† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3584|Trả lời: 0

Công Tác - CHĂM SÓC

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 16-10-2011 08:31:48 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Công Tác Của Mục Sư
Tác giả: Eleaser E. Javier

CHĂM SÓC

Trong bài trước chúng ta khảo sát chức vụ dạy dỗ. Chúng ta suy nghiệm ý nghĩa của chữ dạy và nhấn mạnh bản chất cùng mục đích của sự dạy. Hơn nữa, chúng ta thảo luận ý niệm quan trọng về lãnh đạo trong sự dạy, bao gồm việc tiếp xúc của mục sư, những phương pháp ông có thể dùng, và vài hướng dẫn chỉ đạo giúp tiến tới tiêu điểm của ông. Bây giờ chúng ta chuyển sang vai trò của mục sư là người chăn bầy.
Như Phaolô nhắn nhủ lời cuối cùng cho các mục sư ở Êphêsô, ông nói” Hãy giữ mình và luôn cả bầy mà Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc. Hãy làm những người chăn bầy của Hội thánh Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết Ngài” (Cong Cv 20:28). Chữ người chăn được dùng ở đây bao gồm các chức năng đa dạng. Nó gồm việc nuôi bầy chiên bằng chức vụ giảng và dạy của mục sư. Nó cũng bao gồm những trách nhiệm khác của mục sư, không tập trung trên tòa giảng nhưng lại hổ trợ và tăng cường cho chức vụ trên tòa giảng của mục sư. Ơû đây chúng ta sẽ khảo sát chức vụ của mục sư liên quan đến những mối quan hệ rất gần gũi và sâu sắc. Trong lãnh vực chăn bầy bạn tiến gần con người hơn để dẫn họ đến với Đấng Chăn Chiên Yêu Thương, là Chúa Jêsus Christ để được nâng đỡ, an ủi và hướng dẫn. Giống như Đavít trong vai trò này, nói theo nghĩa bóng, bạn cũng sẽ cần cây trượng và cây gậy để thực hiện nhiệm vụ làm người chăn của mình.
Khi học bài này, bạn sẽ cần đánh giá chính thái độ của mình đối với nhu cầu của những người ở chung quanh bạn. Khi bạn chăn bầy hoặc chuẩn bị chăn bầy của Đức Chúa Trời, hãy mở lòng mình ra trước mặt Chúa và cầu xin Ngài tạo thành một quả tim của người chăn bầy trong lòng bạn.
DÀN Ý BÀI HỌC
Mục sư là một Người Chăn Chiên.
Thăm viếng.
Khuyên bảo.
Cầu thay.
Sửa trị.
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Đánh giá ý niệm của Kinh Thánh về chức vụ của mục sư như một người chăn bầy.
* Phát huy một hệ thống thăm viếng của mục sư.
*Aùp dụng những nguyên tắc thích hợp trong chức vụ khuyên bảo.
* Giải thích vai trò làm thầy tế lễ của mục sư .
* Mô tả bản chất và mục đích của kỷ luật trong Hội thánh.

NHỮNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1. Nghiên cứu bài học và làm bài trắc nghiệm cá nhân theo sự chỉ dẫn của bài 1.
2. Xem lướt qua bản liệt kê những chữ căn bản, có từ nào mới hoặc khó hiểu đối với bạn không. Nhớ tìm nghĩa ở phần Chú Giải ở cuối tài liệu tự học này.
3. Nhớ viết câu trả lời của chính bạn cho các câu hỏi nghiên cứu trước khi đối chiếu phần giải đáp ở cuối bài. Phương pháp này sẽ giúp bạn học bài nhanh hơn.

NHỮNG CHỮ CĂN BẢN
Mục tiêu 1: Nhìn nhận những hàm ý của ẩn dụ người chăn chiên trong đời sống và công tác của mục sư.
LÀ NGƯỜI CHĂN CHIÊN.
Như chúng ta đã thấy trong bài 1, chữ Hy lạp được dịch” mục sư” là poimen. Chữ này phát xuất từ một chữ gốc có nghĩa là” bảo vệ”. Ý nghĩa căn bản của chữ này là” chăn bầy”, chữ này được dùng 18 lần trong Tân ước. Hiểu được ẩn dụ về người chăn sử dụng trong Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta thấy những khía cạnh quan trọng của việc chăn bầy.
CHÚA JÊSUS, ĐẤNG CHĂN CHIÊN HIỀN LÀNH.
Bảy lần trong các sách Phúc âm, những trước giả dùng chữ người chăn chiên để mô tả về Chúa Jêsus. Một lần nữa, Chúa Jêsus được gọi là Đấng Chăn Chiên vĩ đại trong HeDt 13:20; và IPhi 1Pr 2:25. Tuy nhiên, Kinh điển Phúc Aâm đề cập đến vai trò của Chúa Jêsus như người chăn là GiGa 10:11-14. Ơû đây Chúa Jêsus đưa ra mặc khải chủ yếu trong kiểu mẫu trọn vẹn này của tư tưởng. Là người Chăn Chiên Hiền Lành, Chúa Jêsus hoàn tất sự trình bày về Đức Giêhôva trong Cựu ước (Thi Tv 23:1), vì vậy Chúa Jêsus tự đặt mình chống lại những nhà lãnh đạo làm tổn thương bầy chiên vì lòng gian ác của họ. Thay vì duy trì sự sống của mình. Người Chăn Chiên Hiền Lành nói rằng Ngài vì chiên mình mà phó sự sống mình. Đây là thái độ mà Chúa vẽ ra bức tranh quá rõ ràng trong đoạn này. Điều này là một tương phản đối với kẻ chăn thuê chẳng chăm sóc gì đến chiên mà đúng hơn là bỏ mặc bầy chiên trong nguy kịch. Những chữ chìa khoá trong bức chân dung nầy là quan tâm và chăm sóc.
(1) Là người chăn bầy của mình làm sao bạn có thể chứng tỏ sự chăm sóc như Đấng Chăn Chiên Hiền Lành đã làm không?- Mặc dù Chúa đã bị vu khống bởi chính những con người Ngài đến để cứu giúp. Ngài vẫn khóc cho họ với lòng thương cảm sâu xa (LuLc 13:34). Ngài động lòng thương xót khi thấy đoàn dân bối rối khủng hoảng và bất lực như chiên không có người chăn (Mat Mt 9:36). Chữ thương xót mà thánh Giăng sử dụng ở đây theo nghĩa Hy lạp là ‘có lòng thương cảm sâu xa’ (to have bowels of yearning). Có nghĩa là Chúa Jêsus cảm động sâu xa và cảm thấy rất xót đau đến độ bị bệnh. Trong LuLc 15:4-6, chúng ta
thấy một khía cạnh khác trong thái độ của người chăn. Qua câu chuyện ngụ ngôn về Con Chiên lạc mất, Chúa Jêsus mô tả cảm xúc của một người chăn chiên. Điều này có thể là sự mô tả về chính Chúa Jêsus. Trong câu 4 những chữ” ...đi tìm cách giành lại con chiên lạc” rất có ý nghĩa. Chữ tìm cách gợi ý rằng không những người chăn tìm dấu vết của con chiên nhưng cũng còn tìm chính con chiên. Đi tìm chiên lạc mô tả một sự kiên quyết không ngừng nghỉ cho đến khi thành công mới thôi. Điều này ám chỉ rằng người chăn không ngưng đột ngột việc tìm chiên. Cứ tìm cho đến khi gặp được.
(2) Ngày nay một mục sư có thể bày tỏ thế nào lòng thương xót, sự tìm kiếm và tìm cho bằng được chiên lạc mất ?

PHAO LÔ, NGƯỜI CHĂN CHIÊN ĐẦY TỚ.
Một trong những đoạn Kinh Thánh lý thú đề cập đến ý niệm mục sư - chăn chiên được tìm thấy trong Cong Cv 20:18-31. Đoạn này được xem là một kiệt tác. Trong ba năm sống tại Êphêsô, Phaolô đã là một người chăn bầy, phục vụ như một tên nô lệ (c.19). Phaolô khuyên bảo những mục sư sẽ gánh trách nhiệm lãnh đạo chăn bầy khi ông rời khỏi họ, rất rõ ràng (c.28). Điều này gợi ý về mối thông công mật thiết cá nhân đã có giữa Phaolô và những tín hữu Êphêsô, và đó là tấm gương thích đáng cho chúng ta noi theo. Phaolô không hài lòng khi có sự hiểu biết chung chung về một nhóm người, bằng cớ là ông đã lập một sự hiểu biết cá nhân về những con chiên của ông (So sánh 20:20 với GiGa 10:3). Là người chăn bầy, những trưởng lão người Êphêsô phải canh giữ bầy chiên. Canh giữ bao gồm một số lớn trách nhiệm chăm sóc mà mục sư phải tự gắn bó với những nhu cầu khác nhau của dân sự mình. Ông ở giữa họ như người chăm sóc và phục vụ.
Điều hàm ý của câu 29 ấy là mục sư phải bảo vệ bầy của mình. Ở đây Phaolô muốn ám chỉ về sự bảo vệ khỏi những giáo sư giả là kẻ tìm cách hủy diệt đức tin của tín hữu và gây chia rẽ Hội thánh. Vì vậy ông khuyên những mục sư phải cảnh giác liên tục. Họ phải chịu trách nhiệm để thấy rằng bầy của mình được an toàn. Có thể bạn liên tưởng đến việc thiếu niên Đavít bảo vệ chiên của cha mình như thế nào. Cậu bảo vệ chiên bằng cách dùng cái trành ném đá mà về sau cũng dùng cái trành đó để giết tên khổng lồ Gôliát. Phạm vi mà người chăn chiên sẽ đi để bảo vệ chiên của mình là bài thử nghiệm cho một người chăn tốt. Mặc dù kẻ chăn thuê không dám liều mạng sống mình vì chiên, nhưng người chăn tốt lúc nào cũng hi sinh đến mức tối đa cho chiên của mình.

Sứ đồ Phaolô dùng kinh nghiệm của ông ở Êphêsô để chứng minh vai trò đúng đắn của người chăn. Ông đã làm việc đó với mối quan tâm khiêm tốn và yêu thương. Dù phải quở trách những người chống nghịch, cũng như an ủi những người buồn rầu, nhưng ông đã không thực hiện chỉ vì bổn phận. Ông hết lòng làm vì yêu thương người Êphêsô.

Những gương mẫu này của Chúa Jêsus và sứ đồ Phaolô chứng tỏ ý niệm của Kinh Thánh về sự chăn bầy của mục sư. Cả hai đều vẽ bức tranh mô tả những khía cạnh khác nhau của người chăn bầy để chỉ cho chúng ta thấy rằng ẩn dụ về người chăn trong Kinh Thánh có một sứ điệp đặc biệt cho các mục sư. Từ ẩn dụ này chúng ta học biết ý niệm về người chăn chiên phản ảnh mối quan tâm tổng quát và sự chăm sóc người khác một cách cá nhân và thân thiết. Vì vậy, mục sư không ngừng tìm kiếm phước hạnh cho chiên mình mà không hề quan tâm đến giá phải trả và nỗ lực mà sự chăm sóc này đòi hỏi mình.

(3) Xếp đặt những đoạn văn khi bạn đọc trong Kinh Thánh, với phần mô tả về cách một mục sư có thể bày tỏ đặc tính của người chăn trong chức vụ của mình như thế nào.
1) GiGa 10:11-12.
2) Mat Mt 9:36
3) LuLc 15:4-6
4) GiGa 10:3
5) Cong Cv 20:31.
...a. Ông quan tâm vì sự bất lực của con người trong những đấu tranh của cuộc sống.
...b. Ông cảnh cáo người khác về cạm bẫy của tội lỗi và đau lòng trước tình trạng của họ.
...c. Ông có mặt với tín hữu mình trong mọi khó khăn, thử thách và nguy hiểm và sẵn sàng hi sinh tối đa vì họ.
...d. Ông không kể đến sự an toàn và tiện nghi của bản thân mà cứ đi ra và phục vụ tích cực những người hư mất trong tội lỗi, và vui mừng dù chỉ có một số ít người được cứu.
...e. Ông yêu thương dân sự mình, họ biết ông và họ biết rằng ông yêu họ, vì vậy họ lắng nghe ông và vâng theo sự dạy dỗ của ông.
Mục tiêu 2: Mô tả những mục đích mục sư đến thăm tại nhà riêng và hình thành một hướng dẫn cơ bản để lập kế hoạch thăm viếng tại nhà.
THĂM VIẾNG.

Nói chung, khi mục sư đến thăm viếng một gia đình hay một người ở bệnh viện, thì điều đó khác hơn là một sinh hoạt xã hội. Sự thăm viếng của mục sư liên quan đến chức vụ, nhưng để rõ ràng trong phần này chúng ta sẽ sử dụng những từ ngữ đơn giản và đặc biệt như” thăm tại nhà riêng” (home calls) và” thăm tại bệnh viện” (hospital calls).
LẬP KẾ HOẠCH THĂM TẠI NHÀ RIÊNG.
Thăm tại nhà riêng là” trách nhiệm của mục sư đòi hỏi ông phải thăm viếng có hệ thống từng nhà của tín hữu trong Hội thánh mình hay trong cộng đồng mà họ cần đến sự giúp đỡ của mục sư”. Điều này giúp cho ông biết rõ tín hữu và những nhu cầu của họ để ông có thể phục vụ họ hữu hiệu hơn.
Có hai phạm vi căn bản mà chúng ta cần thảo luận ở đây, tức là: đi thăm ai và làm thế nào để thực hiện một cuộc thăm viếng.

ĐI THĂM AI.
Khi bạn bắt đầu khảo sát xem ai là người cần mục sư đến thăm, thì khó tìm ai là người không có một loại nhu cầu nào. Danh sách này sẽ kéo dài vô tận nếu chúng ta cố nêu tên tất cả những nhu cầu của dân sự. Tuy nhiên, để đơn giản, chúng ta bắt đầu với hai đặc tính chính: Tín hữu và người chưa tin, những người đi nhà thờ và những người không đi nhà thờ. Theo mỗi phân loại này, có nhiều nhu cầu khác nhau mà bạn, là mục sư, cần xem xét.
1. Những người không đi nhà thờ và chưa tin Chúa. Có thể trong cộng đồng có nhiều người không đi nhà thờ hơn là người đi. Mặc dù một số người có thể gia nhập vào một Hội thánh, nhưng nhiều người không đi nhà thờ của họ. Dĩ nhiên cũng có một số người đi nhà thờ vẫn chưa có kinh nghiệm cá nhân về sự cứu rỗi. Tuy nhiên, những người khác là những người không tin nên chưa gia nhập với Hội thánh nào. Mục sư và những tín hữu được tái sanh phải có trách nhiệm đem tất cả những người này đến sự hiểu biết về ơn cứu rỗi. Như vậy, mục sư phải tìm nhiều cách để đem những người lạc mất này vào chuồng của Đức Chúa Trời.
Bạn có thể bắt đầu với những người mà chúng ta sẽ gọi là” thân hữu” (prospects). Đây là những người đã tiếp xúc với sứ điệp Cơ đốc, những sinh hoạt của nhà thờ hay với những tín hữu. Chẳng hạn, chúng ta có thể nói đến một người tham dự một trong những cuộc mời đặc biệt của bạn như một chương trình Giáng sinh, và bạn ghi tên và địa chỉ của người ấy trên một Phiếu khách vãng lai. Người này là đối tượng của sự thăm viếng. Mục đích chính của sự thăm viếng là truyền giảng. Tại điểm này có thể nói rõ là mục sư không phải là người duy nhất có thể đi thăm. Tuy nhiên, ông có thể nêu gương, và ông có thể bắt đầu một kế hoạch để huấn luyện những người khác đi thăm viếng.
2. Những thành viên trong hội chúng của bạn. Những tín hữu trong hội chúng của bạn có những nhu cầu khác nhau. Có những người đau, những người nản chí, những người cô đơn, mồ côi, gia đình đổ vỡ và những người có nhiều nhu cầu khác. Có những người có thể có các nhu cầu không rõ rệt nhưng lại rất nghiêm trọng. Vài người chẳng bao giờ bày tỏ nhu cầu của mình lại nhận được sự khích lệ thuộc linh rất lớn khi được mục sư thăm viếng. Họ biết rằng họ được chăm sóc, và sự thăm viếng của mục sư tăng cường sức lực cho họ vì họ cần ở trong thân thể của Đấng Christ. Không kể đến những nhu cầu của họ, mục sư, là người chăn bầy, phải chăm sóc và khích lệ về mặt thuộc linh cho tất cả tín hữu trong hội chúng của mình.
(4) Viết câu trả lời ngắn cho những câu hỏi sau:
a. Lý do đầu tiên của việc mục sư đi thăm là gì ?
b. Viết ra hai mục đích của việc mục sư đi thăm những thành viên của Hội thánh.
LẬP MỘT KẾ HOẠCH THĂM VIẾNG.
Nếu mục sư không lập một hệ thống đi thăm viếng, thì ông sẽ không đủ thì giờ để đi thăm những nơi cần thiết. Hệ thống mà bạn sắp xếp cần uyển chuyển đủ để có chỗ trống cho những nhu cầu bất ngờ và những trường hợp khẩn cấp. Giống như mọi kế hoạch, hệ thống này phải phục vụ bạn chú không phải bạn phục vụ cho kế hoạch. Sau đây là một vài gợi ý để giúp bạn thành lập một kế hoạch thăm viếng.
1. Chia thành phố hoặc thị trấn của bạn thành nhiều khu vực. Không phải mọi thành phố đều có sẵn những bản đồ để bạn có thể mua được. Bạn có thể tùy cơ ứng biến làm ra một bản đồ riêng của mình. Điều này sẽ giúp ích nhiều cho bạn, đặc biệt nếu bạn mới đến khu vực ấy. Số lượng khu vực tùy thuộc vào mức độ rộng của thị trấn hoặc tùy thuộc vào hệ thống chuyên chở của bạn. Một số thành phố và thị trấn có sự phân chia tự nhiên, như những quận hoặc huyện ngoại thành. Vị trí của những nơi quan trọng như cơ quan hành chánh, nhà trường, chợ và nhà thờ. Dĩ nhiên là vị trí của Hội thánh bạn là nơi đánh dấu rõ ràng . Có lẽ bạn có một Hội thánh hạt nhân, hãy đánh dấu những nhà tín hữu trong Hội thánh bạn. Điều này sẽ cho bạn thấy tín hữu được phân phối khắp cả khu vực như thế nào. Khi bạn lên kế hoạch thăm viếng, bạn có thể sử dụng thì giờ mình có hiệu quả hơn nếu bạn cố gắng đi thăm những người trong cùng một khu vực, cùng một thời gian.
2. Lập kế hoạch đi thăm của bạn. Là một mục sư phục vụ năm đầu tiên, điều quan trọng là bạn phải tiếp xúc cách cá nhân với mọi người gắn bó với Hội thánh. Nếu là Hội thánh lớn quá, bạn có thể hình thành vài cách cải tiến trong việc đi thăm. Một số Hội thánh lớn có những buổi họp của những nhóm nhỏ hay tổ tế bào. Trong vài tháng đầu của nhiệm kỳ mục sư, bạn có thể lần lượt đi thăm mỗi nhóm đó và có cơ hội gặp tất cả thành viên cách cá nhân. Sau một vòng thăm viếng đầu tiên thì những nhu cầu khẩn cấp sẽ xác định lúc nào và nơi nào bạn sẽ đi thăm. Như chúng tôi đề cập ở trên, việc lập kế hoạch thăm viếng sẽ giúp bạn tiết kiệm thì giờ cũng như năng lực và tiền bạc.
- Tên của người được thăm:
John, Suarez, Lydia, Palma
- Ngày và giờ đến thăm:
8/10/88, 4:30 chiều
23/11/88, 6:30 chiều
- Các thành viên khác của gia đình có mặt: vợ, hai con, bà gia, cha, mẹ, 4 chị em, người dì
- Ghi chú hoặc các nhu cầu, tình trạng gia đình:
. Roméo đã bị đau sốt hai ngày mất việc. Là lao động duy nhất. Còn yếu. Cần ăn uống bổ dưỡng hơn. Bà gia chưa được cứu.
. Muốn kết hôn trái với ý cha mẹ. Cha mẹ mến người đàn ông ấy nhưng hy vọng họ chờ hai năm nữa cho những em gái của cô ta hoàn tất việc học. Lydia 29 tuổi. Cô ta cay đắng toàn bộ sự việc.
Lập một hệ thống ghi chép đơn giản sẽ giúp bạn tổ chức việc thăm viếng dễ dàng. Một phần của một trang được trình bày ở đây gợi ý những tin tức có thể ghi nhận. Bạn có thể thay đổi hình thức và thêm nhiều cột mục nữa, nếu bạn cần dựa vào những nhu cầu đặc biệt của bạn. Vì những điều ghi nhận nầy có tính cách cá nhân và phản ảnh những nhận xét” kín” của bạn, nên phải cất kỹ các ghi chú ấy. Điều đó sẽ tránh những khó khăn rắc rối về tin đồn, chuyện ngồi lê đôi mách do những gì bạn đã ghi riêng trong sổ tay của mình.
3.Thời gian thăm viếng. Không có qui luật nào về thời gian của một lần thăm viếng. Ơû vài nơi người ta mong đợi một cuộc thăm viếng lâu và họ bất mãn nếu như mục sư chỉ ngồi chơi vài phút rồi lại vội vã ra đi. Còn tại nhiều nơi khác, thời gian có hạn chế. Vì vậy bạn phải tìm hiểu phong tục địa phương trước khi bắt đầu một chương trình thăm viếng. Mục đích của việc thăm viếng sẽ giúp bạn quyết định thời gian lưu lại của mình. Nếu trong gia đình có một vấn đề nghiêm trọng, có lẽ bạn sẽ ở lâu hơn.
Tuy nhiên, có những lúc khác nếu người bệnh mà bạn đến cầu nguyện cần được nghỉ ngơi, thì bạn phải rút ngắn thời gian. Vì vậy, điều hết sức quan trọng là bạn phải nhạy bén đối với những nhu cầu của hoàn cảnh. Mục đích của bạn là đem phước đến chứ không đem gánh nặng. Mục đích chính của việc thăm viếng là giúp đỡ về mặt thuộc linh và phục vụ các nhu cầu của những người bạn đang thăm.
Thì giờ đi thăm cũng có thể thay đổi tùy theo mỗi nơi. Bình thường, mục sư đi thăm vào xế chiều và trước khi sẫm tối. Tuy nhiên, trong những trường hợp khẩn cấp, thì ban ngày hay ban đêm chẳng phải là yếu tố quyết định. Thực ra, có nhiều trường hợp bạn có thể đi thăm ngay giờ ăn hoặc ban đêm. Những nhu cầu khẩn cấp không hề chú ý đến đồng hồ, và một người chăn bầy phải sẵn sàng đi bất cứ giờ nào để chăm sóc bầy của mình.Ở một vài nơi điều này cần thực hiện cách thuận lợi đối với mục sư và thích hợp với người được thăm. Mục sư có thể hẹn với một số người nào đó thì giờ mình đến thăm. Tôi được biết có một mục sư thường thông báo trên tòa giảng hướng đi thăm của ông nhưng không nói rõ sẽ đến thăm nhà nào. Công việc đó rất thích hợp trong hoàn cảnh của ông và tín hữu trong Hội thánh cũng hưởng ứng. Khi ông ta đến một nhiệm sở khác, ông cũng thử áp dụng phương pháp này, nhưng tín hữu lại không tán thành chút nào. Họ nói ông làm như thế khiến họ liên tục hồi hộp vì không biết chính xác lúc nào mục sư sẽ đến. Vì thế, như bạn đã thấy, bạn cần điều chỉnh cách nào cho phù hợp với dân chúng tại mỗi địa phương. Trong cộng đồng những người làm ruộng, các nông dân có thể thức dậy rất sớm và làm việc ngoài đồng mãi cho đến tối mịt. Trong hoàn cảnh ấy bạn có thể ra đồng để gặp người mình muốn tiếp xúc. Có thể bạn phải lội xuống bùn để nói chuyện trong khi họ đang cày. Bạn có thể nhớ lại câu chuyện của Êli đã làm khi ông muốn gặp Êlisê (IVua 1V 19:19-20).
4. Bạn làm gì khi đến thăm. Mỗi lần thăm đều có tính đặc biệt và những nhu cầu cá nhân phải được quan tâm. Dĩ nhiên, phục vụ cho những nhu cầu của người ấy là mục đích đầu tiên. Nếu người được thăm là một tín hữu, thì có thể khác hơn việc đi thăm một người chưa tin. Hầu hết mỗi lần thăm bạn nên đọc một phần Kinh Thánh ngắn và cầu nguyện cho những nhu cầu đặc biệt của người ấy. Tuy nhiên nếu là người đau, thì tốt hơn là bạn nên cầu nguyện ngay cho người ấy thay vì chờ đến khi chấm dứt sự thăm viếng. Bạn phải hướng dẫn cuộc nói chuyện để được vui vẻ, và gây dựng. Đôi khi tất cả điều bạn cần làm là ngồi xuống và lắng nghe. Bạn không cần phải độc chiếm buổi nói chuyện.
(5) Liệt kê những yếu tố ảnh hưởng đến thời gian mà một mục sư sử dụng trong một lần thăm và ông làm gì khi đến thăm ?
(6) Nếu bạn vừa thực hiện những cuộc thăm viếng gần đây, lý do đi thăm của bạn là gì:
a. Đối với những thành viên trong Hội thánh ?
b. Đối với những người không phải là thành viên của Hội thánh?
(7) Sao chép những tiêu đề của bản này vào sổ ghi chú của bạn. Kẻ thêm những cột mục và điền cho đầy đủ vào một trang giấy với một kế hoạch sẽ giúp bạn trong những cuộc thăm viếng chăm sóc. (Tên, Ngày giờ, Hoàn cảnh gia đình, Ghi chú, Kết quả hay sự theo dõi.)
(8) Nếu một Hội thánh đang tăng trưởng nhanh hơn bạn đề nghị những bổ sung nào vào kế hoạch ?
Mục tiêu 3: Nhận diện các hướng dẫn cho sự thăm viếng tại bệnh viện của mục sư.

THĂM TẠI BỆNH VIỆN.
Khi một mục sư đến thăm tại bệnh viện, những nguyên tắc chung mà chúng ta thảo luận trong việc thăm viếng tại nhà cũng sẽ áp dụng tại đây. Tuy nhiên, tôi sẽ ghi thêm một số hướng dẫn đặc biệt nữa để bạn ghi nhớ.
1. Làm quen với cơ quan hành chánh của bệnh viện. Là một mục sư bạn có thể tự giới thiệu với những người có trách nhiệm. Khi họ biết bạn và mục đích của bạn, thì bạn sẽ có thể đến ngoài giờ thăm viếng bình thường. Điều đó sẽ giúp bạn thảo luận với họ bất cứ những quan tâm đặc biệt nào với ý nghĩ vì lợi ích của bệnh nhân.

2. Hỏi ý kiến bác sĩ điều trị. Trong nhiều trường hợp, bạn sẽ giúp cho chính mình cũng như cho bệnh nhân nếu bạn nói chuyện với bác sĩ chịu trách nhiệm để tìm ra cách mà bạn có thể đem lại ích lợi nhất cho tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Giả sử một trong các thành viên của Hội thánh bạn được đưa vào một bệnh viện theo qui chế” không cho phép người nào vào thăm”. Tự nhiên bạn rất muốn thăm người ấy và gia đình cũng muốn bạn đến thăm bệnh nhân tại bệnh viện và cầu nguyện cho người ấy. Với hoàn cảnh căng thẳng mà chúng ta vừa mô tả như thế, rõ ràng bạn phải tiếp xúc trước với bác sĩ điều trị hoặc người cố vấn trách nhiệm ở bệnh viện. Bạn muốn làm tròn trọng trách của mình và đáp ứng yêu cầu của gia đình, nhưng đồng thời bạn không muốn quấy rầy sự chăm sóc bệnh nhân của bệnh viện. Bạn cũng phải nhớ rằng gia đình của bệnh nhân cũng cần đến nhiệm vụ của bạn nữa.
3. Kết hợp với những người khác trong việc đi thăm tại bệnh viện. Thăm viếng tại nhà và thăm tại bệnh viện không phải là nhiệm vụ chỉ dành riêng cho mục sư. Ghi nhớ điều này thì bạn phải tổ chức huấn luyện và động viên các toán thăm viếng để phục vụ mọi người. Một lãnh vực đặc biệt có cần là tổ chức thăm viếng truyền giảng tại bệnh viện, cũng như tại các hội quán khác và nhà riêng. Một cách để huấn luyện người đi thăm là đem theo một hoặc hai người trong Hội thánh cùng đi thăm viếng với bạn. Sau vài lần họ quan sát bạn, họ có thể đi thăm một mình và rồi hướng dẫn người khác trong công tác này.
4. Lập kế hoạch theo dõi chăm sóc. Trong hầu hết các trường hợp, nhất là việc thăm viếng truyền giảng, điều quan trọng là biếu một số sách nhỏ hoặc có sắp xếp để theo dõi chăm sóc. Nếu có thể được và sẵn sàng tài liệu, thì mỗi lần đi thăm luôn luôn mang theo những truyền đạo đơn thích hợp hoặc văn phẩm khác để biếu cho những người mình đến thăm.

(9) Khoanh tròn mẫu tự trước những lời diễn đạt đúng về việc mục sư đến thăm tại bệnh viện.
a. Mối quan tâm của mục sư phải giới hạn đối với tình trạng thuộc linh của bệnh nhân.
b. Mục sư quen biết với cơ quan hành chánh của bệnh viện sẽ có thể dễ dàng vào thăm và một chức vụ thăm viếng tại bệnh viện sẽ hiệu quả hơn.
c. Vì sự thăm viếng người bệnh là một công tác khó khăn nên tốt hơn là dành việc ấy cho một mục sư kinh nghiệm.
d. Công tác theo dõi chăm sóc là một phần thiết yếu của sự thăm viếng truyền giảng.
KHUYÊN BẢO.
Rất nhiều sách và bài báo viết về sự khuyên bảo. Thật ra khuyên bảo là một nghề nghiệp đòi hỏi nhiều nghiên cứu. Nếu bạn muốn hiểu thêm về đề tài này, mời bạn học loạt bài ICI về Khuyên bảo Cơ Đốc, Phép chữa trị bằng tình thương (Agape Therapy) và Chức vụ khuyên bảo của mục sư (Pastoral Counseling).
Thật thích hợp để nói rằng công tác chăm sóc và khuyên bảo của mục sư phải bổ túc cho nhau. Tôi chưa hề thấy mục sư nào có thể né tránh việc khuyên bảo, bằng cách này hay cách khác ngay cả khi Hội thánh có một vị khuyên bảo chuyên ngành phục vụ trọn thời gian trong ban lãnh đạo. Bản chất thật của chức vụ là bạn vẫn gắn liền ở vài mức độ của sự khuyên bảo. Phần thảo luận sau đây sẽ chú ý đến việc khuyên bảo là gì và có liên quan đến những vấn đề nào.
Mục tiêu 4: Định nghĩa sự khuyên bảo Cơ đốc và nhận ra những ví dụ của hai loại chính.
KHUYÊN BẢO LÀ GÌ
Theo quan điểm Cơ đốc, khuyên bảo là một thiến trình làm thay đổi và tăng trưởng trong một người qua công tác của một mục sư hay người khuyên bảo luôn tìm cách sử dụng mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên hay của con người để đem lại sự tươi mới, sự chữa lành, sự toàn vẹn và trưởng thành cho người được khuyên. Đối với nhiều người, khuyên bảo đơn giản là lời khuyên. Mặc dù những người làm công tác khuyên bảo tín hữu nhìn nhận rằng những nhu cầu và những nan đề còn tồn tại, nhưng đồng thời họ công bố rằng những tài nguyên không hạn chế của Đức Chúa Trời vẫn hữu hiệu cho những người đáp ứng bằng đức tin.
Sự Khuyên Bảo Cá Nhân.
Tiếp xúc trực tiếp. Sự tiếp xúc này thường được sử dụng với cá nhân hoặc khuyên bảo một với một. Thông thường khi một tín hữu trong Hội thánh có một nan đề trầm trọng mà người ấy không thể tự giải quyết, người ấy đến với mục sư mong đợi nhận được lời khuyên hay được khuyên bảo. Có lẽ người ấy không nắm chắc về giải pháp của Kinh Thánh như thế nào và muốn được nghe lời cố vấn. Mục sư có thể nói chuyện với người ấy, đọc Kinh Thánh và khuyên lơn rồi tín hữu này có thể sung sướng về nhà. Đấy là sự khuyên bảo tiếp xúc trực tiếp và có thể là giải pháp cho một số nan đề; tuy nhiên, có một số nhà khuyên bảo không hoàn toàn nhất trí với loại tiếp xúc này. Dầu vậy, đối với một số trường hợp điều này đủ cho nhu cầu.
Tiếp xúc gián tiếp. Còn có những trường hợp khác, phải làm nhiều hơn là lời khuyên bảo. Trong cách tiếp xúc gián tiếp, người nhân sự khuyên bảo được hướng dẫn để tìm lời giải đáp cho chính mình. Đôi khi mục sư chỉ lắng nghe người này và không nói gì cả. Thường thường thì chỉ cần nói nan đề cho người nào khác là đã giúp người này tìm ra giải pháp cho mình, mặc dù người chưa nhận được lời khuyên trực tiếp. Những câu hỏi gợi ý để cho người ấy nhận thức đúng về nan đề của mình và lựa chọn những giải pháp khả dĩ. Một số lớn nhà khuyên bảo nhận thấy đây là cách tiếp xúc tốt hơn. Tuy nhiên trong vài hoàn cảnh kết hợp cả hai loại tiếp xúc là cần thiết.
Sự Khuyên Bảo Theo Nhóm.
Đây là một hoàn cảnh khuyên bảo có liên quan đến hơn một người (ngoài mục sư) . Khuyên bảo theo nhóm thường sử dụng cách tiếp xúc gián tiếp và mất nhiều thời gian hơn là khuyên bảo cá nhân. Khuyên bảo trước hôn nhân, mà chúng ta sẽ thảo luận trong bài kế tiếp thuộc loại này. Trong sự khuyên bảo theo nhóm, vấn đề có liên quan đến hai cá nhân hoặc một nhóm tín hữu cùng có chung một nan đề và phải cùng nhau đối phó. Đôi khi loại khuyên bảo này được gọi là phương cách cứu chữa cho cả nhóm. Cách cứu chữa cả nhóm này thường được sử dụng trong những vấn đề của gia đình, có liên quan đến toàn thể thể gia đình cùng làm việc với nhau.
(10) Một thành viên trung học phổ thông trong Hội thánh bạn đến nói với bạn rằng em ấy muốn làm một người khuyên bảo. Em ấy hỏi bạn” Sự khuyên bảo Cơ đốc là gì?”. Bạn trả lời cho em ấy như thế nào ?
(11) Ghi chữ TT vào trước những lời diễn đạt mô tả cách tiếp xúc trực tiếp, và GT nếu đó là cách tiếp xúc gián tiếp.
.....a. Joe, một tân tín hữu, hỏi mục sư rằng Kinh Thánh nói gì về việc kết hôn với một người ngoại.
.....b. Kevin muốn biết phải làm gì về những vấn đề trong cuộc hôn nhân của anh đang đe dọa, phá hủy gia đình anh.
.....c. Mary khốn khổ vì cô ta ganh tị với giáo viên Trường Chúa nhật đến trước cô ấy. Mục sư khuyên cô đọc ICo1Cr 3:5-9.
.....d. Sau khi nghe những nan đề của một cặp vợ chồng, mục sư yêu cầu mỗi người mô tả quan điểm của người kia đối với vấn đề.

Mục tiêu 5: Nhận ra những lời nói mô tả cách chính xác về trách nhiệm của mục sư trong việc khuyên bảo.
TRÁCH NHIỆM CỦA MỤC SƯ.
Như chúng ta đề cập trước đây, việc chỉ là một mục sư sẽ liên hệ bạn với một loại khuyên bảo nào đó. Người ta đến chia sẻ với bạn về những nan đề của họ. Dù bạn dán nhãn hiệu cho những thảo luận ấy là khuyên bảo hay không thì bạn vẫn sẽ có một số trách nhiệm. Những nguyên tắc sau đây sẽ giúp hướng dẫn bạn:
1. Chấp nhận sự khuyên bảo như là một phần chăm sóc của mục sư. Sẵn sàng chia sẻ những nan đề của con người là một phần của sự quan tâm toàn bộ và chức vụ chăm sóc của mục sư. Sự thật là việc người ta có những nan đề và những nhu cầu cũng đủ lý do để có một chức vụ như thế. Nhờ sự giúp đỡ của Chúa, khi bạn nhận nhiệm vụ này bạn sẽ có cơ hội hướng dẫn bầy chiên mình học biết rằng Chúa chăm sóc và có một giải đáp cho tất cả những nhu cầu của họ.
2. Có những lời khuyên kịp thời khi cần thiết. Có một số vấn đề, đặc biệt là những vấn đề của một bản chất thuộc linh, khiến cho mục sư là người khuyên bảo có tư cách nhất. Tuy nhiên, điều dễ hiểu là có đôi lúc bạn cảm thấy mình không thích hợp vì mình không được học những khóa huấn luyện về tâm lý. Mặt khác, bạn lại tiếp xúc với nguồn tài nguyên mà một nhà tâm lý học lỗi lạc hay một người không phải là Cơ đốc nhân không thể có. Bạn không cần phải sợ hãi. Tuy nhiên, khi có bằng cớ về những vấn đề tâm lý sâu sắc như bệnh trạng xã hội nghiêm trọng hoặc bệnh tâm thần, thì nên chuyển người đến một sự giúp đỡ chuyên khoa. Điều đó không có nghĩa là bạn bỏ rơi người được khuyên bảo. Bạn có thể luôn luôn làm sáng tỏ rằng bạn mong muốn gắn bó với một vai trò tư vấn qua việc thăm viếng và giúp đỡ hướng dẫn về mặt thuộc linh . Mặc dù bạn có thể không thảo ra những lời khuyên hợp pháp, nhưng bạn có thể giúp những lời khuyên thuộc linh. Kinh Thánh vẫn còn là cuốn sách rộng mở mà bạn có thể dùng để hướng dẫn, an ủi và tạo hy vọng cho những người bạn đang phục vụ.
3. Đừng tạo sự lệ thuộc mãi mãi. Mục đích của sự khuyên bảo là giúp cho người được khuyên đạt được sự trọn lành và trưởng thành. Chức vụ khuyên bảo của bạn phải luôn luôn hướng về sự chấm dứt việc lệ thuộc vào bạn càng sớm càng tốt. Chủ đích là phải giúp cho người được khuyên bảo tìm nguồn năng lực cho mình từ Đức Chúa Trời và Lời Ngài. Dĩ nhiên rất dễ cho bạn tiếp nhận sự khâm phục của một số người lệ thuộc vào bạn về hỗ trợ tình cảm lẫn các nhu cầu khác. Tuy nhiên, thái độ như thế sẽ làm hại cho toàn bộ mục đích chăm sóc. Dẫn dắt một người đến sự trưởng thành trong Chúa phải luôn luôn là mục tiêu của bạn.
4. Hoàn toàn giữ kín tất cả thông tin liên quan đến sự khuyên bảo. Nguyên tắc này không thể nào nhấn mạnh đủ được. Có lẽ không điều gì phá hoại tính hiệu quả của chức vụ mục sư cách nhanh chóng cho bằng một sự thiếu tín nhiệm. Ơû đây, tính chính trực của mục sư trở thành một phẩm chất quan trọng. Bạn không bao giờ được chia sẻ với ai, ngay cả với vợ bạn hay vợ hoặc chồng của người được khuyên bảo về những vần đề có trao đổi với bạn nếu không có phép rõ rệt của người được khuyên bảo. Tại nhiều quốc gia, những điều tâm sự, chia sẻ với mục sư được pháp luật bảo vệ. Sự kiện này phải giúp bạn bảo đảm rằng không có những vấn đề cá nhân nào trở thành đầu đề cho những cuộc ngồi lê đôi mách.
(12) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt đúng liên quan đến trách nhiệm của mục sư trong việc khuyên bảo.
a. Một mục sư đang khuyên bảo một đôi vợ chồng trẻ. Để có cái nhìn rộng rãi hơn về vấn đề của họ, ông thảo luận điều ấy với vợ mình.
b. Biết mình còn thiếu kinh nghiệm, một mục sư trẻ bảo với người được khuyên bảo rằng mình có thể mời một mục sư có kinh nghiệm hơn để thảo luận với họ.
c. Vì mục sư không được học về khuyên bảo và ông rất bận rộn trong việc xây dựng một Hội thánh mới, nên ông chuyển mỗi một người có vấn đề đến với ông đến một người khuyên bảo chuyên nghiệp.
d. Mục sư bày tỏ thái độ chăm sóc của ông bằng cách hướng dẫn người được khuyên bảo tìm ra giải pháp cho nan đề của họ.
Mục tiêu 6: Giải thích thế nào mục sư hành sử chức năng như một thầy tế lễ.
CẦU THAY.
Đa số công tác của mục sư được thực hiện giữa công chúng. Tuy nhiên chức vụ công khai hiệu quả chịu ảnh hưởng lớn bởi chức vụ ở trong” phòng riêng” (Mat Mt 6:6). Điều này không có nghĩa là chức vụ cầu thay của mục sư bị giới hạn trong sự cầu nguyện riêng, nhưng đây là nơi sự cầu thay được chủ yếu thực hiện. Trước khi Chúa Jêsus chọn trong số những môn đệ của Ngài Mười Hai Sứ đồ, thì Ngài đã dành trọn cả đêm để cầu nguyện (LuLc 6:12). Trong những tác phẩm của mình. Phaolô thường đề cập đến sự cầu thay vì lợi ích của những người ở các nơi khác nhau ông đã phục vụ.
MỤC SƯ LÀ MỘT THẦY TẾ LỄ.
Thầy tế lễ trong Cựu ước là người đại diện của dân sự trước mặt Đức Chúa Trời. Người ấy cũng là một phát ngôn viên cho dân sự đến với Đức Chúa Trời. Qua thấy tế lễ mà dân sự được đến gần Đức Chúa Trời. Nhờ sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá, bây giờ chúng ta được phép đến gần ngôi ân phúc mà không cần có thầy tế lễ con người nào. Vì tấm màn của đền thờ bị xé làm đôi trừ trên chí dưới khi Chúa Jêsus xả thân vì chúng ta trên thập tự giá (Mat Mt 27:51), nên tất cả những tín hữu đều có thể đến gần sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Và bây giờ họ là những vị vua và những thầy tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời (KhKh 1:6; IPhi 1Pr 2:5, 10). Kinh Thánh cũng dạy rằng chúng ta phải cầu nguyện cho nhau (Gia Gc 5:16) và mang gánh nặng của nhau (GaGl 6:2).
Mục sư có một vị trí cầu thay duy nhất vì ông biết rõ những nhu cầu của hội chúng hơn bất cứ ai khác. Ông là người chăn chiên vác chiên bị thương, và nhiều lần mục sư là người duy nhất có thể chia sẻ một gánh nặng với một thành viên khổ đau trong Hội thánh. Trong Hêbơrơ đoạn 4 và 5 chúng ta có thể góp nhặt những bài học quan trọng về chức tế lễ của Đấng Christ, được xem như một gương cho mục sư trong vị trí là thầy tế lễ.
1. Ông nhạy bén với những nhu cầu. Khi làm việc giữa công chúng, mục sư quen với những nhu cầu của con người, các vấn đề cần chăm sóc, những cám dỗ và nan đề. Và ngay cả có thể vì quá quen thuộc với những nhu cầu và vấn đề này nên mục sư có thể lạnh nhạt hoặc không thông cảm đối với những điều ấy. Khi một mục sư nhạy bén, người ấy không cần phải nghe nhiều, mà vẫn có thể nhận ra được điều gì đó sai trật. Vì vậy, Thánh Linh cũng có thể giúp bạn phát triển đức tính này nữa.
2. Ông có thái độ thương xót, thông cảm đối với những người thất bại. Bởi vì theo nhân tính của riêng ông, mục sư cần có lòng khoan dung và nhẫn nại đối với người trượt ngã. Vào những lúc đó, mục sư phải cho họ biết rằng có sự thương xót và ân sũng trong thì giờ có cần (HeDt 4:16). Khi một tín hữu thất bại, đó không phải là lúc để mục sư dùng tòa giảng để đả kích người ấy. Mặc dù lời của Đức Chúa Trời có ích cho việc” bẻ trách và sửa trị” (IITi 2Tm 3:16-17), nhưng điều đó phải được dùng với lòng khoan dung. Khiển trách là cần nhưng nó phải được thực thi với lòng thương xót để mang kẻ lầm lạc đến sự tha thứ.
3. Ông bày tỏ sự quan tâm đến từng cá nhân. Thầy tế lễ không thể tách rời khỏi dân sự. Kinh Thánh mô tả rằng Chúa Jêsus bị cám dỗ trong tất cả mức độ như chúng ta, nhưng Ngài không phạm tội. Biết những gì con người đương đầu, bạn có thể đến gần và phục vụ những nhu cầu của họ trong sự nhạy bén và thông cảm. Trong nhiều trường hợp, bạn sẽ phải đau đớn trong sự cầu nguyện riêng tư. Kinh nghiệm của Chúa Jêsus trong vườn Ghếtsêmanê có thể lắm là một khuôn mẫu. Trong lúc các môn đồ ngủ gục thì một mình Chúa Jêsus lại cầu thay cho họ.
(13) Giải thích những chức năng như một thầy tế lễ của mục sư
Mục tiêu 7: Nhận diện mục tiêu tối hậu của việc thi hành kỷ luật sửa dạy ở trong thân thể Hội thánh.
KỶ LUẬT
Một trong những công tác khó khăn và nhạy bén nhất mà một mục sư và những người lãnh đạo Hội thánh phải đương đầu ấy là phương pháp thích hợp để áp dụng kỷ luật sửa dạy đúng đắn. Chẳng ai thích bị sửa trị cũng như chẳng ai thích áp dụng việc sửa trị. Thật ra đa số mục sư cũng chẳng muốn nói đến việc kỷ luật lại càng không làm bất cứ điều gì về việc đó. Đó không phải là một công tác thú vị và một phần nữa là do ý nghĩ bao hàm của từ ngữ. Thông thường, chữ kỷ luật có nghĩa là” trừng phạt” trong khi thực tế chữ này có một ý nghĩa rộng rãi hơn nhiều.
KỶ LUẬT LÀ GÌ ?
Ý nghĩa của kỷ luật liên quan đến hai vấn đề: sự dạy dỗ và sự sửa lại cho đúng. Sự dạy dỗ có nghĩa là“huấn luyện để uốn nắn hay làm cho hoàn thiện đặc tính đạo đức”. Sự sửa lại cho đúng, có nghĩa là” kiểm soát những gì đạt được bằng mệnh lệnh hay cưỡng bách vâng lời”. Chúng ta thường so sánh sự sửa dạy mà Cha Thiên Thượng ban cho với sự dạy dỗ, uốn nắn mà một người cha trần gian dành cho.
MỤC ĐÍCH CỦA KỶ LUẬT.
Mục đích tối hậu của kỷ luật không phải là hình phạt nhưng là cứu chuộc (HeDt 12:10-11). Kỷ luật mà Hội thánh thi hành phải có mục tiêu phục hồi những thành viên lầm lạc đi vào sự thông công trọn vẹn với Đức Chúa Trời và với thân thể của Đấng Christ. Sự sửa trị trong bất cứ trường hợp nào cũng không nhắm vào sự hủy diệt, nhưng có dụng ý xây dựng đức tánh của Đấng Christ nơi người ấy và phát triển có tính xây dựng sự tự kỷ luật bản thân mình.
Khi một phần nào của cơ thể vật lý bị yếu hay đau, chúng ta chữa trị nó. Trong lúc đó toàn thân thể đều đau đớn. Thông thường khi chúng ta chữa trị, thì toàn thân cảm thấy đau nhức. Có trường hợp, vấn đề cần phải giải phẩu, thì tiến trình giải phẫu luôn luôn gây đau đớn.
Bạn bắt buộc áp dụng kỷ luật sửa dạy trong những vấn đề liên quan đến:
1. Sai phạm về giáo lý (RoRm 16:17; ITi1Tm 6:3-5).
2. Vô luân (Mac Mc 7:20-22; ICo1Cr 5:1-13).
3. Tinh thần kiêu ngạo và không ăn năn (Mat Mt 18:17).
NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA KỶ LUẬT.
Có thể mục sư cần phải khởi đầu kỷ luật cần thiết trong Hội thánh, nhưng kỷ luật là một vấn đề của toàn Hội thánh chứ không riêng gì của mục sư. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là mỗi người đều có dính dáng đến tiến trình này. Phương cách và lúc nào bạn thi hành kỷ luật có thể có một ảnh hưởng trên toàn Hội thánh.
Vì sức khỏe của toàn thân thể Hội thánh, bạn phải dựa theo một số nguyên tắc Kinh Thánh trong kỷ luật sửa dạy sau đây.
1. Kỷ luật phải được áp dụng theo những qui luật của Hội thánh như hiến chương hay điều lệ đã được mọi người đồng ý. Bạn có thể giải quyết những vấn đề nhỏ trong một cuộc thăm viếng thân mật, nhưng bạn không thể giải quyết những vấn đề liên hệ đến Hội thánh chung trong một cuộc thăm viếng cách riêng tư. Tuy nhiên, khi bạn giải quyết, bạn cần sự ủng hộ của những lãnh đạo khác và hội chúng.
2. Bạn không thể kết án anh em hoặc chị em phạm lỗi mà không cho người ấy có một cơ hội trình bày quan điểm của mình hoặc lời biện hộ (Mat Mt 18:15-17). Người phạm tội phải hiểu bản chất của sự phạm tội.
3. Kỷ luật phải căn cứ vào Kinh Thánh. Động cơ trước tiên ở đàng sau kỷ luật là đem người phạm lỗi đến sự ăn năn thành thật. Rồi sau đó bạn phải phục hồi người ấy đến sự thông công đầy đủ với Đấng Christ và trong thân thể Hội thánh. Kỷ luật được thực hiện với thái độ đúng đắn có thể là một phần tích cực trong sự lớn lên và phát triển của cá nhân và Hội thánh.

4. Khi những sự phạm lỗi có tính cách công khai, thì thành viên ăn năn có thể cần phải bày tỏ công khai rằng sự ăn năn của mình là thành thật. Điều này đòi hỏi một thời gian để người ấy bày tỏ sự thay đổi thật và người ấy thành thật muốn được phục hồi vào mối thông công. Điều này không làm rối trí người nhưng tạo một hiệu quả lành mạnh cho tất cả mọi người.

5. Người ăn năn phải được trọn vẹn phục hồi vào mối thông công. Kinh Thánh chứng tỏ thân thể có một hệ thống kết cấu để giữ cho nó mạnh mẽ và khỏe khoắn. Thông thường khi bạn lâm vào giữa nan đề, bạn cảm thấy bất lực và dường như mọi việc sẽ sụp đổ. Hãy nhìn vào tấm gương của đời sống Phierơ. Khi ông nói dối và chối Chúa của mình, ông có thể nghĩ rằng mình chẳng bao giờ được phục hồi, vì vậy trường hợp của ông gần như tuyệt vọng. Nhưng hãy xem Chúa Jêsus đối xử với ông như thế nào (GiGa 21:15-19). Bằng cách tế nhị, Chúa Jêsus bắt đầu khôi phục Phierơ bằng cách hỏi về tình yêu và sự đầu phục của ông. Chúa Jêsus không đòi hỏi ông giải thích tại sao ông thất bại. Ngài chỉ hỏi ông xem xét lại tình yêu của mình đối với Chúa. Chúa Jêsus phục hồi Phierơ cách trọn vẹn khi tế nhị giao phó cho ông một nhiệm vụ mới. Bấy giờ Phierơ biết mình đã được tha thứ và được Chúa cần dùng. Đức Chúa Trời đã đặt các mục sư trong Hội thánh để cung ứng loại lãnh đạo tế nhị khéo léo này đối với bầy chiên và bày tỏ sự quan tâm đầy đủ và sự chăm sóc yêu thương chu đáo đối với cả những người có cần.

(14) Mục tiêu tối hậu của kỷ luật trong Hội thánh là để:
a. Cảnh cáo những thành viên trong thân thể Hội thánh chống lại sự phạm tội.
b. Phục hồi người phạm lỗi trở lại mối thông công trong Đấng Christ.
c. Chứng minh rằng có sự trong sạch trong Hội thánh.
d. Theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh để khai trừ người phạm tội.
Bây giờ bạn đã hoàn tất bài học thứ 10. Vậy tiếp tục làm bài trắc nghiệm cá nhân và nhớ kiểm lại các câu trả lời của bạn.
****

BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
CÂU HỎI LỰA CHỌN.
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Một mục sư được so sánh với người chăn bầy chủ yếu trong sự:
a. Giảng và dạy của ông.
b. Sự khuyên bảo và cảnh cáo của ông.
c. Sự canh giữ và chăm sóc của ông.
d. Lập chương trình và thực hiện của ông.
2. Sự thăm viếng tại gia đình của mục sư nên bao gồm:
a. Chỉ những ai không đi nhà thờ.
b. Chỉ những ai thành viên của Hội thánh ông.
c. Chỉ những ai mời ông đến thăm.
d. Bất cứ ai cần đến chức vụ của ông.
3. Mục đích chính của sự thăm viếng của mục sư là để:
a. Củng cố sự gắn bó của nhiều người với Hội thánh.
b. Tìm những thân hữu để trở nên thành viên của Hội thánh.
c. Phục vụ bầy chiên.
d. Chăm sóc và động viên về mặt thuộc linh.
4. Mục sư cần lập một kế hoạch thăm viếng chủ yếu để được hiệu quả và để:
a. Tiết kiệm thì giờ, năng lực và tiền bạc
b. Chứng tỏ tài lãnh đạo của ông.
c. Làm quen với người mới.
d. Gia tăng số thành viên của Hội thánh lên.
5. Đề cập đến những lần thăm viếng tại bệnh viện, mục sư nên:
a. Cảm thấy chỉ có một mình mình là có thể lo cho những nhu cầu thuộc linh.
b. Xem mình là một phần của ban chăm sóc cho bệnh nhân.
c. Ủy thác các cuộc đi thăm này cho những người khác.
d. Chờ đợi cho đến khi những người có liên quan yêu cầu đến thăm.
6. Một khía cạnh quan trọng của việc khuyên bảo gián tiếp là:
a. Ban cho những hướng dẫn trực tiếp.
b. Lập những nhóm chữa trị.
c. Lắng nghe người được khuyên bảo nói.
d. Có sự giúp đỡ kịp thời.
7. Những chữ sau đây mô tả vai trò một thầy tế lễ của mục sư. NGOẠI TRỪ:
a. Nhạy bén.
b. Cầu thay.
c. Thương xót.
d. Kỷ luật.

CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ trước mỗi câu đúng và S trước mỗi câu sai.
.....8. Aån dụ về người chăn chiên ám chỉ rằng sự chăm sóc của mục sư có tính cách toàn bộ mà không còn quan tâm đến cái giá mà cá nhân mình phải trả.
.....9. Khuyên bảo chủ yếu là cho lời khuyên tốt.
.....10. Người được khuyên lệ thuộc vào người khuyên bảo chứng tỏ sự khuyên bảo ấy thành công.
.....11. Người chăn vác một con chiên bị thương tích có thể sánh với sự cầu thay của mục sư.
.....12. Mục tiêu tối hậu của kỷ luật trong Hội thánh là làm tinh sạch thân thể của Đấng Christ.
&
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Là một người chăn chiên chân chính, bạn có thể để qua một bên lợi ích riêng của mình và tự chối mình để chăm sóc bầy chiên.
(2) Người ấy có thể dốc đổ lòng mình ra trong sự cầu thay cho người hư mất và ra đi mang Phúc âm đến với những con người tội lỗi.
(3)
a. 2) Mat Mt 9:36.
b. 5) Cong Cv 20:31.
c. 1) GiGa 10:11-12.
d. 3) LuLc 15:4-6.
e. 4) GiGa 10:3.
(4)
a. Ý định đầu tiên là truyền giảng.
b. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm những nhu cầu đặc biệt như thăm viếng người bệnh, người thất vọng và những người có những nan đề gia đình. Hoặc bạn có thể trả lời, phục vụ những nhu cầu đặc biệt và khuyến khích những người có thể không trình bày những nhu cầu đặc biệt của họ.
(5) Phong tục địa phương và mục đích của cuộc viếng thăm sẽ ảnh hưởng đến thời gian thăm viếng. Những gì mục sư làm tùy thuộc vào tình trạng thể chất, thuộc linh và những nhu cầu đặc biệt của người được thăm.
(6) Câu trả lời của bạn. Trong cả hai trường hợp một phần câu trả lời của bạn có thể là phục vụ cho các nhu cầu của họ.
(7) Câu trả lời của bạn. Nếu bạn chưa có một kế hoạch, hãy lập theo kế hoạch này, hoặc kế hoạch tương tự như thế để giúp cho bạn trong sự thăm viếng.
(8) Một số gợi ý như: làm một hồ sơ gồm cạc để liệt kê tên người cần được thăm và ghi danh một số người thực tập giúp đỡ việc thăm viếng, có một hệ thống chấp sự được chỉ định trách nhiệm trong một số khu vực.
(9) b, và d là những câu đúng.
(10) Câu trả lời của bạn có thể tương tự như sau: sự khuyên bảo Cơ đốc là mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều người hơn trong đó người khuyên bảo sử dụng tất cả những phương tiện của con người và những nguồn tài nguyên thiên thượng để đem đến sự tươi mới, sự chữa lành, sự khôi phục trọn vẹn và sự trưởng thành cho người được khuyên bảo.
(11) a, và b là sự tiếp xúc trực tiếp, c và d là sự tiếp xúc gián tiếp.
(12) b và d là những câu đúng.
(13) Câu trả lời của bạn có thể bao gồm những điều như mục sư phải nhạy bén, cảm xúc được nhu cầu, phải có lòng thương xót những người thất bại, và trình dâng từng người lên để Chúa thương xót họ.
(14) b) phục hồi người phạm lỗi trở lại mối thông công trong Đấng Christ.




Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 04:55 AM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách