triển với thời gian. Nhiều người dường như có khả năng thay đổi nghề nghiệp cả đời, nhưng thường thì sự may rủi vẫn nằm đâu đó giữa khoảng từ mười lăm đến hai mươi lăm tuổi. Rồi có lẽ là ở đằng sau một thời gian bốn hay năm mươi lăn lộn với nghề nghiệp, là một giai đoạn về hưu mà các khả năng đều lần lần tiêu tán, và thế là chấm dứt một cuộc đời. Chúng ta sẽ có gì để khoe khoang về nó? Phải chăng nó sẽ chỉ được đánh giá bằng một vài phần thưởng và thành công nhỏ nhặt của cuộc đời, một vài bằng cấp, một vài chiếc cúp bạc chứng minh chúng ta là một lực sĩ đáng khen, một vài miếng huy chương, một vài bài báo cắt để dành, vài lần được thăng thưởng trong thời gian hành nghề, một địa vị khá cao, trong đoàn thể địa phương, được tặng một cái đồng hồ, một mẩu tin buồn đăng trong báo và một đám tang có đông người đi đưa? Phải chăng đó là tất cả ý nghĩa có thể có được của cả đời sống chúng ta.
Một cách đánh giá mới
Giờ đây đứng trên quan điểm một tín đồ Đấng Christ, phải chăng chúng ta tự cảm biết là bất cứ chúng ta đang làm gì, bất cứ những lý do nào, như những phần thưởng bằng tiền bạc, một số hưu bổng cao được bảo đảm, danh tiếng do nghề nghiệp đem đến, lòng hăng say của chúng ta đối với công tác dấn thân vào, hay sức thúc đẩy của sự nghèo đói mà thôi… đều là những động cơ rất khiếm khuyết? Khi một người đã trở thành tín đồ Đấng Christ thì tất cả các động cơ, các thái độ sống của người ấy phải được suy xét, kiểm soát lại. Có lẽ từ trước đến nay, chúng ta đã xem đời sống chúng ta là thuộc riêng về chúng ta. Lẽ dĩ nhiên là khi nhìn lại, chúng ta nhận ra rằng thật ra chúng ta đã lựa chọn rất ít, và giờ này chúng ta chỉ còn lại rất ít: phần huấn luyện chuyên môn cho một khu vực hoạt động nào đó, được tùng sự trong một hãng xưởng đặc biệt nào đó, nhiệm vụ phải phụng dưỡng cha mẹ già yếu, vợ con. Dầu vậy, chúng ta vẫn xem cuộc đời chúng ta là thuộc riêng về chúng ta và có thể dùng nó làm bất cứ việc gì mình thích. Nhưng, chúng ta không thể làm như vậy nữa. “…Anh em không còn là chủ của chính mình nữa. Một giá rất cao đã được trả để chuộc anh em; vậy hãy tôn vinh Đức Chúa Trời bằng cách khiến thân thể anh em trở thành đền thờ của hiện diện Ngài” (ICo1Cr 6:19, 20 bản dịch của Knox).
Như chúng ta đã thấy, người tín đồ Đấng Christ xem mình như một nô lệ của Ngài, và tất cả hành động của người ấy phải được nhìn dưới ánh sáng mới mẻ đó. Trước đây, tôi là một tên phản loạn, đưa quả đấm của mình lên chống lại Đức Chúa Trời và thế gian: “Cuộc đời tôi là của riêng tôi đấy chứ!” Nhưng bây giờ thì không phải vậy. Tôi đã buông xuôi đôi tay phản loạn, gieo mình vào ơn thương xót của Ngài và tình nguyện phục vụ Ngài. Ngài đã khiến tôi trở thành người nhà của Ngài, cho nên bây giờ tôi là nô lệ của Ngài, sẵn sàng tuân phục các mạng lệnh của Ngài, dầu các mạng lệnh ấy có thể mâu thuẫn với điều mà từ trước đến nay tôi vẫn xem là quyền lợi riêng của cá nhân mình. Điều đó có nghĩa là tôi phải xét lại cả thái độ sống của tôi liên hệ đến điều tôi đang làm bằng đời sống duy nhất mà tôi đang có. Có lẽ tôi chưa định đoạt được nghề nghiệp tương lai cho mình, có lẽ trước mặt tôi đang có nhiều việc tôi có thể làm, trong số đó, tôi phải tìm biết ý muốn của Chủ tôi. Trong vài trường hợp, nếu tôi hãy còn là một sinh viên, một quyết định quá sớm phải được xét lại căn cứ trên các nguyên tắc trong phần tiếp theo đây.
Một thái độ mới hay một sự bổ nhiệm mới
Phải chăng trở thành tín đồ Đấng Christ có nghĩa là tôi phải suy nghĩ để tìm cách đổi nghề? Hay tôi chỉ cần thay đổi thái độ với công việc hiện có của tôi mà thôi? Đâu là các nguyên tắc Kinh Thánh dạy? Các nguyên tắc vẫn như nhau nếu có người tin Chúa trước khi quyết định dứt khoát về nghề nghiệp tương lai cho đời sống mình và đang cân nhắc những khả năng của mình. Chúng cũng có thể được áp dụng cho trường hợp một nữ tín đồ nhận biết rằng nghề nghiệp về sau của mình sẽ bị gián đoạn hay ngăn trở bởi việc Chúa sẽ hướng dẫn mình trong vấn đề hôn nhân và lập gia đình.
1. Hãy nhằm vào một địa vị có thể phục vụ tối đa
Hầu như bất cứ một việc làm nào được thực hiện tận tâm đều có thể trở thành một nguồn vui, một phần thưởng và có ích đối với người tín đồ có tinh thần ngay thẳng, thành thật. Có thể có nhiều tiếng kêu gọi mà chúng ta có thể nhờ công việc mình sẽ làm để làm sáng danh Chúa. Điều quan trọng là chúng ta phải có thái độ của một tín đồ Đấng Christ trong công tác mình đang làm. Nhưng dường như điều tối quan trọng và có thể quyết định cho cả đời sống chúng ta là phải tìm cầu ý chỉ Đức Chúa Trời về đời sống chúng ta liên hệ đến nghề nghiệp, hay đúng hơn là chúng ta cần phải được Ngài kêu gọi mình. Nghĩa là, ở địa vị nào tôi sẽ phục vụ Chúa được đắc lực nhất, tôi sẽ trở thành một người hữu ích đến mức tối đa? Lẽ dĩ nhiên là tôi có một vài ưu điểm cũng như một số nhược điểm, nhưng với tất cả năng khiếu và những giới hạn đó, địa vị nào sẽ giúp đỡ tôi trở thành hữu ích hơn hết cho Chúa, và tôi phải làm sao để Ngài được đẹp lòng hơn hết? Có lẽ tôi đã có vợ con rồi, và tôi phải giúp ích cho họ cũng như cho xã hội nói chung. Cả hai loại nhiệm vụ vừa kể đều nằm trong nhiệm vụ phục vụ Chúa của tôi. Nhưng làm thế nào để tôi trở thành ích lợi tối đa cho Chúa và đem đến nhiều phước hạnh nhất cho người khác? Nếu là một người tận tâm như chúng tôi đã nói ở trên, bất cứ một tín đồ nào của Đấng Christ cũng nghĩ đến việc phục vụ Chúa trong công việc mình đang làm; nhưng điều còn quan trọng hơn nữa là Đức Chúa Trời có thể dùng tôi cách nào để được hữu hiệu hơn không? Tôi phải làm gì, ở đâu, để Ngài được tôn vinh và Nước Ngài được mở rộng đến mức tối đa? Ở địa vị nào, tôi sẽ có thể gây tai hại nhiều nhất cho ma quỉ và làm ích lợi nhiều nhất cho Hội Thánh Đức Chúa Trời?
Không phải trong phút chốc mà chúng ta có thể bảo rằng không một ai có thể trở thành ích lợi tối đa cho Chúa nếu việc làm của người ấy không có liên hệ rõ rệt với tôn giáo, với”đạo”. Nếu việc chúng ta đang làm nhằm giúp ích chính phủ có một chính sách cai trị tốt đẹp, nếu chúng ta thiết lập được những tiêu chuẩn ngay thật trong ngành thương mại và kỹ nghệ, nếu chúng ta là những nhà tiểu công nghệ mà phần sản xuất làm đẹp lòng và sáng danh Đức Chúa Trời (và bảng liệt kê này có thể kéo dài ra hầu như vô tận), thì rất có thể đó là địa vị mà chúng ta làm ích lợi cho Chúa nhiều nhất. Giá trị nội tại của một công tác tự nó là phần ân huệ thông thường mà Đức Chúa Trời ban cho loài người. Điều này hoàn toàn khác biệt với giá trị của những tiếp xúc cá nhân chúng ta có thể đem đến cho người khác. Dầu sao thì việc xếp đặt những tín đồ trong những chức vị quan trọng ngoài xã hội, khiến họ trở thành muối của đất, giữ cho thế gian khỏi hư thối, băng hoại, cũng tối quan trọng. Chính loại công tác đó có thể là địa vị khiến họ trở thành ích lợi nhất. Nhưng chúng ta phải luôn luôn tự hỏi: phải chăng tôi đang ở đúng một địa vị có ích lợi nhiều nhất hay không? Chúng ta có thể chắc chắn một điều, ấy là Đức Chúa Trời đã chọn chỗ cho chúng ta, “việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Eph Ep 2:10) và chúng ta cần cầu hỏi Ngài, xin Ngài chỉ cho chúng ta công việc Ngài đã chọn trước cho mình. Cũng vậy, thỉnh thoảng chúng ta cũng cần hỏi lại xem có phải mình vẫn còn ở trong địa vị có ích lợi nhất đó hay không, hay là đã có một thay đổi nào đó, khiến chúng ta không còn hăng say để đương đầu với những tranh chấp mới bằng một nguồn năng lực và một kích thích tố đã được đổi mới, được gia tăng.
2.Cứ đứng trong chỗ mình đã được kêu gọi
“Ai nấy khi gọi ở đấng bậc nào, thì phải cứ ở theo đấng bậc ấy. Ngươi đương làm tôi mọi mà được gọi chăng? Chớ lấy làm lạ; song nếu ngươi có thể được tự do, thì hãy nhân dịp đó là hơn… Hỡi anh em, ai nấy khi được gọi ở đấng bậc nào, thì cứ phải ở theo đấng bậc ấy trước mặt Đức Chúa Trời” (ICo1Cr 7:20-24). Ở đây, Phao-lô đã vạch ra các nguyên tắc tổng quát. Trở thành tín đồ Đấng Christ không phải là lý do để bỏ hết những gì bạn đang làm trước khi tin Chúa. Đức Chúa Trời đã đặt tay Ngài trên chúng ta lâu hơn là điều chúng ta đã được biết. Có lẽ Phao-lô đã học nghề may trại trước khi ông trở thành tín đồ Đấng Christ, nhưng nghề đó đã giúp ích cho ông khi ông phải làm việc để tự túc trong chức vụ rao giảng Tin Lành. A-qui-la và Bê-rít-sin đã không được kêu gọi để thôi hành nghề may trại sau khi đã trở về với Chúa. Một thí dụ rõ ràng nhất là Ô-nê-sim, một nô lệ của Phi-lê-môn, đã trốn chủ mình và tin Chúa khi cùng bị tù với Phao-lô (người tình cờ đã tìm được phương pháp tuân theo “lời kêu gọi” là trở thành một tù nhân để tôn vinh Đức Chúa Trời). Phao-lô đã gởi ông về cho người chủ cũ để lại trở thành một nô lệ - dầu bây giờ là một tín đồ làm nô lệ cho một người chủ cũng tín đồ - nhưng lần này với một mối liên hệ khác xa lần trước, cũng như đã làm việc bằng một thái độ hoàn toàn khác hẳn. Viên đội trưởng người La Mã (Cong Cv 13:1-52) vẫn tiếp tục nghề nghiệp của họ sau khi đã tin Chúa. Tại Phi-líp, chắc Ly-đi vẫn tiếp tục nhề buôn hàng vải, và trong những buổi nhóm họp của Hội Thánh tại đó, chắc người ta vẫn ngửi thấy mùi hương đặc biệt của những kiện hàng sắc tía được chất cao để bán lại. Chúng ta có thể nghĩ rằng người đề lao tại Phi-líp vẫn tiếp tục công tác của mình trong nhà tù của thành phố ấy, nhưng đối xử tử tế hơn với các phạm nhân sau khi nhận ra rằng mình đã vô tình hạ ngục các thiên sứ.
Sức mạnh của một Hội Thánh nằm trong các chức vụ thông thường của thuộc viên Hội Thánh ấy. Nếu chúng ta so sánh các Hội Thánh tại Triều Tiên và Nhật Bản, chúng ta sẽ thấy thích thú và lấy làm ngạc nhiên khi nhận ra rằng Hội Thánh tại Triều Tiên đã phát triển hơn hẳn so với các Hội Thánh tại Nhật Bản. Sở dĩ như thế là vì nhiều lý do góp phần, nhưng không có ai nghi ngờ gì được về việc một phương pháp gọi là của Nevius đã có ảnh hưởng lớn lao trên sự kiện ấy. Hội Thánh bản xứ đã áp dụng các nguyên tắc được gợi ý bởi Nevius, một giáo sĩ ở Trung Hoa kỳ cựu. Nguyên tắc thứ nhất được phát biểu như sau: “Mỗi người cứ ở tại chỗ mình được kêu gọi, dạy dỗ cho mọi người trở thành cá nhân hầu việc Đấng Christ, sống cho Đấng Christ giữa hàng xóm láng giềng, tự túc bằng chính nghề của mình?”. Cho nên hiện nay tại Triều Tiên, mỗi tín đồ là một người hầu việc Đấng Christ, tìm cách giảng Tin Lành cho người chung quanh (tại nhà hoặc tại chỗ mình làm việc), và đều tự túc. Tại Nhật Bản, Hội Thánh chẳng bao giờ tập trung lực lượng vào các tín đồ như vậy, nhưng chỉ tuỳ thuộc vào một số người hoàn toàn để riêng thì giờ lo mở rộng việc chứng đạo. Hội Thánh Triều Tiên cũng là một Hội Thánh từng bị bắt bớ rất nhiều qua lịch sử của nó, Một Hội Thánh tập trung lực lượng vào tín đồ rất khó bị tiêu diệt, nhưng tại Nhật Bản nếu bắt buộc mọi người làm việc ngày Chúa Nhật, bắt giam tất cả mục sư và lấy các nhà thờ dùng vào việc khác, như làm kho chứa hàng vân vân… chắc ai cũng có thể đoán được là người ta sẽ còn có thể tiếp tục làm những gì.
Một bằng chứng hùng hồn khác về giá trị của một hoạt động tập trung vào tín đồ là Hội Thánh tại Trung Quốc. “Hội Thánh bị xem là ‘một nhóm phản động’ và bị chính quyền đóng cửa. Nhưng dầu bị tan lạc, Hội Thánh vẫn họp lại thành từng nhóm nhỏ tại nhà riêng, vẫn tiếp tục yêu cầu các chính quyền địa phương và trung ướng trả nhà thờ lại cho họ. Cuối cùng, chính phủ đã quyết định rằng trả nhà thờ lại cho họ còn tốt hơn là duy trì cái nguy cơ có thể làm tăng thêm ‘các Hội Thánh bất hợp pháp tổ chức lén lút tại gia’”.
Bạn có thể bắt giam các mục sư, là những người thường bị nhận ra ngay trong thời kỳ Hội Thánh bị bắt bớ, nhưng không ai có thể bắt nhốt tất cả các cá nhân tín đồ Đấng Christ, hay ngăn cấm họ chuyện trò với người khác. Chính các Hội Thánh loại đó đã tồn tại sau những cơn bắt bớ khủng khiếp của đế quốc La Mã, và chúng tôi đã không hề nhấn mạnh quá đáng tầm quan trọng của việc mỗi tín đồ cần làm việc và làm chứng về Chúa ngay tại chỗ mình đã được kêu gọi.
3. Một số người phải đổi nghề khi đã tin Chúa
Dầu Ly-đi và người đề lao có thể tiếp tục hành nghề tuỳ theo sự kêu gọi họ, người thứ ba đã tin Chúa tại Phi-líp vì dường như bà thật là người thứ ba (Cong Cv 16:1-40) phải đổi nghề của mình. Nàng là một “đầy tớ của Phi-tôn” gần như là một nữ tư tế cho thần Delphi bị quỉ bói toán ám, và những người chủ của nàng đã lạm dụng nàng để trục lợi. Khi Phao-lô đã đuổi quỉ cho nàng thì “các chủ nàng thấy mình chẳng còn trông được lợi lộc nữa” nên gây náo loạn khiến các sứ đồ bị hạ ngục rồi sau đó người đề lao và cả gia đình đã tin Chúa. Rõ ràng là cô gái ấy không thể nào tiếp tục nghề của mình. Điều đó chắc cũng xảy ra cho Cơ-rít-bu, vốn là một người cai nhà hội Do Thái tại Cô-rinh-tô, và Sốt-then, người tiếp tục công việc của ông, mà nếu thật ông ta chính là người có tên trong thơ tín Phao-lô viết cho Hội Thánh tại đó, thì cũng là một người đã tin Chúa. Họ có thể làm một nghề khác chớ không thể nào tiếp tục làm chức viên của nhà hội sau khi đã trở thành tín đồ Đấng Christ. Điều đó dường như cũng được nghiệm đúng cho số “rất nhiều thầy tế lễ” đã tin Chúa (Cong Cv 6:7). Tính chất của nghề nghiệp họ đòi hỏi họ phải đổi nghề một khi đã tin Chúa.
“Kẻ trộm cắp chớ trộm cắp nữa”, có lẽ là một trường hợp cực đoan trong đó đương sự cần phải đổi nghề, nhưng còn nhắc nhở cho chúng ta là có nhiều nghề bị cấm đoán đối với tín đồ Đấng Christ. Có một số nghề không phải mang tiếng là xấu lắm hay bị kết án là bất nhân, trái lại còn được xem là đáng kính trọng hay có thể được lợi lộc nhiều, nhưng đó là những nghề không sản xuất được gì cả và lợi lộc kiếm được chỉ do lòng tham lam hay sự ngu dại của đồng loại mình mà thôi.
4. Một số người có thể được kêu gọi dâng mình hoàn toàn
Chúng tôi xin nhấn mạnh lại một lần nữa rằng một khi đã trở thành tín đồ Đấng Christ, dầu tất cả chúng ta đều phải là những tín đồ dâng trọn mình với tất cả thì giờ cho Chúa, tất cả chúng ta phải hết lòng tham gia việc phổ biến Tin Lành, thì điều đó không có nghĩa là chúng ta phải nghĩ rằng sự hết lòng đó bắt buộc phải đưa đến việc bỏ hết mọi phương tiện sinh nhai để bước vào chức vụ hầu việc Chúa, hay là sự kêu gọi vào chức vụ đó đáng phải được coi trọng hơn mọi sự kêu gọi khác.
Trước cuộc cải chánh người ta tưởng rằng “đời sống đạo đức” đòi hỏi con người phải hoàn toàn lìa bỏ thế gian tội lỗi; chỉ có “người dâng mình trọn vẹn” mới thực sự sống được cuộc đời đẹp lòng Đức Chúa Trời. Và ngay trong những ngày sáng sủa hiện tại, các bạn vẫn còn nghe các chương trình phát thanh của Giáo hội La Mã đề cao đời sống độc thân, xem đó là cao quí hơn cuộc sống lứa đôi, và tán thành việc những người đã lập gia đình quên đi người bạn đời của họ để phục vụ Chúa trong các tu viện. Cuộc cải chánh đã đặt nền tảng cho giáo lý về sự kêu gọi một chức vụ tư tế cho toàn thể tín hữu. Sự thánh khiết không phải chỉ có thể biểu lộ trong việc kết hôn; không phải chỉ được bày tỏ trong sự nghèo thiếu, mà trong việc sản xuất nữa; không phải là bằng việc đi ăn xin mà bằng cách bố thí rời rộng; không phải là trốn tránh dục tình, nhưng là sử dụng nó làm sao cho sáng danh Chúa; không phải do việc sống độc thân, biệt riêng để được thánh khiết, nhưng là một cuộc sống độc thân nếu đó là ý chỉ Đức Chúa Trời đối với chúng ta, một cuộc sống chung đụng với thế gian, chen vai thích cánh với hàng triệu người đang cần đến ta. Chúng ta không còn bị giới hạn trong phạm vi một giai cấp thánh khiết đặc biệt. Tất cả tín đồ Đấng Christ đều được kêu gọi để trở thành thánh đồ, và mọi người đều được Đức Chúa Trời kêu gọi trực tiếp vào một chức vụ.
Thật lạ lùng vì mặc dầu đã thụ hưởng được phần di sản đó của cuộc cải chánh, cả đến những tín đồ của Giáo Hội Cải Chánh vẫn còn bám víu vào cái tư tưởng là có một loại người phục vụ Chúa chuyên nghiệp đã được một sự kêu gọi cao quí hơn những người khác. Thật ra thì Đức Chúa Trời có dành sự kêu gọi đó cho một số người. Mọi người đều có thể được Chúa kêu gọi trở về với Ngài trong bất cứ giai đoạn nào của đời sống: lúc trẻ, lúc trưởng thành hay lúc đã già. Thật ra thì một người cũng có thể được kêu gọi về dâng trọn đời sống và thì giờ của mình cho Chúa bất cứ lúc nào. Có một số người được kêu gọi lúc đời sống họ đã về chiều, như Ma-thi-ơ được kêu gọi tại sở thâu thuế, và sau đó, còn có bạn ông là Xa-chê, dường như là một thanh tra chánh sở thâu thuế, hay một số nhiều các môn đệ khác vốn là ngư phủ. Một số khác nữa như Ti-mô-thê chẳng hạn, dường như đã được kêu gọi lúc hãy còn thật trẻ (16:1-13). Ông là thí dụ điển hình cho người đã được kêu gọi dâng mình trọn vẹn lúc hãy còn thanh xuân, trước khi bước theo một tiếng gọi nào khác của nghề nghiệp.
Tuy nhiên, một điều thú vị đáng chú ý là nói chung thì trong thời Tân Ước, chính những người cao tuổi đã được chỉ định lãnh đạo các Hội Thánh địa phương, trong khi những người trẻ hơn mà chúng tôi vừa trưng thí dụ, dường như phải hoạt động trên đường trường, hay theo điều chúng ta suy nghĩ ngày nay, là chức vụ giáo sĩ, truyền giáo. Ngày nay thì dường như cán cân lại chổng ngược. Thật ra thì những người được giao phó nhiệm vụ tại các Hội Thánh địa phương, dầu là có cấp bằng đại học, chỉ là những người rất ít từng trải ngoài cuộc đời sinh viên của họ. Điều này dường như hoàn toàn tương phản với mẫu mực của Tân Ước (xin xem ITi1Tm 3:1-13, là phần mô tả phẩm cách của các nhà lãnh đạo địa phương), vốn ít nhấn mạnh đến phần huấn luyện đại học hơn là đặt nền tảng trên những người đã có gia đình, biết quản trị nhà mình, và đã tự mình tạo được tiếng tốt trong xã hội.
Tuy nhiên, sự thiếu từng trải của người non trẻ đặc biệt kia trong việc quản lý các Hội Thánh địa phương đã càng ngày càng được nhiều người nhìn nhận hơn, và trong nhiều xứ, dường như số người lớn tuổi, từng trải hơn bước vào chức vụ hầu việc Chúa bằng tất cả thì giờ của mình cũng gia tăng. Khuynh hướng đó đáng được hoan nghênh như một sự kiện chứng tỏ chúng ta đã trở về với Kinh Thánh từ một vị trí vốn do ảnh hưởng của một viễn tượng xuất phát từ thời tiền Cải chánh gây ra, cũng là một khuynh hướng theo đó thì những người trung niên mới thực sự hi sinh lợi lộc và cuộc sống đầy đủ tiện nghi để chấp nhận việc phục vụ Chúa. Như thế, nếu chúng ta chưa được kêu gọi vào chức vụ trong lứa tuổi đôi mươi, có lẽ chúng ta sẽ được gọi khi được ba mươi, hay lý tưởng hơn nữa là khi đã được bốn mươi hay năm mươi tuổi. Chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc đó chưa?
Chúng ta đã suy nghĩ về vấn đề đó chưa?
Sau khi đã nói hết những điều kể trên, thiết tưởng cũng cần phải có những người dành trọn thì giờ để phục vụ cả cho các thanh niên lẫn cho người lớn tuổi. Thật ra, vấn đề không phải là sự tình nguyện: một số người thiếu khả năng cũng có thể tình nguyện vào chức vụ đó như tất cả chúng ta đều biết, dẫu may thay, đa số bất thích ứng đó đều lần lần bị loại. Chúng ta luôn luôn hơi nghi ngờ đối với một số những người tình nguyện, và có lẽ nếu chúng ta thuộc số người tình nguyện đó, thì phải chăng chúng ta làm vậy chỉ vì mình không đủ khả năng để làm một việc gì khác hơn? Một sự thật đáng buồn, ấy là ở nhiều nơi trên thế giới, đa số các ứng viên trẻ tuổi vào chức vụ mục sư, truyền đạo tại các trường cao đẳng thần học là những học sinh trong các trường đạo đã không thi nổi vào trung học hay đại học. Chính những người thất bại tại các trường đạo bị thúc đẩy vào chức vụ. Điều đó cũng cho ta thấy rằng có một số người thành công ở đại học sẵn sàng quên đi các lợi thế về phương diện tài chánh mà xã hội dành cho phần căn bản giáo dục của họ, nhưng không chịu bước vào chức vụ. Và như thế, chúng ta lâm vào cái thảm trạng là số người hầu việc Chúa chuyên nghiệp đều có trình độ trí thức thấp kém, trong khi những người đáng ra đã dấn thân vào chức vụ lại không được chuẩn bị dâng mình, và chỉ còn có cách là đứng bên ngoài để chỉ trích những khuyết điểm mà ai cũng phải nhận. Tất cả những điều đó đã chứng minh cho sự đổ vỡ mà chúng ta gọi là phương pháp tình nguyện. Kinh Thánh chẳng bao giờ gợi ý về phương pháp ấy.
Mẫu mực mà Kinh Thánh đề nghị dường như là những khả năng và biệt tài của người đã tận dụng chúng bằng cách này hay cách khác trong Hội Thánh, và gợi ý rằng chính những khả năng và biệt tài cần thiết được mọi người công nhận đó sẽ đưa họ đến chức vụ lãnh đạo Hội Thánh. Người đó có thể đã cao tuổi, đã thành công rực rỡ trong nghề nghiệp của mình, nếu có địa vị khá trong xã hội nói chung thì càng tốt. Càng nghiên cứu kỹ sách Công Vụ, chúng ta sẽ thấy là không có một bằng cớ hiển nhiên nào bênh vực cho hệ thống tình nguyện: những người hầu việc Chúa đều được tuyển chọn và sai phái đi. Như Phi-e-rơ và Giăng đã được sai đến Sa-ma-ri (8:14), Ba-na-ba được Hội Thánh Giê-ru-sa-lem phái đến An-ti-ốt (11:22). Ba-na-ba đến tìm Phao-lô rồi đưa ông đến hầu việc Chúa tại An-ti-ốt (11:26), sau khi tất cả các cấp lãnh đạo của Hội Thánh mới mẻ này họp lại cầu nguyện và cầu hỏi ý Chúa, thì hai người đó được phái đi với tư cách giáo sĩ (13:1-4). Sau đó Phao-lô và Ba-na-ba lại được Hội Thánh An-ti-ốt gởi đến Giê-ru-sa-lem với một số người khác (15:2), để rồi Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem lại sai Giu-đa, Ba-na-ba và Si-la đến An-ti-ốt (15:22). Sau đó chúng ta lại đọc thấy là “Phao-lô chọn Si-la” (15:40) và “Phao-lô lại muốn cho Ti-mô-thê đi với mình” (16:3). Điều nổi bật trong tất cả các trường hợp vừa kể ấy là dầu lẽ nhiên một người phải tin chắc ý chỉ của Chúa liên hệ đến chính mình, điểm đó chẳng bao giờ là yếu tố duy nhất khiến những người ấy ra đi dâng trọn thì giờ cho chức vụ hầu việc Chúa. Phần chủ động luôn luôn do một số đông người khác, và một người phải được các anh em trong chính Hội Thánh mình tuyển chọn, hay ít ra cũng được họ gởi gắm và được một người nào đó đã từng dấn thân vào chức vụ và hoạt động đắc lực tuyển chọn.
Một sự diễn tiến như thế đòi hỏi các tín đồ Đấng Christ phải ý thức thật sự trách nhiệm của mình. Nó không phải chỉ là vấn đề Tôi có thể làm gì (vì tự nó có thể bộc lộ một thứ cá nhân chủ nghĩa ấu trĩ, vô trách nhiệm), nhưng vấn đề là chúng ta có thể làm gì? William Carey vốn có một niềm tin sâu xa vào việc phải rao giảng Tin lành cho người ngoại đạo nhưng ông còn sốt sắng hơn trong việc đưa anh em cùng đi với mình. Nói khác đi, điều cần thiết là phải ý thức sâu xa hơn về một trách nhiệm tập thể, phải có sự quyết định chung của một nhóm tín đồ, về khi nào thì một cá nhân giữa vòng họ được gọi dâng trọn thì giờ cho chức vụ. Lối tiến dẫn này giải quyết một phần lớn vấn đề hậu thuẫn bằng sự cầu nguyện và tiếp trợ về tài chánh. Nếu một người đã được sai phái để dâng trọn vẹn thì giờ cho công tác bởi vì toàn thể các bạn tín đồ đều nhất trí tin rằng đó là ý Chúa, thì tự nhiên họ sẽ cảm thấy mình cần phải hậu thuẫn người ấy bằng sự cầu nguyện và cung cấp cho người ấy những nhu cầu vật chất.
Nhan đề của phần này là “Chúng ta đã suy nghĩ về vấn đề đó chưa?” được viết theo số nhiều chính vì lý do quan trọng đó; nghĩa là một quyết định về một người nam hay nữ có thích hợp cho việc dâng trọn thì giờ vào công tác phục vụ Chúa phải là quyết định của một số đông tín đồ Đấng Christ dưới hình thức một nhóm người đang cầu nguyện. Theo một phương diện thì khi làm việc đó, chúng ta đã quay về với nguyên tắc đại gia đình, vốn là một nguyên tắc vẫn còn được áp dụng theo một mức độ nào đó đối với nghề nghiệp của một người, cũng như với việc kết hôn tại một vài xứ. Như thế, việc làm đó rất thích hợp cho gia đình mới, tức là cho Hội Thánh địa phương, bởi vì tất cả đều ý thức về một trách nhiệm liên đới. Điều chúng ta có cần không phải là một lô những cá nhân thừa thãi, hăng hái rất “lửa rơm”, muốn phục vụ Chúa, nhưng là toàn thể Hội Thánh thiết tha muốn hiệp một để phục vụ Ngài. Người hầu việc Chúa trong Hội Thánh có trách nhiệm rất lớn lao, chẳng những trong việc khích lệ mỗi cá nhân trong Hội Thánh tham gia hoạt động (thay vì tự xem mình là nguồn gốc của mọi hoạt động), mà cũng cần khích lệ Hội Thánh hiệp một toàn đội để đi ra cùng khắp khu vực của mình và bất cứ nơi nào có thể gây ảnh hưởng.
Cùng một nguyên tắc ấy cũng nghiệm đúng cho việc Liên Hiệp Tín Hữu. Chúng ta thường gặp một mối nguy là chỉ có ban trị sự được bầu lên cảm thấy mình có trách nhiệm, trong khi số còn lại chỉ cần nhóm họp trong các buổi nhóm được tổ chức và nghĩ rằng những buổi họp đó hoàn toàn không liên hệ gì đến họ. Họ tự đặt mình làm khách bàng quan thụ động để chỉ trích, thay vì ý thức rằng mình cũng là một phần tử trong toàn đội, được mọi người trông đợi dự phần vào và đẩy mạnh công tác. Tài lãnh đạo không những được chứng minh bằng khả năng tổ chức công việc, mà hơn nữa, nó là khả năng động viên được tất cả mọi người có thể hoạt động để khiến họ tham gia vào công tác. Chính nhờ sự thông công chính yếu và sống động đó mà chúng ta có hi vọng số người sẽ được sai phái dâng trọn thì giờ phục vụ Chúa được gia tăng.
Nếu Chúa đã bày tỏ ý chỉ Ngài cho một người và anh em cũng đồng ý khuyến giục người ấy bước vào chức vụ, vấn đề còn lại là cá nhân đó phải chiến đấu để bỏ nghề nghiệp mình đã chọn và có lẽ là phải bỏ cả phần bảo đảm về tài chánh nữa, không những là trong tuổi thanh xuân mà thôi, nhưng còn phải chấp nhận cùng một tinh thần phiêu lưu y như vậy cho cả đời sống, ngay cả trong giai đoạn trung niên. Đó là một vấn đề chúng ta phải suy xét cho kỹ. Trong Tân Ước, những quyết định như thế vốn không có tính cách thuần tuý cá nhân, và thật ra thì phải có một lệnh truyền hợp thời nào đó cho một số người giữa vòng chúng ta. Dường như chắc chắn đó là loại vấn đề mà một Hội Thánh có sự sống thực sự phải đặt ra để cầu nguyện.
Cho đến đầu cùng đất
Tuy nhiên, phân tách nhiệm vụ chung đó của tín đồ Đấng Christ không phải là chấm dứt với các hoạt động địa phương được tập trung vào một ngôi nhà, tại đó có những buổi họp mặt để thờ phượng, hay việc mở rộng nhiều cách để đến từng nhà ở khắp nơi trong địa phận mà nhu cầu cấp bách luôn vẫn là đi ra để kiếm người khác và dẫn họ về với Chúa. Hoạt động truyền giáo dường như chỉ chiếm một chỗ rất khiêm nhượng trong các Hội Thánh trong nước. Lòng tin kính nói chung và sự chú tâm thực sự vào công việc Chúa dường như cũng chỉ căn cứ phần lớn vào thái độ của một số người trong việc họ rất sẵn sàng quyên trợ cho công tác truyền giáo.
Tại sao chúng ta cầu nguyện rằng “Nước Cha được đến, ý Cha được nên” mà không vâng theo những lệnh truyền như “Hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ ta…?” Thường thường công tác truyền giáo dường như chỉ gồm có việc chúng ta phải cầu nguyện cho những người mình chưa bao giờ gặp mặt và quyên tặng cho các đại diện của các hội truyền giáo, thay vì tự mình tham gia vào công tác đang được xúc tiến. Theo điều chúng tôi vừa cố gắng trình bày về phần trách nhiệm tập thể, phải chăng nó cũng có nghĩa là nếu chúng ta chấp nhận rằng lệnh truyền đem Tin Lành cho các dân cũng được dành cho chúng ta, thì tất cả chúng ta cũng phải hiệp chung nhau cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, chúng tôi có thể làm chi cho việc đó?” Có một, hai hoặc ba người hay hơn nữa giữa vòng chúng ta có khả năng thực hiện công tác đó hay không? Có người nào để chúng ta có thể sai đi không? Nếu Hội Thánh đã phái người đi thì không còn có vấn đề hậu thuẫn bằng lời cầu nguyện và sự tiếp trợ nữa. Những người đó đã ra đi với tư cách đại diện cho Hội Thánh. Công tác đó không phải là của chính cá nhân ấy, nhưng là của cả nhóm, và lẽ dĩ nhiên là họ phải cầu nguyện và cung cấp nhu cầu cho những người đó. Không phải chúng ta chỉ cần quyên tiền để sai họ đi rồi bỏ mặc họ muốn ra sao thì ra, nhưng phải thực sự vận động để cung ứng mọi nhu cầu để họ có thể sống tại đó. Dầu sao thì sở dĩ họ đến những nơi đó là vì cớ chúng ta, chúng ta sai họ đi cho nên chúng ta có trách nhiệm, chúng ta có liên quan đến vấn đề sống chết của họ.
Tấn thảm kịch vẫn thường xảy ra ấy chỉ có một số ít người lưu tâm đến công cuộc truyền giáo, một số người “sốt sắng quá mấu” trong Hội Thánh, thường là những người cao tuổi, mới có thì giờ để tham gia những buổi họp mặt ngoại lệ, trong khi đáng lý ra đó là vấn đề mà tất cả mọi người đều phải lưu tâm. Chú ý đến công cuộc truyền giáo không phải chỉ là một loại công tác tầm thường ngoại lệ phụ thêm cho các hoạt động khác trong Hội Thánh. Chúng ta phải xem đó là một dấu hiệu cần thiết chứng tỏ mức độ trưởng thành và thánh khiết của người tín đồ Đấng Christ. Xin chỉ cho tôi một người tín đồ thực sự trưởng thành, chắc chắn rằng người đó phải tha thiết chú tâm đến công việc truyền giáo ở khắp nơi trên thế giới.
Còn có nhiều khu vực đang cần đến các nhà truyền gíao tiền phong. Một phần lớn của thế giới Hồi Giáo chưa được Tin Lành hoá. Tại Âu Châu cũng có những khu vực ngoại đạo lớn. Nhiều miền quê trên thế giới chưa có Tin Lành. Và ngày nay công cuộc đô thị hoá càng phát triển, thì các khu vực kỹ nghệ lớn càng cần được truyền đạo. Chẳng những việc truyền bá Tin Lành rất cần trên phương diện địa lý, mà các tầng lớp xã hội chưa được Tin Lành hoá cũng cần đến các chiến sĩ tiền phong; chúng ta rất cần nhiều người để hoạt động trong lãnh vực y tế, làm việc trong giới y tế, với các ngành chuyên môn, với quần chúng lao động. Dầu những người hầu việc Chúa như thế ra đi nhờ sự tiếp trợ tài chánh của Hội Thánh nhà hay tự túc nhờ khả năng hành nghề của chính họ, chúng ta cũng cần có các nhà truyền đạo, các giáo sư cho nhà truyền đạo và nhiều công tác khác song hành với các Hội Thánh hiện hữu trong toàn quốc, là những Hội Thánh thường thường vẫn còn yếu đuối và đang phải chiến đấu. Nếu chịu khó tra cứu sử ký Hội Thánh một chút, dường như chúng ta sẽ được chứng minh rằng, nếu công tác chứng đạo tỏ ra vững chắc và hữu hiệu cho một thế hệ nào đó, thì vì một lý do này hay một lý do khác, công tác ấy sẽ tỏ ra hết hữu hiệu, và xứ đó cần phải được Tin Lành hoá trở lại một cách toàn diện trong thế hệ tiếp theo đó. Đề cập đến vấn đề Tin Lành hoá thế giới trong thế hệ này là điều rất tốt, nhưng đối với thế hệ sau thì sao?
Đừng phung phí thì giờ nữa
“Xin Chúa nhận lấy đời sống tôi”. Còn đời sống của bạn thì sao? Bạn đã ý thức về mục đích và chiều hướng cho đời sống tín đồ Đấng Christ của mình, đã quyết định dùng nó để hầu việc Ngài chưa? Hay các bạn vẫn chưa có mục đích gì cả, vẫn còn làm phí thì giờ và nghĩ rằng người tín đồ Đấng Chrtist sống thế nào cũng được? Rất có thể làm bạn đang thật sự phung phí thì giờ bằng cách đến nhà thờ mỗi tuần, nhưng bạn đang làm gì cho Chúa và cho Nước Ngài? Chúng ta chỉ có một đời sống duy nhất này, có lẽ là đến tám mươi tuổi (hoặc sẽ không lâu đến thế). Chúng ta sẽ làm một cái gì cho Chúa, một công tác sẽ tồn tại đời đời, một cái gì sẽ còn mãi mãi chăng? Hay chúng ta chỉ làm phí thì giờ mà thôi?
Có một sinh viên kia đã từng chiếm giải danh dự về Toán học trong lớp và thêm vào đó còn có giải nhất về Cổ văn của trường Đại học. Tất cả dường như tiên báo là cậu ta sẽ thành công rực rỡ trong giới tri thức Đại học. Nhưng cậu tự chọn để được phong chức truyền đạo trong một Hội Thánh Tin Lành không mấy nổi tiếng. Tốt lắm, nhà truyền đạo của chúng ta có thể sẽ được đổi đến một giáo khu dễ chịu tại một bờ biển miền Nam, và một ngày kia, biết đâu sẽ chẳng chiếm được một địa vị Giám mục? Năm hai mươi bốn tuổi, chàng xin đi Ấn Độ, và phải mất một năm mới được đến đó. Chàng qua đời năm ba mươi mốt tuổi. Nhưng trước khi việc đó xảy ra, chàng đã dịch Tân Ước ra được ba thứ tiếng: Ấn Độ, A Rập, và Ba Tư. Chàng đã làm được một điều gì đó trong phần đời sống ngắn ngủi còn lại của mình trước khi trút hơi thở cuối cùng trong cái nóng như thiêu đốt của vùng sa mạc xứ Ba Tư. Chàng đã không làm phí thì giờ. Khi xuống tàu xuất ngoại chàng chỉ còn lại một phần tư đời sống - nhưng chàng đã dùng nó để làm được một điều nhất định
Hai ngày trước khi chàng qua đời, chân dung chàng đã được gởi về đến Cambridge - cách xa những mấy ngàn dặm - cho Hội Thánh trước đó chàng từng là truyền đạo và cho chủ toạ Hội Thánh ấy là Charles Simeon. Người ta mở ra và treo bức chân dung ấy lên. Đó là ảnh của Henry Martyn, Simeon bảo rằng dường như đôi mắt bức tranh vẫn nhìn mình và nói: “Đừng đùa cợt. Đừng đùa cợt ”. Bức tranh đó vẫn còn được treo trong một giảng đường, là nơi mỗi ngày các sinh viên đều đến để cầu nguyện xin Chúa nhận họ và dùng đời sống họ làm sáng danh Ngài. Và đôi mắt trong bức tranh ấy vẫn nhìn xuống họ, dường như vẫn còn nói: “Đừng đùa cợt ”. Hay nói cách khác là “Đừng phí thời giờ nữa”.
Những điểm gợi ý cầu nguyện và suy gẫm
Phải chăng đời sống tôi đã dâng cho Chúa, để Ngài sử dụng cách nào tuỳ ý?
Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để tiếp tục hành nghề hiện có , lợi dụng tất cả mọi cơ hội để phục vụ Ngài chưa ?
Tôi có chuẩn bị để nếu cần thì có thể bỏ nghề dầu là giữa tuổi trung niên, để phục vụ Hội Thánh Đấng Christ chăng?
Có việc gì tôi có thể làm , chẳng những là dâng trọn mình cho Chúa , nhưng còn khích lệ nhiều người khác trong Hội Thánh cũng làm y như vậy , và hiệp một để tận tình làm tất cả những gì mình có thể làm được cho Ngài chăng ?
Phải chăng công tác truyền giáo chỉ là chuyện hoang đường đối với tâm trí tôi, hay tôi đã đặt nó lên hàng đầu mọi điều tôi phải nghĩ đến, xem như một phần trách nhiệm cá nhân và đoàn thể mà tôi phải tham gia với tư cách tín đồ Đấng Christ?
Có loại tạp chí truyền giáo nào tôi cần đọc để mở rộng nhãn giới chăng ?
Tôi có từ chối họp lại với một nhóm cầu nguyện nào không?
Có lẽ tôi có thể cầu nguyện để nâng đỡ cho một giáo sĩ đặc biệt nào chăng ?
Tôi có đang phung phí thời giờ không? Nếu có bao giờ tôi mới chịu thôi?
Lạy Chúa xin chỉ dạy con điều con phải làm
và thêm sức để con làm trọn công tác ấy .





Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 06:52 PM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách