† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3674|Trả lời: 0

Công Tác - SỰ KÊU GỌI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 16-10-2011 08:18:27 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Công Tác Của Mục Sư
Tác giả: Eleaser E. Javier

SỰ KÊU GỌI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Công tác phục vụ là một sự kêu gọi thánh và độc nhất vô nhị. Điều này phản ánh lời nói của sứ đồ Phao lô gởi cho Hội thánh Êphêsô: ‘Ngài (Chúa Jesus Christ chúng ta)... cho một số người làm sứ đồ, một số làm tiên tri, một số làm nhà truyền giảng, và một số khác làm mục sư và giáo sư’ (Eph Ep 4:11). Mặc dù vị sứ đồ không nêu bật chữ vài (một số), chúng ta ghi nhận rằng công tác gây dựng dân sự của Đức Chúa Trời cho đến lúc họ đạt đến sự hiệp nhất trong đức tin và trở thành trưởng thành thuộc linh được giao cho một số người.
Hơn nữa, như chúng ta sẽ thấy, công tác phục vụ đòi hỏi sự kêu gọi. Thật vậy, chắc chắn phải có sự kêu gọi đặc biệt của Đức Chúa Trời thì một người mới có được phẩm chất đảm nhiệm công tác cao cã và xứng đáng này. Biết rõ sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, một người mới có thể trông đợi Đức Chúa Trời nâng đỡ mình trong mọi hoàn cảnh; nếu không có sự kêu gọi nầy một người khó lòng dấn thân vào công tác phục vụ. Vì sự kêu gọi rất quan trọng, nên bạn cần phải hiểu đầy đủ những gì nó đòi hỏi. Trong bài học này, bạn sẽ nghiên cứu những phạm vi khác nhau của chữ kêu gọi. Bạn cũng sẽ thấy rằng khi Đức Chúa Trời kêu gọi người nào đó dấn thân vào một công việc, thì Ngài cũng phú cho người ấy những khả năng cần thiết để hoàn thành công tác.
Khi bạn nghiên cứu bản chất của sự phục vụ, sự kêu gọi và những đặc tính cũng như sự ban cho mà Đức Thánh Linh cung ứng cho mục sư, tôi nguyện cầu bạn sẽ nhìn nhận cách mới về vinh dư ïvà đặc ân cao cả của sự kêu gọi đặc biệt vào chức vụ mà Đức Chúa Trời dành cho bạn. Và tôi cầu xin Chúa chobạn có thể bày tỏ lòng biết ơn trong quyết tâm phục vụ ở mức tốt nhất khi bạn hầu việc trong Danh của Ngài.
DÀN Ý BÀI HỌC.
Sự Kêu Gọi Hưởng Ơn Cứu Rỗi.
Sự Kêu Gọi Vào Công Tác Phục Vụ.
Sự Kêu Gọi Vào Chức Vụ Đặc Biệt.
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC.
Học xong bài này bạn phải có thể:
Nhận diện những hàm ý khác nhau của từ kêu gọi và những điều đó liên quan đến tín hữu Cơ Đốc như thế nào.
Trình bày những sự ban cho của Thánh Linh để trang bị cho sự phục vụ.
Đánh giá đầy đủ hơn về những trách nhiệm, cũng như những đặc ân dành cho bạn khi bạn được Đức Chúa Trời kêu gọi.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP.
1.Đọc phần giới thiệu về sách Giáo khoa tự học nầy (Viết tắt là SGK TH). Chú ý đặc biệt đến phần Đề cương Bài học và Cách Học. Phần nấy chứa đựng những chỉ dẫn quan trọng giúp bạn thành công trong môn học. Chú ý phần mục tiêu của bài học. Tất cả đều quan trọng, nhưng có lẽ một số điều sẽ nổi bật đối với bạn. Hãy ghi các điều đó vào sổ tay của bạn.
2.Nghiên cứu dàn ý bài học và những mục tiêu. Những điều đó sẽ giúp bạn nhận diện những gì mình phải cố gắng học khi nghiên cứu bài.
3.Đọc cẩn thận phần triển khai bài học trong tập sách tự học này. Nhớ đọc kỹ những phần Kinh Thánh tham chiếu, làm những bài tập và kiểm soát lại những câu trả lời của mình có đúng không.
4.Làm bài trắc nghiệm cá nhân ở cuối mỗi bài, và đối chiếu cẩn thận các câu trả lời của bạn với lời giải đáp được để trong Túi riêng dành cho học viên. Ôn lại những câu nào bạn trả lời chưa đúng.
NHỮNG CHỮ CĂN BẢN.
Hiểu rõ những chữ căn bản chúng tôi liệt kê ở phần đầu của mỗi bài học sẽ giúp bạn hiểu rõ bài hơn. Bạn hãy dò định nghĩa của những chữ căn bản này theo vần mẫu tự ABC được liệt kê ở phần Chú Giải Từ Ngữ ở sau SGK TH này. Nếu bạn nghi ngờ về ý nghĩa của bất kỳ chữ nào trên bảng liệt kê thì bạn có thể xem lại ngay bây giờ hoặc khi bạn gặp phần chữ ấy trong bài học.
Bản năng.
Đương thời.
Độc nhất vô nhị.
Mộ đạo.
Phân biệt.
Tôn cao.
TRIỂN KHAI BÀI HỌC.
SỰ KÊU GỌI HƯỞNG ƠN CỨU RỖI.
Mục tiêu 1: Giải thích ý nghĩa của sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi và những điều nào bao gồm ở trong đó.
Sự xúc động lớn nhất hay phép lạ mà bất cứ con người nào có thể kinh nghiệm trong cuộc sống nầy là trở nên con cái của Đức Chúa Trời. Được rời khỏi nước tối tăm để vào nước sáng láng kỳ diệu của Đức Chúa Trời vượt quá bất cứ niềm vui nào của con người. Đức Chúa Trời đang kêu gọi con người đến hưởng ơn cứu rỗi, vì Ngài không muốn người nào bị chết mất.
Để mục đích của Ngài được mọi người trên đất biết rõ, thì Ngài hành động qua con người - những con người đã đáp ứng lời mời gọi của Ngài để hưởng ơn cứu rỗi. Tất cả những ai đáp ứng sự kêu gọi đầu tiên của Ngài đều phải chịu trách nhiệm loan báo tin mừng. Tuy nhiên, một số trong những người này được Ngài biệt riêng làm công tác phục vụ đặc biệt, tức là sự kêu gọi bổ sung đặc biệt mà chúng ta thấy trong phần giới thiệu Bài học. Trong bài này, chúng ta sẽ khảo sát đầy đủ ý nghĩa sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, nhưng trong phần đầu quan trọng này chúng ta sẽ tập trung về sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi.
Tuy nhiên, trước hết, chúng ta cần nhấn mạnh tại sao ‘sự kêu gọi hưởng ơn cứu chuộc’ lại bao gồm trong loạt bài nói về sự phục vụ của Cơ Đốc nhân. Ngày nay ở trong vài tập thể, ‘sự phục vụ’ (hay chức vụ) chỉ được coi như một nghề khác. Theo ý nghĩa này một người chọn nghề ‘mục sư’ phải thông qua những sự chuẩn bị chính thức mà nghề nghiệp này đòi hỏi, và rồi người ấy tìm kiếm một giáo sở nào cần đến tài năng khéo léo của mình. Nhận thức của chúng tôi về sự phục vụ Cơ Đốc khác hẳn, chúng tôi nhìn nhận đó là một sự kêu gọi. Vì lý do đó, chúng tôi muốn bàn vấn đề này cách đặc biệt theo như điều ấy được bày tỏ trong Kinh thánh, vạch ra cách cẩn thận từ sự kêu gọi đầu tiên đến sự kêu gọi tối hậu vào chức vụ.
Ý NGHĨA CỦA TỪ KÊU GỌI.
Mục tiêu 2: Phân biệt những cách dùng của chữ kêu gọi.
Tự điển liệt kê một số ý nghĩa khác nhau của chữ kêu gọi. Nói chung, kêugọi có nghĩa là” yêu cầu, triệu tập vào một công tác, một hoạt động hay một chức vụ đặc biệt, ra lệnh phải đến, gặp nhau hay tụ họp lại”. Đây chỉ là vài ý nghĩa của nhiều cách dùng trong tự điển về chữ kêu gọi.
Trong Kinh Thánh Cựu Ưùơc và Tân ước cũng có một số cách dùng khác nhau về chữ kêu gọi. Về ý nghĩa chung, thì tự điển và Kinh Thánh đều có ý nghĩa gần giống nhau hơn. Ví dụ chữ gọi trong SaSt 3:9 và GiGa 10:3 có nghĩa là” gọi bằng tiếng nói”, trong khi ở DaDn 4:14 và Cong Cv 4:18, có nghĩa là” dùng uy quyền triệu đến”, Chúa Jêsus dùng chữ này trong Mat Mt 9:13 với nghĩa “ mời”. Kêu gọi (call) còn dược dùng để mô tả sự đặt tên cho một người như trong ISa1Sm 1:2 và Mat Mt 1:21 hay nói về việc chỉ định một người vào một cơ quan hay chức vụ cao trọng (HeDt 5:4).
(1) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu đúng.
a.Chữ kêu gọi có một ý nghĩa rộng lớn trong cả cách dùng chung chung cũng như trong Kinh Thánh.
b.Ý niệm về sự kêu gọi vào một công tác hành chánh hay chức vụ đặc biệt dường như nói về ý nghĩa của Kinh Thánh hơn là cách dùng thông thường.
c.Ý niệm về việc dùng uy quyền triệu tập ám chỉ đặc biệt về ý nghĩa chung hơn là cách dùng của Kinh Thánh.
BẢN CHẤT CỦA SỰ KÊU GỌI HƯỞNG ƠN CỨU RỖI.
Mục tiêu 3: Mô tả bản chất và phạm vi của sự kêu gọi để hưởng ơn cứu rỗi.
Sự kêu gọi để hưởng ơn cứu rỗi, trước hết là một sự công bố về kế hoạch cứu chuộc. Thứ hai, đó là sự công bố về nhu cầu ăn năn của tội nhân và tin nhận Chúa Jêsus Christ. Lời mời gọi này dành cho tất cả mọi người, không phân biệt đối xử với ai cả. Kinh thánh mô tả rõ ràng rằng” bất kỳ ai tin nơi Ngài...sẽ được sự sống vĩnh cửu (đời đời)” (GiGa 3:16).
Mạng lịnh” rao giảng tin mừng cho mọi người” chỉ về phạm vi và đối tượng của việc công bố Phúc Aâm (Mac Mc 16:15). Từ ngữ mọi quốc gia bao gồm tất cả; lời hiệu triệu này dành cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, quốc tịch, ngôn ngữ, địa vị xã hội hay kinh tế, hay bối cảnh giáo dục (Mat Mt 28:19-20).
Sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi mở rộng cho mọi người vì mọi người đều cần được cứu khỏi sự hình phạt tội lỗi. Trong RoRm 3:23-24 cho chúng ta biết rõ ràng là” mọi người đều đã phạm tội, hụt mất vinh quang của Đức Chúa Trời”; nhưng nhờ việc đáp ứng lời mời gọi của Đức Chúa Trời để hưởng ơn cứu rỗi thì mọi người” được xưng công nghĩa cách nhưng không do ân phúc của Ngài qua sự cứu chuộc đến từ Chúa Jêsus Christ”.
(2) Đọc GiGa 6:37, Cong Cv 2:21, ITi1Tm 2:4, IIPhi 2Pr 3:9 và trình bày những gì họ phải nói về bản chất của sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi.

(3) Đọc Mat Mt 11:28-30 cách kỹ lưỡng, rồi trình bày ai là người mời, người được mời là ai và mời đến để nhận điều gì.

ĐÁP ỨNG SỰ KÊU GỌI.
Mục tiêu 4: Giải thích những gì bao gồm trong sự đáp ứng hưởng ơn cứu rỗi.
Như chúng ta đã thấy, Đức Chúa Trời đã kêu gọi mọi người tiếp nhận món quà cứu rỗi Ngài ban, và lời mời này đòi hỏi một đáp ứng ! Đối với một người, món quà này không những ảnh hưởng trên cuộc sống hiện tại nhưng còn trên số mệnh vĩnh cửu của người ấy nữa. Trong khi Kinh Thánh cho chúng ta vô số ví dụ về việc người ta đã đáp ứng sứ điệp Tin Mừng, chúng tôi muốn nhấn mạnh về sự đáp ứng của người cai ngục thành Philíp.
Công vụ các sứ đồ đoạn 16 ghi lại sự giải cứu Phaolô và Sila ra khỏi nhà tù tại thành Philíp. Kinh thánh cho biết hai anh em đã bị đánh đập và bị giam giữ rất kỹ. Thay vì phiền nảo, họ đã cầu nguyện và hát Thánh ca ngợi khen Đức Chúa Trời. Thình lình một cơn động đất lớn rung chuyển ngục tù làm cho các tù nhân được cởi xích trói. Thấy những tù nhân ở dưới trách nhiệm của mình đưỡc tự do, ông ta quyết định tự tử. Nhưng Phaolô gọi lớn: “ Đừng làm hại mình ! Chúng ta đều còn đây cả” (c.28).
Sau khi chứng kiến sự can thiệp lạ lùng của Đức Chúa Trời, người đề lao ăn năn tội mình và hỏi phải làm gì để được cứu. Phaolô và Sila trả lời” Hãy tin Chúa Jêsus, thì anh sẽ được cứu - anh và cả người nhà của anh” (c.31). Người đề lao đã tin và anh cùng gia đình tràn ngập niềm vui cách xúc động và kiên định. Vì thế, sự đáp ứng tin cậy của người đề lao là yếu tố quyết định trong kinh nghiệm cứu rỗi của ông ta.
Phaolô giải thích sự đáp ứng tin cậy này đầy đủ hơn trong RoRm 10:9-10. Ở đây Phaolô ghi nhận rằng sự đáp ứng ấy bao gồm đức tin tức là sự nhìn nhận cách cá nhân về quyền chủ tể của Chúa Jêsus Christ. Như vậy, khi một người xác quyết rằng Jêsus là Chúa và xưng nhận điều ấy bằng môi miệng thì được cứu. Xưng bằng miệng và tin nơi lòng bày tỏ sự đáp ứng bên trong và bên ngoài của tín hữu. Sự tin quyết bên trong phải dược diễn đạt ra bên ngoài.
Khi một người xưng nhận Jêsus là Chúa, người ấy công bố thần tánh và sự tôn cao Đấng Christ. Hơn nữa người ấy công bố sự thật rằng mình thuộc về Đấng Christ. Đức tin của một người nơi sự phục sinh chứng tỏ người ấy biết rằng Đức ChúaTrời hành động và đắc thắng tại thập tự giá. Như vậy, khi một người xưng nhận Đấng Christ là Chúa, dựa vào sự tin quyết vững chắc nơi lòng mình, thì người ấy sẽ được cứu.
Sự tin cậy hay niềm tin của tín hữu là một hoạt động liên tục, và đó là bằng cớ của sự ngay thẳng (nghĩa là sự công bình dưới cái nhìn của Đức Chúa Trời). Sự xưng nhận là hành động đang tiến triển và kết quả từ sự được cứu rỗi của tín hữu, nghĩa là, sự tương giao của người ấy với Đức Chúa Trời. Xưng nhận Đấng Christ vừa là sự tuôn tràn tự nhiên từ đời sống mới thuộc linh vừa là kết quả hợp lý của một người trong mối thông công tươi mới với Đấng Christ. Xưng nhận Đấng Christ nghĩa là chia sẻ sự cứu rỗi kỳ diệu của Ngài, đó là một trong những đặc điểm chính yếu của các tân tín hữu. Và đó cũng là một khía cạnh của đời sống thuộc linh không bao giờ giảm bớt. Tin cậy và xưng nhận là những đặc tính cố định, suốt cả đời sống của tín hữu vốn phát xuất từ sự tin quyết của họ.
Sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời trao tặng cho mọi người trở thành thực tế khi cá nhân nào ăn năn tội lỗi của mình, tin cậy nơi Đức Chúa Jêsus Christ và tiếp nhận Jêsus Christ làm Cứu Chúa của cá nhân mình.
Tôi nhớ lại kinh nghiệm được cứu của mình. Tôi lớn lên trong một gia đình rất khắc khe và rất năng động ở nhà thờ. Ngay cả tôi không biết tí nào về sự cứu rỗi của cá nhân mình nơi Đấng Christ. Trong năm cuối cùng của bậc Trung học, Hội thánh tôi sinh hoạt đồng ý góp phần vào một chiến dịch truyền giảng lộ thiên. Chiến dịch này kéo dài 30 đêm. Vì đến thành phố lớn thì thật là vui, nên tôi đồng ý đi theo. Có rất nhiều thức ăn để mua vàø thật là tuyệt khi được nghỉ ngơi với bạn bè trên bãi cỏ ngoài trời nơi tổ chức chiến dịch.
Tuy nhiên, một đêm nọ xảy ra khúc quanh của cuộc đời. Tôi ở trong một chiếc xe buýt đậu gần bục giảng. Cùng với vài người bạn, tôi ngồi nghỉ ngơi và cố gắng nghe một ít những gì nhà truyền giảng chia sẻ. Dù sự chú ý của tôi được khơi gợi bởi phép lạ Đức Chúa Trời thực hiện trong một đêm trên đời sống của một minh tinh màn bạc nổi tiếng, tôi vốn có sự mộ đạo làm tôi cảm thấy bình an. Nghĩa là, tôi vẫn thấy bình an cho đến khi nhà truyền giảng hỏi một câu khẳng định,” Nếu đêm nay bạn chết đi, bạn sẽ sống cõi đời đời tại đâu ?”. Câu hỏi này quấy động lòng tôi đến nỗi tôi khó có thể cử động được. Bất chấp bạn bè và những người quen ở trên xe buýt. Khi có lời mời gọi tiếp nhận Đấng Christ tôi đáp ứng lời mời gọi ấy cùng với hàng trăm người khác, tôi đã mời Đấng Christ vào đời sống mình, làm Cứu Chúa của cá nhân mình. Tôi đáp ứng lời mời của Đức Chúa Trời để hưởng ơn cứu rỗi.
Sự đáp ứng lời mời để hưởng ơn cứu rỗi rất quan trọng. Nó mở cửa cho đời sống thuộc linh và phục vụ. Mặc dù đa số chúng ta không có kinh nghiệm được cứu cách xúc động như Phaolô (Cong Cv 9:1-48) nhưng chúng ta đều có một khúc quanh đễ tiếp nhận Jêsus Christ. Đáp ứng cách cá nhân và tích cực, chúng ta được đi vào mối thông công mới lạ và kỳ diệu với Đức Chúa Trời. Sự đáp ứng này mở cửa để bước vào cuộc sống phong phú, nhưng đồng thời nó cũng đòi hỏi những trách nhiệm quan trọng.
Học tập kỹ càng sự đáp ứng của tín hữu Hội thánh đầu tiên chúng ta thấy rằng họ nói, giảng, dạy, và chia sẻ kinh nghiệm cứu rỗi của họ ở khắp mọi nơi họ đi. Họ chẳng bao giờ ngưng việc xưng nhận Jêsus là Chúa, vì thế Hội thánh lớn lên cách lạ thường như điều Đức Chúa Trời dự kiến. Trong khi thời gian đổi thay, ý định của Đức Chúa Trời vẫn y nguyên: mọi người trên thế giới cần biết sự cứu rỗi của Ngài và họ phải học tập qua sự làm chứng của nhiều người.
(4) Trong kinh nghiệm cứu rỗi của Liđi trong 16:14-15, người đề lao thành Philíp ở 16:30-34 và Cơrítbu trong 18:8 có điểm chung nào ?
(5) Giải thích ngắn gọn những gì bao gồm trong lời mời gọi hưởng ơn cứu rỗi.
SỰ KÊU GỌI VÀO CÔNG TÁC PHỤC VỤ.
Mục tiêu 5: Nhận diện những lời diễn đạt giải thích tại sao tín hữu được trang bị để phục vụ.
Như chúng ta đã thấy, sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi còn liên quan đến những gì khác hơn việc được cứu khỏi sự đoán phạt của tội lỗi. Mặc dù được cứu khỏi tội lỗi là một kinh nghiệm phi thường, đó mới khởi đầu cho một mối quan hệ thuộc linh. Cứu Chúa chúng ta so sánh mối quan hẹä này với mối quan hệ hiện hữu giữa gốc nho và cành nho (GiGa 15:1-8). Từ lúc Chúa Jêsus trở thành Cứu Chúa của chúng ta khi chúng ta được cứu, chúng ta trở nên tôi tớ của Ngài và chúng ta noi theo thái độ và hành động của Ngài.Ngài chấp nhận thái độ và công tác của sự phục vụ, và đó là vai trò mà Ngài kêu gọi chúng ta (So sánh 13:1-16 với Phi Pl 2:5-11). Ngài cũng kêu gọi chúng ta vào một chức vụ giải hòa, chức vụ chia sẻ kinh nghiệm cứu rỗi của chúng ta với những người chưa tin (IICo 2Cr 5:17-18). Để giúp chúng ta phục vụ cách hiệu quả, Ngài ban cho chúng ta một số khả năng như sau.
SỰ BAN CHO ĐỂ PHỤC VỤ.
Trong khi Chúa Jêsus so sánh mối quan hệ của Ngài với tín hữu giống như mối quan hệ giữa gốc nho và cành nho, thì sứ đồ Phaolô so sánh mối quan hệ này như của thân thể con người đối với cái đầu (ICo1Cr 12:12-28). Trong thân thể, mỗi bộ phận đều có một chức năng. Từ phần lớn nhất cho đến nhỏ nhất, thấy được hoặc không thấy được, mỗi phần đều có một chức năng riêng biệt nhưng lại liên quan mật thiết với nhau. Kinh thánh thiết lập rõ ràng nguyên tắc mỗi tín hữu là một chi thể - một phần - của thân thể Đấng Christ và như vậy có một chức năng hay công tác trong mối quan hệ với Đấng Christ là Đầu (IPhi 1Pr 4:10). Điều này có nghĩa là để đáp lại mỗi Cơ Đốc Nhân có một công tác phục vụ, và qua thân thể của Đấng Christ (ICo1Cr 12:7), công tác ấy bắt đầu khi người ấy trở thành chi thể của thân.
Đức Chúa Trời hết sức quan tâm đến những lợi ích nhất của thân thể, vì vậy Ngài ban những ân tứ phục vụ cho mỗi người (12:7, 11). Điều nhấn mạnh của phân đoạn Kinh Thánh này là có những ân tứ khác nhau và mọi người không cùng có một ân tứ hay những ân tứ giống nhau. Đúng hơn là Đức Thánh Linh ban những ân tứ này cho mỗi người tùy theo ý muốn tối thượng của Ngài, nghĩa là theo điều Ngài quyết định. Như vậy, mỗi người sử dụng bất cứ ân tứ nào mình nhận được để phục vụ kẻ khác, người ấy sử dụng ân phúc của Đức Chúa Trời trong những hình thức khác nhau (IPhi 1Pr 4:10) và toàn thể nhu cầu của thân thể được đáp ứng.
Phaolô mô tả sự hài hòa của những chi thể trong thân thể của các tín hữu Êphêsô như sau:
Phải dùng tình thương nói ra lẽ thật để trong mọi sự chúng ta đều được lớn lên trong Đấng làm đầu tức là Đấng Christ, nhờ Ngài mà cả thân thể đều kết cấu liên lạc bởi sự tương trợ của các lắc léo, tùy theo công dụng đã ban cho từng phần, khiến thân thể lớn lên và tự gây dựng trong sự thương yêu.
Eph Ep 4:15-16.
Một cách đặc biệt, công tác mà sứ đồ Phaolô nói đến là gì ?. Trong RoRm 12:3-8, ông đề cập đến ơn tiên tri, phục vụ, dạy dỗ, khuyên bảo, dâng hiến, lãnh đạo, và bày tỏ sự thương xót. Đức Chúa Trời ban những ân tứ này cho những chi thể của thân thể Đấng Christ tùy vào ân phúc của Ngài. Những ân tứ ấy không dành cho vinh quang hay sự tôn trọng cá nhân nào, nhưng dành cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời vì chúng góp phần vào sức khỏe, sự phát triển và trưởng thành của thân thể. Ở ICo1Cr 12:28, Phaolô mô tả các ân tứ khác mà Đức Chúa Trời ban cho tín hữu, trong số đó có những người sử dụng ơn chữa bịnh, làm phép lạ, giúp đỡ những người khác, quản trị và nói các ngôn ngữ khác.
Lướt nhanh qua những ân tứ được đề cập trong RoRm 12:1-21 và ICo1Cr 12:1-31, chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến sự phát triển thuộc linh của tín hữu, vì vậy, có một thiên hướng thuộc linh mạnh mẽ đối với những ân tứ này vốn là phần quan trọng sống động đối với tân tín hữu, là con đỏ trong Đấng Christ. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy rằng có một số ân tứ trong bản chất rất thực tiễn. Chúng tôi muốn nói cách đơn giản là những ân tứ ấy không bị hạn chế trong nội dung hình thức những buổi nhóm của Hội Thánh. Đúng hơn, những điều ấy phải được thể hiện vào cuộc sống hàng ngày. Giúp đỡ, khích lệ, cung cấp những nhu cầu cho người khác, có lòng thương xót, và phục vụ người khác phải là đặc tính của đời sống tín hữu sống mỗi ngày trong thế giới đầy dẫy nhu cầu và đau đớn này. Những ân tứ thực tiễn này bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời đối với con người, và những điều đó nói lên bằng cớ về sự sống động của kinh nghiệm Cơ Đốc Nhân .
Minh họa: Hình hai tín hữu tặng một cặp gà cho một gia đình 1 mẹ 5 con nghèo khổ.
Tóm lại của những gì chúng ta đã thảo luận là sự kêu gọi tín hữu hưởng ơn cứu rỗi có liên quan đến sự kêu gọi vào công tác phục vụ. Mối liên quan này sống động đối với sức khỏe của thân thể Đấng Christ, vừa cho sự tăng trưởng và phát triển bên trong và cả sự làm chứng bên ngoài. Như vậy, sự phục vụ không phải tùy lúc hay không bắt buộc, mà đó là phần sống động của sức sống mới của tín hữu ở trong thân thể Đấng Christ .
Trong RoRm 12:1 chữ được dịch là” sự thờ phượng thuộc linh” (Spiritual Worship - NIV) cũng có thể được dịch là” sự phục vụ” (Service - KJV). Nội dung câu ấy gợi ý rằng sự phục vụ ám chỉ ở đây được đặt trên nền tảng tình yêu chân thật của tín hữu đối với Đức Chúa Trời để đáp lại tất cả những gì Ngài đã làm cho người ấy. Sự thờ phượng thuộc linh có ý nghĩa rộng rãi hơn việc các tín hữu đến với nhau vào ngày Chủ nhật. Nó chỉ về sự phục vụ toàn bộ được thúc đẩy bởi tình yêu và thể hiện cách tốt nhất khi một người dâng thì giờ, tài năng và sức lực để phục vụ Đức Chúa Trời . Hơn nữa sự thờ phượng thuộc linh này hay sự phục vụ trở thành một phẩm tính của tất cả tín hữu, nó không hạn chế cho những người được biệt riêng bằng sự kêu gọi đặc biệt hơn cho công tác phục vụ trong thân thể của Đấng Christ .
(6) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu ĐÚNG.
a. Những tín hữu chỉ nhận được những ân tứ thuộc linh khi họ trưởng thành về phương diện thuộc linh .
b. Những ân tứ thuộc linh là những phương tiện qua đó Đức Chúa Trời cung cấp ân phúc của Ngài cho thân thể của Đấng Christ .
c. Những ân tứ vận hành trong thân thể của Đấng Christ nhấn mạnh vào những nhu cầu thuộc linh hơn là những nhu cầu thực tế.
d. Vì từ ngữ ân tứ thuộc linh được dùng để ám chỉ sự ban cho của Đức Chúa Trời trên những tín hữu trưởng thành về thuộc linh, nên những người chưa tin không hưởng lợi ích gì từ sự ban cho này.
e. Sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi cũng là sự kêu gọi vào công tác phục vụ, nói lên mối liên hệ của một người với Đấng Christ và đáp ứng những nhu cầu của thân thể Ngài .
f. Sự thờ phượng thuộc linh hay sự phục vụ không hạn chế vào thì giờ của sự thờ phượng chính thức, cũng không phải là việc làm tùy hứng hay không bắt buộc.
SỰ KÊU GỌI VÀO CHỨC VỤ ĐẶC BIỆT.
Mục tiêu 6: Từ những ví dụ về những loại kêu gọi khác nhau, hãy nhận diện những ví dụ nào liên quan đến chức vụ đặc biệt.
Từ trong Kinh Thánh chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi tín hữu một ân tứ cá biệt để giúp cho người ấy phục vụ có hiệu quả trong thân thể Đấng Christ . Và chúng ta đã thấy rằng tất cả tín hữu được kêu gọi để phục vụ trong thân thể của Đấng Christ, sử dụng những ân tứ khác nhau của họ để làm lợi cho thân thể. Bây giờ chúng ta sẽ chú ý vào một số người được kêu gọi để phục vụ cho cơ thể trong những khả năng đặc biệt (Eph Ep 4:11). Và chúng ta sẽ thấy rằng mặc dù tất cả Cơ đốc nhân được kêu gọi để phục vụ, nhưng không phải tất cả đều được kêu gọi vào công tác mục sư.
MỘT SỐ NGƯỜI ĐƯỢC ĐỂ RIÊNG
Theo Eph Ep 4:7-16.
Ở phần giới thiệu của bài này, chúng ta ôn lại bức thư của Phaolô gửi cho Hội thánh tại Êphêsô. Trong Đoạn 4 của bức thư ấy, chúng ta thấy một số tín hữu được để riêng cho công tác đặc biệt (c.11). Họ là những sự ban cho của Đức Chúa Trời cho thân thể để giúp thân thể phát triển cách lành mạnh và trưởng thành, bày tỏ sự hiệp nhất và giống Đấng Christ thật sự (xem 4:7-16).
Vì sự chống đối của Satan có thật và con đỏ thuộc linh gặp phải những nan đề trong việc tăng trưởng, nên sứ đồ nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kêu gọi một số người đặc biệt phục vụ trong chức năng của những sứ đồ, những tiên tri, những người truyền giảng, những mục sư, và giáo sư. Những người được kêu gọi đặc biệt này phục vụ cho việc phổ biến Phúc âm, truyền đạt những khải tượng thiên thượng, động viên tín hữu hoạt động, nuôi dưỡng đức tin của những người đáp ứng sứ điệp Phúc âm, và phát triển sự dạy dỗ thuần chánh để gây dựng họ trong đức tin. Qua công tác của những người được kêu gọi đặc biệt này, thân thể hoạt động hài hòa và kết quả theo như Đức Chúa Trời dự định.
Trong Cong Cv 13:1-3, chúng ta thấy một trong những ví dụ tốt nhất về sự biệt riêng một số người. Hãy chú ý cẩn thận những điều sau:
1.Những người lãnh đạo Hội thánh tại Antiốt là một nhóm người pha trộn về dòng giống và xã hội (c.1), và họ nhất trí làm việc với nhau.
2.Những người lãnh đạo này phục vụ Chúa và sử dụng những ân tứ của họ.
3.Từ những con người đã phục vụ, Đức Thánh Linh khuyên bảo nhóm người ấy để riêng Phaolô và Banaba cho Ngài .
4.Đức Thánh Linh khởi đầu sự kêu gọi.
5.Những người lãnh đạo Hội thánh, nhìn nhận có quyền năng của Đức Chúa Trời trên hai anh em này, nên đặt tay trên họ và sai họ đi.
(7) Đọc 13:1-3; 16:1-10; ITi1Tm 4:14 và IITi 2Tm 1:6 và ghi chú vào những ô bên dưới công tác của mỗi người khi họ được biệt riêng, ai biệt riêng người ấy và người ấy làm gì sau khi được biệt riêng ra.
Tên
Việc làm trước khi
Ai biệt riêng người ấy
Việc làm sau khi được biệt riêng
a.Banaba
b.Phaolô
c.Timôthê
NHỮNG VÍ DỤ TRONG KINH THÁNH.
Kinh Thánh đưa ra nhiều ví dụ về những người được Đức Chúa Trời kêu gọi để làm những công tác đặc biệt. Các ví dụ trong Kinh Thánh chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời kêu gọi họ bằng nhiều cách khác nhau vào những công tác đặc biệt mà Ngài hoạch định cho họ. Trong mỗi trường hợp công tác của những người này đáp ứng những nhu cầu đặc biệt trong việc gây dựng, bảo vệ và dẫn dắt dân sự của Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta nghiên cứu những ví dụ về những con người mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi, thì chúng ta thấy một chân lý nổi bật: Đức Chúa Trời khởi đầu sự kêu gọi. Dù hoàn cảnh mỗi sự kêu gọi của mỗi người có thể khác nhau, nhưng bản thân sự kêu gọi rất rõ ràng. Khi Đức Chúa Trời kêu gọi một người vào một công tác nào đó, chữ kêu gọi có nghĩa là” bổ nhiệm vào một chức vụ” (to appoint to an office).
(8) Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê những phần Kinh Thánh bên dưới vào 1 cột. Bên phải cột nầy gạch thêm 3 cột nữa, cột thứ nhất ghi” Người được kêu gọi”, cột thứ hai” Đáp ứng sự kêu gọi”, cột thứ ba” Kết quả của sự kêu gọi”. Đọc mỗi phần Kinh Thánh tham chiếu và điền vào khoảng trống bên dưới những lời giải đáp phù hợp.
a.SaSt 12:1-8.
b.XuXh 3:1-22
c.31:1-11; 35:30-39, 43.
d.Dan Ds 27:15-23.
e.Cac Tl 6:1-24.
f.Mat Mt 4:18-22.
g.Mac Mc 2:13-17.
h.Cong Cv 9:1-31.
Ở Eph Ep 4:7 và những chỗ khác chúng ta thấy rằng Cứu Chúa chúng ta đã ban cho mỗi tín hữu một ân tứ, một khả năng để phục vụ trong thân thể của Đấng Christ. Và chúng ta cũng ghi nhận rằng một số tín hữu được chỉ định vào những chức vụ đặc biệt, trong số đó có 5 chức vụ được gọi tên trong 4:11. Khi chúng ta khảûo sát năm chức vụ này cách ngắn gọn, thì chúng ta sẽ thấy thế nào những người được kêu gọi vào những chức vụ này thi hành công tác của mình để giúp cho những tín hữu khác thực hành những công tác tương ứng của họ.
Những sứ đồ được nêu danh đầu tiên, và họ thường được nhận diện là những người thành lập Hội thánh ngay từ đầu. Họ rao giảng trước khi có một Hội thánh và dạy dỗ thêm cho những tín hữu trước khi họ chuyển sang công tác ở vùng đất mới. Những tiên tri là những người có tầm cở thuộc linh khác thường (unusual spiritual stature), họ nói ra những sứ điệp thiên thượng cho Hội thánh trong thời của họ, khi Tân ước chưa được viết, để hướng dẫn những tín hữu. Những nhà truyền giảng, người ta thường nghĩ là những cá nhân mang sứ điệp, Phúc âm rao ra bên ngoài Hội thánh, truyền giảng cho những người chưa được cứu, và tiếp tục công tác của những sứ đồ.
Giáo sư là những người có khả năng dạy dỗ người khác trong đức tin, nghĩa là, biết và tin về Đấng Christ phục sinh. Họ cũng có khả năng dạy bảo tín hữu về cách cư xử thích hợp cho những người tin theo Đấng Christ. Cuối cùng, từ ngữ mục sư chỉ về những cá nhân được trang bị cách đặc biệt để chăm sóc tín hữu trong cộng đồng Cơ Đốc hay cộng đồng tiếp cận với Cơ đốc nhân. Cộng đồng này bao gồm những người tò mò, tìm hiểu đạo, tân tín hữu, người yếu đuối, người thất vọng, người bị mất người thân, cô đơn và lầm đường lạc lối. Có người nhận xét rằng dù những giáo sư giúp đỡ bằng sự truyền đạt kiến thức, nhưng mục sư lại giúp đỡ người ta bằng sự động viên, bày tỏ lòng thương xót, lời khuyên khôn ngoan, và tình thân thiện. Vì vậy, công tác mục sư có thể được so sánh với sự chăm sóc mà người chăn dành cho bầy chiên của mình. Về sự kêu gọi cuối cùng, công tác của mục sư, chúng ta sẽ nghiên cứu ở phần cuối của bài học này.
(9) Xếp đặt cho phù hợp về sự kêu gọi (số) với sự mô tả thích hợp (chữ).
1) Kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi.
2) Kêu gọi vào công tác phục vụ.
3). Kêu gọi vào chức vụ đặc biệt.
...a. Liên quan đến hoạt động của một số người để giúp cho những người khác sử dụng ân tứ của họ hiệu quả hơn.
...b. Liên quan đến lời mời ngay từ đầu mà Đức Chúa Trời mở ra cho tất cả mọi người.
...c. Liên quan đến hoạt động mà tất cả những tín hữu được Đức Thánh Linh trang bị.
(10) Xếp đặt cho phù hợp mỗi công tác đặc biệt (số) với sự mô tả thích hợp (chữ).
1) Những sứ đồ
2) Những tiên tri
3) Những nhà truyền giảng
4) Những mục sư
5) Những giáo sư
....a. Những người được trang bị để ưu tiên chăm sóc cho mọi người ở trong cộng đồng Cơ đốc hay cộng đồng tiếp cận với Cơ đốc nhân .
....b. Những người có khả năng dạy dỗ tín hữu về nội dung của đức tin của họ và phẩm hạnh Cơ đốc nhân thích hợp.
....c. Những người được nhận diện la øngười thành lập Hội thánh ngay từ đầu.
....d. Những người có chủ đích rao giảng Phúc âm cho người chưa tin, một số người nghĩ rằng họ tiếp tục công tác của sứ đồ.
....e. Những người nói ra sứ điệp của Đức Chúa Trời cho Hội thánh trong thời đại của họ.
SỰ CHỈ ĐỊNH CHỨC VỤ MỤC SƯ (Pastoral Appointmet).
Thi Tv 23:1-6; GiGa 10:1-16; Cong Cv 20:17-35; IPhi 1Pr 5:1-4.
Mục tiêu 7: Nhận diện những phương cách mà sự kêu gọi của một người sẽ được bày tỏ trong sự phục vụ Cơ đốc.
Trong phần trước chúng ta đã thấy sự mô tả chung về những bổn phận của mục sư. Tại đấy chúng ta ghi nhận vài bổn phận quan trọng mà mục sư phải thực hiện. Trong quan điểm của Đức Chúa Trời, mục sư giữ một vị trí độc nhất vô nhị về chức vụ. Tuy vậy, người ta thường có những cái nhìn khác nhau về công tác của mục sư, và những quan điểm này thường bắt buộc mục sư trở thành” Tất cả mọi sự cho tất cả mọi người”. Dẫu thế, Kinh Thánh sẽ cho chúng ta quan điểm chính xác hơn về công tác của mục sư. Và Kinh Thánh cũng chỉ cho chúng ta biết mục sư phải thuộc hạng người nào.
Trong Cong Cv 20:1-38, Phaolô mô tả bằng những chữ khác nhau để làm sáng tỏ công việc của chức vụ mục sư . Trong câu 17, ông dùng chữ trưởng lão (elders) để chỉ những người chịu trách nhiệm ở Hội thánh Êphêsô . Rồi qua câu 28, ông nói về những anh em đó là những giám mục (quản nhiệm - overseers). Và cuối cùng, cũng trong câu 28, ông khuyên bảo những anh em này trở nên những người chăn bầy. Những từ ngữ này mô tả những người trưởng thành về thuộc linh, có khả năng lãnh đạo con người và điều hành những kế hoạch, và chăm sóc để nuôi nấng, phát triển đời sống thuộc linh và sự tăng trưởng của dân sự Đức Chúa Trời. Hơn nữa, mỗi thành viên trong nhóm những mục sư lãnh đạo này được nhắc nhở rằng Đức Thánh Linh là Đấng biệt riêng người ấy ra cho công tác đặc biệt này, và mỗi người phải nhận trách nhiệm với Ngài .
Từ ngữ người chăn bầy là một sự mô tả chính xác về mục sư, vì chữ ấy nói lên nhu cầu phải nhạy bén đối với những yêu cầu khác nhau của người ta. Dưới quyền của Đấng Chăn Chiên Trưởng, những người chăn bầy cấp dưới phải phục vụ cách tự nguyện bởi vì họ đầu phục Ngài và cũng vì họ chia sẻ tình yêu của Ngài cho mọi người (IPhi 1Pr 5:1-4). Như vậy, mục sư là người được Đức Chúa Trời kêu gọi và chỉ định để ủy thác trách nhiệm lãnh đạo, cung cấp thức ăn và bảo vệ những người mà Đức Chúa Trời đặt để dưới sự chăm sóc của người đó.
Trong GiGa 10:1-16 Chúa Jêsus giải thích đầy đủ hơn về ý nghĩa của người chăn bầy đối với bầy chiên của Ngài. Điều nhấn mạnh của đoạn này là người chăn hiền lành biết con chiên của mình và quan tâm sâu xa về sự hưng thịnh của chiên. Mối quan hệ của người ấy với chiên là sự chăm sóc từng con một, đây không chỉ là hình thức và nghề nghiệp. Như vậy, điều này đòi hỏi phó thác sự sống mình (c.11) để quan tâm đến sự hạnh phúc tối hậu của những con chiên mình đang chăm sóc.
Đavít cũng giới thiệu Chúa là Đấng Chăn Chiên của mình trong Thi Tv 23:1-6. Ông ghi nhận rằng Đấng Chăn Chiên chú ý đến từng con chiên cũng như tất cả bầy. Đây là sự quan tâm mà mục sư phải triển khai. Dù ông là mục sư của toàn thân thể, nhưng ông phải nhạy bén với những nhu cầu của từng cá nhân.
Bức tranh Đavít giới thiệu ở đây là một trong những gương mẫu tận tụy yêu thương, chăm sóc chu đáo, và liên tục quan tâm. Con chiên vốn có bản năng tin cậy người chăn cho nó ăn, cung cấp nhu cầu để nó phát triển và bảo vệ nó. Là người lãnh đạo khôn ngoan, người chăn bầy hướng dẫn những người theo mình không chỉ để yên nghỉ và tăng cường sức lực mà còn kinh qua những đấu tranh và nguy hiểm. Vì vậy, người ấy cung ứng những nhu cầu của họ, chuẩn bị họ để đối phó với những nguy cơ của cuộc đời và bảo vệ khi họ trưởng thành.
(11) Từ sự mô tả vai trò của mục sư được ghi trong GiGa 10:1-42; Cong Cv 20:1-36; Eph Ep 4:1-21; Tit Tt 2:1-15 và IPhi 1Pr 5:1-14 cùng những thảo luận của chúng ta qua các phần Kinh Thánh này, hãy xét những hoạt động dưới đây, điều nào
trình bày ý niệm của Kinh Thánh về sự chăm sóc của mục sư.
....a. An ủi người cô đơn, bị tổn thương và mồ côi.
....b. Lau sạch nhà thờ.
....c. Quở trách một anh em phạm lỗi.
....d. Dạy dỗ Lời Đức Chúa Trời .
....e. Chơi một nhạc cụ.
....f. Nuôi dưỡng tân tín hữu.
....g. Nêu gương mẫu bằng cách làm điều tốt.
....h. Đếm tiền dâng hiến.
....I. Trang trí nhà thờ.
....j. Động viên và khiển trách bằng uy quyền.
CHỨC VỤ MỤC SƯ: TRỌN THÌ GIỜ hay BÁN THỜI GIAN.
Mục tiêu 8: Nhận ra những lý do của Kinh Thánh và trong thực tế để chứng minh cho chức vụ mục sư làm việc trọn thì giờ hoặc bán phần thời giờ.
Một câu hỏi thưòng được nêu lên khi chúng ta thảo luận về chức vụ mục sư là” Một người có thể nào được biệt riêng làm chức vụ mục sư và vẫn giữ một việc làm trần tục ?”,” Liệu mục sư làm công việc trần tục để có lương trong khi vẫn chăm sóc một Hội thánh được không ?” Có lẽ bạn đã gặp hoặc đang đối diện vấn đề này. Nếu thế, phần thảo luận sau đây sẽ giúp ích cho bạn khi bạn khảo sát một số nguyên tắc Kinh Thánh về câu hỏi nầy.
Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận rằng chức vụ mục sư rất khác biệt tùy từng nơi. Ở một vài nơi, một mục sư cao niên làm mục sư trưởng ở một Hội thánh mẹ rất lớn, để điều hành những nhóm Hội thánh nhỏ hơn trong khu vực đó. Trong những trường hợp này, mỗi Hội thánh nhỏ, Hội thánh lệ thuộc do một vị mục sư phụ trách, là người dựa vào mục sư niên trưởng để hướng dẫn chương trình của Hội thánh mình. Thông thường, sự sắp xếp này xảy ra tại những nơi kinh tế không cho phép mục sư của các Hội thánh nhánh dành trọn thì giờ cho chức vụ của mình. Kết quả họ tự lo sinh sống bằng những công việc ngòai đời.
Tại những nơi khác, có những Hội thánh đủ khả năng để cấp dưỡng cho mục sư, như vậy mục sư có thể dành trọn thì giờ để chăn bầy. Rõ ràng, sự sắp xếp này cho phép mục sư dành nhiều thì giờ hơn để sửa soạn cho việc giảng dạy, cũng như dành thì giờ nhiều hơn cho những người trong hội chúng cũng như cộng đồng của mình. Chúng ta hãy xem Kinh Thánh nói gì về vấn đề này và những lựa chọn nào được nói đến.
Trong ICo1Cr 9:1-27, sứ đồ Phaolô bàn về những quyền hạn của sứ đồ. Trong câu 6 ông hỏi” ...Có phải chỉ một mình tôi và Banaba phải làm việc để kiếm sống sao ?”. Trong những câu sau, sứ đồ Phaolô thảo luận về việc những người phục vụ có quyền nhận cấp dưỡng từ những người được họ phục vụ (câu 7,12). Những người trồng nho hay làm ruộng có quyền mong đợi nhận lãnh bông trái công lao khó nhọc của mình là điều hoàn tòan hợp lý. Cũng vậy, Phaolô nói rằng những ai gieo giống thuộc linh có thể mong đợi cách hợp lý nhận được những lợi ích vật chất, nghĩa là, họ có thể mong đợi được cấp dưỡng bởi những người họ đang phục vụ. Hơn nữa, ông cũng nhận thấy rằng chính Chúa Jêsus ủng hộ ý niệm này, có lẽ ông dẫn chứng việc Chúa sai mười hai và bảy mươi môn đệ đi (Mat Mt 10:10).
Trước khi Tân ước dạy dỗ về điều này thì kinh nghiệm của dân sự Đức Chúa Trời trong thời Cựu ước cũng đặt trên nguyên tắc tương tự. Dân số ký đoạn 18 mô tả ý định của Đức Chúa Trời cho quốc gia Ysơraên. Tại đây Môise được Chúa bảo phải để riêng chi phái Lêvi khỏi 11 chi phái khác để phục vụ. Từ câu 8-32 mô tả thế nào 11 chi phái khác đã cấp dưỡng cho những thầy tế lễ và người Lêvi là những người dâng mình để phục vụ. Câu 24 cho thấy họ được cấp dưỡng qua việc hội chúng dâng 1/10 và các khỏan dâng khác. Hơn nữa lịch sử Cựu ước ký thuật rằng hễlúc nào sự sắp xếp này được tôn trọng thì dân Ysơraên thịnh vượng. Nhưng khi điều này bị bỏ rơi, thì quốc gia lại chịu khốn khổ về mặt thuộc linh và đi vào thời kỳ suy đồi (xem NeNe 13:10-13, đặc biệt câu 11, sau khi những người Giuđa bị lưu đày trở về, cũng xem MaMl 3:6-12).
Chúng ta đã khảo sát sơ lược sự dạy dỗ của Kinh Thánh về việc cấp dưỡng cho mục sư. Và chúng ta đã thấy rằng sự dạy dỗ của toàn bộ Kinh Thánh ấy là những ai phục vụ sẽ được những ngừơi mình phục vụ cấp dưỡng để duy trì chức vụ. Dù vậy, Kinh Thánh cũng đưa ra trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn, thế nào sứ đồ Phaolô binh vực quyền nhận được sự ủng hộ tài chánh (ICo1Cr 9:12-23). Tuy nhiên ông đã chọn việc không sử dụng quyền này vì ông tin rằng công việc của Chúa cần ông phục vụ “ cách nhưng không” (câu 18). Như vậy ông tham gia vào việc may trại để nuôi mình trong khi ông mở mang Hội thánh tại Côrinhtô (Cong Cv 18:3). Bạn có thể nhận thấy rằng ông không phàn nàn về sự sắp xếp này, trái lại ông còn phấn khích về việc ấy. Một mục sư đương thời cũng có hoàn cảnh hơi tương tự đã phát biểu: “ Tôi làm việc 10 giờ 1 ngày suốt 5 ngày trong tuần để có tiền cho gia đình sinh sống, nhưng công việc trọn thời gian của tôi là làm công việc Chúa”.
Chúng ta có thể kể thêm một hoàn cảnh trong đó Chúa dẫn dắt cặp vợ chồng mục sư trẻ có hai con phục vụ tại một thành phố chưa có công việc nào khác trong nhà thờ. Trong giai đoạn đầu, mục sư trẻ này làm một công việc ngoài đời. Sau đó, khi số người thêm vào Hội thánh tăng lên và có thể cung lương cho ông, thì ông nghỉ làm bên ngoài và để Hội thánh cấp dưỡng cho mình. Đây là một khuôn mẫu chung cho những Hội thánh tăng trưởng đòi hỏi sự dành trọn thì giờ và sự quan tâm của mục sư.
Một người khi được kêu gọi vào chức vụ mục sư thì phải nhìn nhận một số điều. Kinh Thánh chỉ ra rằng người ấy phải chịu trách nhiệm nuôi nấng gia đình mình (ITi1Tm 5:8). Như chúng ta đã thấy, Kinh Thánh còn nói rõ ràng rằng những ai rao giảng Tin lành sẽ được người họ phục vụ cấp dưỡng. Những giai đoạn đầu của công tác trong Hội thánh, một người có thể cần tham gia vào công việc bên ngoài. Nhưng khi công việc gia tăng và phát triển, Hội thánh phải có trách nhiệm theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh cấp dưỡng cho người ấy. Cách này tốt nhất khi Hội thánh tăng trưởng và đòi hỏi trọn thì giờ, tài năng và sức lực của mục sư. Bằng cách này thì những lợi ích của tập thể và của mục sư đều được đáp ứng tốt nhất.
(12) Bạn hãy tìm một mục sư đang làm việc trong chính phủ, trường học, điều hành một việc kinh doanh, làm nông hoặc hành nghề khác, khi Chúa hướng dẫn người ấy rời khỏi công việc đã làm và dâng trọn thì giờ vào công tác mục sư, bạn hãy phỏng vấn người đó theo những gợi ý hướng dẫn như sau:
a. Ông đã làm công việc ngoài đời được bao lâu ?
b. Điều gì khiến ông quyết định nghỉ việc và dâng trọn thì giờ cho công tác mục sư ?
c. Ông đã được sự tái bảo đảm nào để biết rằng Chúa đang kêu gọi ông vào công tác mục sư ?
d. Liệu kinh nghiệm và những sự huấn luyện liên quan đến việc ngoài đời có giúp đỡ gì trong chức vụ mục sư của ông không ?
(13) Hãy tìm một mục sư dấn thân vào công việc” trọn thì giờ” nhưng người ấy lại kiếm sống bằng phương tiện công việc trần gian. Hãy dùng các câu hỏi sau đây gợi ý cho cuộc phỏng vấn:
a. Khó khăn nào người ấy phải đương đầu trong hoàn cảnh đòi hỏi nầy ?
b. Có phải sự gắn bó với công tác mục sư của người ấy dựa vào một sự kêu gọi đặc biệt hay dựa vào nhu cầu hiện tại của hội chúng ?
c.Điều nào khiến người ấy quyết định duy trì công việc bên ngoài và gánh vác trách nhiệm công tác mục sư ?
d. Hội chúng của ông ta phản ứng thế nào đối với hoàn cảnh này ?
(14) Khoanh tròn mẫu tự trước câu ĐÚNG.
a. Sự xếp đặt thực tế lý tưởng và theo Kinh Thánh là mục sư dâng trọn thì giờ cho công tác mục vụ.
b. Sứ đồ Phaolô trình bày rõ ràng rằng mục sư có quyền nhận cấp dưỡng từ những người ông phục vụ .
c. Sứ đồ Phaolô không nhấn mạnh về quyền được cấp dưỡng vì việc dâng hiến là điều khó cho tín hữu.
d. Ý tưởng cấp dưỡng cho những người phục vụ những nhu cầu thuộc linh của con người là ý niệm nghiêm khắc của Tân ước.
c. Thực tế chung trong việc mở mang Hội thánh là mục sư giữ công việc trần tục cho đến khi Hội thánh của họ có thể cấp dưỡng họ.
V
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
Sau khi bạn đã ôn bài học này, hãy làm bài trắc nghiệm cá nhân. Rồi kiểm tra các câu trả lời của bạn với phần Giải Đáp trong Túi dành cho học viên. Ôn lại những câu bạn trả lời chưa đúng.
CÂU HỎI LỰA CHỌN
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi
1. Khi nói đến sự kêu gọi để hưởng ơn cứu rỗi, kêu gọi có nghĩa là:
a.” đặt tên”
b.” chỉ định vào một chức vụ”
c.” mời”
d.” triệu tập cuộc họp”
2.” Hễ ai tin Ngài sẽ được sự sống đời đời” xác nhận rằng sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi mở rộng cho tất cả những ai:
a. tôn vinh Đấng Christ
b. công nhận sự dạy dỗ của Đấng Christ
c. làm theo những nguyên tắc Cơ Đốc
d. tiếp nhận Jêsus làm Cứu Chúa
3. Đáp ứng sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi gồm những điều dưới đây NGOẠI TRỪ:
a. nhìn nhận cách cá nhân quyền Chủ Tể của Chúa Jêsus
b. phục hồi trước hết những tội lỗi trong quá khứ
c. xưng nhận bằng môi miệng rằng Jêsus là Chúa
d. tin nơi sự sống lại thân thể của Chúa Jêsus
4. Những ân tứ thuộc linh được ban cho những tín hữu
a. chỉ khi nào họ đã trưởng thành về mặt thuộc linh
b. là phương tiện để chuyển giao ân phúc của Đức Chúa Trời cho con dân của Ngài
c. để phục vụ những nhu cầu thuộc linh hơn là những nhu cầu thực tiễn
d. cho những sự phục vụ giới hạn vào hình thức thờ phượng của một nhóm
5. Khi Đức Chúa Trời kêu gọi một người vào sự phục vụ đặc biệt, chữ” kêu gọi” có nghĩa là:
a.” chỉ định vào một chức vụ”
b.” gọi tên”
c.” triệu tập cuộc họp”
d.” mời”
6. Sự kêu gọi vào chức vụ đặc biệt trước hết liên quan đến
a. sự kêu gọi đầu tiên mà Đức Chúa Trời dành cho mọi người.
b. sự ban quyền năng cho tất cả tín hữu do Đức Thánh Linh .
c. sự kêu gọi vào chức sứ đồ được giới hạn trong thời Tân ước.
d. sự ban cho để giúp người khác phục vụ kết quả hơn.
7. Từ ngữ dùng để chỉ về người đầu tiên thành lập Hội thánh là:
a. nhà truyền giảng.
b. tiên tri.
c. sứ đồ.
d. giáo sư.
8. Những người dạy bảo tín hữu về đức tin có công tác đặc biệt của những:
a. giáo sư
b. nhà truyền giảng
c. sứ đồ
d. tiên tri
9. Vì một mục sư chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo thuộc linh, nuôi dưỡng và bảo vệ, nên Kinh Thánh mô tả người ấy là:
a. tiên tri
b. người chăn bầy
c. sứ đồ
d. nhà cai trị
10. Đề cập đến việc cấp dưỡng tài chính cho một mục sư, Phaolô dạy rằng:
a. một mục sư phải dâng trọn thì giờ cho chức vụ
b. những mục sư phải làm công việc trần gian để tự túc
c. cấp dưỡng một mục sư là sự khó khăn cho tín hữu
d. những người được mục sư phục vụ bắt buộc phải cấp dưỡng cho mục sư .

V
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) a và b đều đúng.
(2) Đề tài chung của những câu này là sự cung ứng của Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi là phổ quát. Vì mọi người đều đã phạm tội, cần có phương cách cứu chữa cung ứng cho mọi người.
(3) Chúa Jêsus mời, Ngài mời tất cả mọi người và Ngài ban sự yên nghỉ cho những ai đến với Ngài .
(4) Mỗi người đáp ứng cách cá nhân, và gia đình của mỗi người cũng tin nơi Đức Chúa Trời nữa.
(5) Trong lòng người ấy phải tin rằng Jêsus Christ là Chúa. Và người ấy phải nói lên sự tin quyết nầy bằng môi miệng mình. Tin và xưng nhận bao gồm trong sự kêu gọi này.
(6) b, e và f là những câu đúng.
(7) Câu trả lời của bạn phải tương tự như sau:
a. Là một trong những giáosư/tiên tri đi đến Chíprơ và Tiểu Á làm giáo sĩ
Thánh Linh lãnh đạo ở Hội thánh Antiốt
b. Là một trong những giáo sư/tiên tri đi đến Chíprơ và Tiểu Á làm giáo sĩ
Thánh Linh lãnh đạo ở Hội thánh Antiốt
c. Là một môn đệ ở Hội thánh Líttrơ đi với Phaolô và Sila trong cuộc truyền giáo lần 2
Thánh Linh phán qua sứ điệp tiên tri
(8)
- Người được kêu gọi
a. Áp ram
b. Môise
c. Bếtâsalêên và Ôhôliáp
d. Giôsuê
e. Ghêđêôn
f. Phierơ, Anhrê, Giacơ và Giăng
g. Lêvi
h. Phaolô (Saulơ)
- Đáp ứng sự kêu gọi
a. Rời Urơ đến Canaan
b. Rời Mađian, trở về Êdíptô
c. Trông coi mọi công việc xây dựng
d. Kế tục Môise làm người lãnh đạo
e. Nhận sự kêu gọi nhưng hơi chậm
f. Bỏ nghề chài lưới và đi theo Chúa Jêsus
g. Bỏ bàn thâu thuế và đi theo Chúa Jêsus
h. Tiếp nhận Đấng Christ và theo Ngài
- Kết quả của sự kêu gọi
a. Trở nên cha của quốc gia được chọn
b. Dẫn dân Ysơraên ra khỏi Êdíptô
c. Xây dựng đền tạm và làm những đồ trang trí
d. Dẫn dân Ysơraên vào xứ Canaan
e. Lãnh đạo dân Ysơraên đắc thắng quân Mađian
f. Trở nên môn đồ của Chúa Jêsus, một phần của 12 người.
g. Trở nên một trong 12 môn đệ
h. Trở nên sứ đồ cho dân ngoại
(9) a. 3) Sự kêu gọi vào chức vụ đặc biệt.
b. 1) Sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi .
c. 2) Sự kêu gọi vào công tác phục vụ.

(10) a. 4) mục sư
b. 5)Giáo sư
c. 1) Sứ đồ
d. 3) Nhà truyền giảng
e. 2) Tiên tri
(11) Một mục sư có thể làm tất cả mọi sự đã ghi trong bản liệt kê nếu người ấy có thì giờ và không còn ai khác để làm, tuy nhiên dựa vào những từ trong Tân ước như Giám mục hay người chăn bầy, thì bạn có thể trả lời câu a, c, d, f, g và j.
(12) Chúng tôi tin rằng bạn đã ghi nhận về cuộc phỏng vấn này. Có lẽ bạn cũng thấy những điểm tương tự giữa sự kêu gọi vào chức vụ mục sư của người ấy với kinh nghiệm và những ví dụ chúng ta tham khảo trong Kinh Thánh.
(13) Một lần nữa chúng tôi tin rằng bạn đã ghi chú cẩn thận cuộc phỏng vấn nầy. Nếu bạn có thể tìm ra vài mục sư ở dạng nầy, chắc chắn bạn thấy rằng họ có những quan điểm khác nhau về những câu hỏi này. Hoàn cảnh khó khăn và phương cách trong đó những mục sư đáp ứng hay phản ứng với những khó khăn thường quyết định sự thành công lâu dài trong chức vụ.
(14) a, b, và e đều đúng. c, sai (như chúng ta đã thấy, ông muốn giới thiệu Phúc âm cáchnhưng không cho những người nghe ông).



Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 06:25 PM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách