† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2321|Trả lời: 0

Chức Vụ Chữa Lành - LÀN SÓNG THỨ BA

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 5-11-2011 08:13:21 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Chức Vụ Chữa Lành
Tác giả: C. Peter Wagner

LÀN SÓNG THỨ BA

Hàng ngàn Cơ Đốc nhân đang kêu lên rằng: Đây là một thời đại mới dành cho Hội thánh!
Tôi bắt đầu tin rằng họ đúng. Phải thú nhận rằng, suốt 2000 năm của lịch sử Cơ Đốc, đây không phải là lần đầu tiên những thời kỳ mới mẻ đã ló dạng. Các Cơ Đốc nhân dưới thời Lamã hẳn đã bảo thời kỳ của họ là một thời kỳ mới khi Constantine lên ngôi. Những Cơ Đốc nhân thuộc bán đảo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha hẳn đã tuyên bố điều đó khi Columbus trở về với các câu chuyện về một thế giới mới. Những Cơ Đốc nhân người Đức hẳn cũng đã nói điều đó khi Luther xuất hiện trước Nghị Viện Giáo Hoàng Lamã ở thành Worms. Nhưng không người nào trong số họ có thể vui mừng hơn những người lãnh đạo Cơ Đốc ngày nay, những người có khả năng nhận định được cánh tay Đức Chúa Trời đang hành động khắp thế giới ngày nay của chúng ta.
Vì cớ một điều, mùa gặt chưa bao giờ chín mùi hơn hiện nay. Theo ước tính của những người dè dặt, hiện nay mỗi ngày có 78.000 tân tín hữu. Mặc dù nhiều người trong số này được sinh ra trong những gia đình được xếp vào loại Cơ Đốc nhân hữu danh vô thực, dầu vậy một ước tính dè dặt gồm 14.000 người đã trở thành những người lớn nhận biết Chúa.1 Dè dặt là vì, con số chính xác có thể lên gấp đôi.
Sự tăng trưởng bùng nổ của Hội Thánh đang xảy ra ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, chẳng hạn Trung Quốc, nơi mà có 50 triệu người hiện được báo cáo đang theo đạo Cơ Đốc, hoặc Triều Tiên là nơi có rất nhiều Hội Thánh địa phương có số thành viên lên đến hàng chục ngàn người, hoặc Argentina là nơi mỗi ngày người ta thống kê có 8.000 người quyết định tin Chúa (mặc dầu chỉ một phần nhỏ trong số họ là tham gia vào các Hội Thánh đang kết quả sung mãn).
Đáng kể hơn nữa, trong thế kỷ thứ hai mươi tỉ lệ phần trăm các Cơ Đốc nhân khi so sánh với toàn bộ dân số thế giới là đang tăng lên.
Ở tại Hoa Kỳ, thái độ tiếp nhận đối với phúc âm rất cao. Mặc dầu có nhiều các giáo phái chính thống truyền thống đang mất dần các thành viên, sự mất mát này dược bù đắp nhiều hơn bởi sự tăng trưởng sống động của các Hội Thánh Tin Lành và các giáo phái Tin Lành bao gồm Ngũ tuần và ân tứ. Có ít nhất sáu nhà thờ 10.000 chỗ ngồi hoặc hơn đã được xây dựng trong tám năm qua với hơn số lượng ấy được thêm vào trong tám năm tiếp theo. Một số các Hội Thánh mới đã bắt đầu lan tràn khắp nơi lên đến mấy ngàn thành viên trong chưa đầy năm năm qua, có nhiều thành viên trong số các Hội Thánh đó được các mục sư trẻ tuổi trên dưới 30 tuổi chủ tọa. Một Hội Thánh Hoa kỳ đã tuyên bố mục tiêu của họ là 100.000 thành viên.
Không những mùa gặt đã chín vàng hơn bao giờ hết, nhưng con gặt còn được trang bị tốt hơn bao giờ hết ngày nay. Khảo sát quan trọng đang làm rõ nhiệm vụ toàn cầu mà trước đây chưa từng có. Các tổ chức chuyên gia cố vấn như là Trung Tâm Truyền Giáo Thế Giới của Hoa Kỳ, World Vision’s MARC (Mission Advance Research and Communication Center), Tổ chức truyền giáo Nước Ngoài của Hội thánh Báp tít Miền Nam, Ủy ban Truyền Giáo Thế giới Lausanne, các trường học về truyền giáo thế giới đang tổ chức các chủng viện truyền giáo, và nhiều tổ chức khác đang sản sinh ra loại thông tin huấn luyện về nhiệm vụ làm tăng tốc việc hoàn thành Đại Mạng lệnh.
Các lãnh vực về hội truyền giáo học, truyền giáo, truyền thông xuyên văn hóa và tăng trưởng Hội Thánh đang mở rộng nhanh chóng. Những người tốt nghiệp trường Kinh Thánh và các chủng viện đang được trang bị với những kỹ năng hầu như không được nghe đến cách đây một thế hệ. Trong khi từ trước đến nay, hầu hết các nhà truyền giáo truyền thống được phái đi bởi các Hội Thánh Tây phương, thì hiện nay, 20.000 nhà truyền giáo từ các Hội Thánh thuộc Thế Giới Thứ Ba đã gia nhập với họ trong chức vụ khắp thế giới. Thời kỳ trì trệ của những năm 60, khi Hội Thánh bị coi rẻ và công tác truyền giáo bị xem thường, còn Đức Chúa Trời bị tuyên bố là đã chết, nay đã nhường bước cho một tia nắng mới trong những năm chuyển tiếp từ thế kỷ hai mươi sang thế kỷ hai mốt.
Phải, đây chính là một thời kỳ mới cho Hội thánh.
QUYỀN NĂNG THUỘC LINH MỚI
Một lý do chủ yếu của buổi bình minh thời đại mới là một sự lưu xuất chưa từng có về năng quyền thuộc linh qua các phong trào Ngũ tuần và ân tứ, nổi bật và tuôn tràn trong thế kỷ thứ hai mươi này.
Lãnh vực khảo sát, viết lách, và dạy dỗ của tôi là về sự tăng trưởng của Hội Thánh. Bởi vì tôi đã được đào luyện bởi Donald McGavran ở tại Chủng Viện Fuller vào cuối thập niên 60, tôi vẫn hết sức quan tâm đến việc biết nơi nào các Hội Thánh đang kinh nghiệm ơn phước của Đức Chúa Trời trong sự tăng trưởng, và lý do vì sao. Khi tôi bắt đầu công việc của mình với ông McGavran, tôi vẫn còn là một người chống Ngũ tuần. Mặc dầu có thể tôi vẫn miễn cưỡng thừa nhận những người Ngũ tuần là Cơ Đốc nhân, tôi nghi ngờ họ không phải là loại Cơ Đốc nhân làm đẹp lòng Chúa lắm. Nhưng McGavran dạy tôi rằng Thân Thể của Đấng Christ rộng lớn hơn là tôi tưởng và rằng Đức Chúa Trời yêu thương toàn Thân Thể. Hơn nữa, ông đã giúp tôi mở rộng “cặp mắt về sự tăng trưởng của Hội Thánh” nhờ đó tôi bắt đầu nhìn thấy và hiểu được công việc của Đức Thánh Linh trong việc đưa những người nam những người nữ đến với Cha Trên Trời bất kể nhãn hiệu giáo phái nào họ có thể mang.
Vào lúc ấy tôi là một nhà truyền giáo cho Bolivia. Khi trở lại vùng này, điều đầu tiên mà đôi mắt nhìn sự tăng trưởng Hội Thánh mới mẻ của tôi thấy được đó là sự kiện đáng kinh ngạc nhưng không thể chối cãi là khắp châu Mỹ Latinh, sự tăng trưởng của các Hội Thánh Ngũ tuần đã vượt xa sự tăng trưởng của tất cả các Hội Thánh truyền thống Cơ Đốc gộp lại, kể cả Hội Thánh của tôi. Tôi lập tức bắt đầu nghiên cứu về sự tăng trưởng của Hội Thánh Ngũ tuần, tôi thấy lòng nhiệt thành của mình gia tăng và tôi đã xuất bản một quyển sách vào đầu thập niên 70 có tựa là Look Out! The Pentecostals are Coming. Gần đây tôi đã cho viết lại và cập nhật hóa nó dưới tựa đề Spiritual Power and Church Growth ( Quyền Năng Thánh Linh và Sự Tăng Trưởng Hội Thánh ).2
Điều đúng với sự tăng trưởng của các Hội Thánh Ngũ tuần tại châu Mỹ Latinh cũng đúng với điều mà chúng ta ngày nay gọi là phong trào Ngũ tuần hay ân tứ trong hầu hết các nơi trên thế giới ngày nay. Khi chúng tôi xem xét toàn bộ bức tranh, những khảo sát cho thấy có sự tăng trưởng vững vàng của Hội Thánh ở một số nơi mà không có những dấu kỳ và phép lạ siêu nhiên. Cũng có rất nhiều trường hợp những sự chữa lành đáng kinh ngạc hơn cùng các phép lạ và những sự giải cứu mà có ít hoặc không có sự tăng trưởng Hội Thánh theo sau. Nhưng ở mọi nơi, trên một bình diện rộng lớn, sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất của các Hội Thánh Cơ Đốc được kèm theo bởi các dấu kỳ và phép lạ đặc trưng của phong trào Ngũ tuần hay ân tứ. Tôi sẽ cung cấp một số thống kê và minh họa về sau trong quyển sách này.
Cấu trúc của năng quyền thuộc linh mới này là gì? Nó có phải là một tài sản dành riêng cho những người Ngũ tuần và phong trào ân tứ không, hay là nó cũng được dành sẵn cho các Cơ Đốc nhân khác? Những câu hỏi như vậy, và những câu hỏi tương tự, đang được những Cơ Đốc nhân có lòng quan tâm nêu lên trong thời đại mới này của Hội thánh.
CÓ MỘT LÀN SÓNG THỨ BA CHĂNG?
Bạn tôi là Michael Cassidy thuộc Công Ty Thương Mại Phi Châu nghĩ mình là một trong những người “sống trong ánh sáng thần học chạng vạng giữa phong trào Tin Lành khá khắt khe và một phong trào Ngũ tuần đang nở rộ.” Trong tác phẩm Bursting the Wineskins , ông nói đến những người nhận biết sức mạnh tâm linh mới mẻ mà tôi đã mô tả, là những người ao ước được thấy nó hoạt động trong các chức vụ của họ, nhưng vì những lý do rất khác nhau, họ không cảm thấy tự do để đồng cảm với phong trào phục hưng ân tứ hiện thời.3
Trong suốt thập kỷ 80, số lượng những người Tin Lành truyền thống ... đang tìm kiếm và đã tìm được quyền năng thuộc linh mới mẻ gia tăng đáng kể .
Tôi biết chính xác Michael đã đến từ đâu. Bởi vì tôi thấy chính mình cũng ở trong cùng một chỗ đứng đó. Và chúng tôi không cô độc. Nhất là trong suốt thập kỷ 80, một sự gia tăng đáng kể số lượng những người Tin Lành truyền thống, cũng như một số người có lẽ thích đặt chính họ hơi lệch về phía trái của phong trào Tin Lành, đang tìm kiếm và tìm được một sức mạnh tâm linh mới. Giáo sĩ Anh giáo James Wong ở Singapore nhìn thấy khuynh hướng mới này rõ ràng. Ông nói: “Tôi gọi nó là làn sóng mới của Đức Thánh Linh. Thậm chí tôi không thấy nó như là một sức mạnh của phong trào ân tứ”, ông nói thêm: “Tôi xem nó như là một cuộc phục hưng lớn và sự chỗi dậy của niềm khao khát thuộc linh trong lòng con người khi họ nhìn thấy Đức Thánh Linh đang làm công việc tối thượng với các dấu kỳ và phép lạ.”4
Hình ảnh về một vùng đất không hề có giữa một hệ thống Tin Lành có khuynh hướng định kỳ và phong trào Ngũ tuần nầy đã bắt đầu trở nên rõ ràng vào đầu thập niên 80. Khi tôi đang vật lộn với chính hình ảnh của mình và điều mà Đức Thánh Linh dường như đang thực hiện, tôi được Kevin Perrotta thuộc tạp chí Pastoral Renewal phỏng vấn năm 1983. Đến cuối buổi thảo luận khá là hoàn hảo, ông hỏi tôi một câu hỏi thuộc về nhận thức. Ông hỏi có phải điều tôi đang mô tả thật sự là điều gì đó mới mẻ hay đó thật ra chỉ là một phần của điều chúng tôi đã nhìn thấy trong các phong trào Ngũ tuần và ân tứ. Lần đầu tiên tôi có thể nhớ mình đã dùng thành ngữ làn sóng thứ ba, khi trả lời câu hỏi của ông.5
Tôi tiếp tục giải thích rằng tôi thật sự coi đó là điều mới mẻ. Tôi tin rằng trong thế kỷ thứ hai mươi này, chúng ta đang chứng kiến sự tuôn đổ Thánh Linh mạnh mẽ nhất trên Hội Thánh thế giới, là điều mà lịch sử chưa hề biết đến. Ít nhất là về tầm cỡ, nếu không nói về chất lượng nữa, nó vượt quá, thậm chí thế kỷ thứ nhất. Đợt sóng thứ nhất của sự tuôn đổ này là sự bắt đầu và sự phát triển của phong trào Ngũ tuần trong buổi ban đầu của thế kỷ. Làn sóng thứ hai là phong trào ân tứ, đã bắt đầu vào khoảng năm 1960. Cả hai làn sóng này đều đã chứng kiến, và tôi tin rằng sẽ tiếp tục phải thấy, sự tăng trưởng bùng nổ của Hội Thánh. Bàn tay của Đức Chúa Trời ở trên chúng một cách phi thường.
Làn sóng thứ ba, đã bắt đầu mang đặc trưng riêng của nó ở tại Hoa Kỳ vào khoảng 1980, gồm những người Michael Cassidy và James Wong đã nhận biết. Khi tôi tình cờ sử dụng chữ làn sóng thứ ba vào năm 1983, tôi không hề nghĩ rằng liệu từ ngữ này sẽ được sử dụng luôn hay không. Chúng ta trong phong trào Hội Thánh tăng trưởng, đã học biết bằng kinh nghiệm rằng, có lẽ một trong năm từ mới được chứng minh là hữu hiệu đối với mọi người trừ ra người đã chế ra từ ấy. Nhưng bởi vì Kevin Perrotta đã chọn sử dụng từ ấy cho tựa đề của bài báo, là bài đã được trích dẫn và tái bản ở nhiều nơi khác, nên tôi đã quyết định tiếp tục công khai xưng nhận mình như là một thành viên của làn sóng thứ ba này.
Chỉ có lịch sử mới cho biết là thuật ngữ ấy có được chấp nhận hay không. Để xác định ngày tháng, hai nhà khảo cứu được công nhận, một xuất thân từ làn sóng thứ nhất và người kia là từ làn sóng thứ hai, đã bắt đầu sử dụng từ ngữ này. Vinson Synan, một người thuộc giáo phái Ngũ tuần kinh điển đã giành được danh tiếng xứng đáng với tư cách một sử gia chính của phong trào, đã đưa một phần nói về làn sóng thứ ba vào trong tác phẩm mới đây của ông In the Latter Days. Ông nhận định: “Đến giữa thập niên 1980 đã có bằng chứng rõ ràng rằng ‘làn sóng thứ ba’ thật sự đã xâm nhập và các Hội Thánh chính thống mà không có sự lẫn lộn các nhãn hiệu đã từng gây ra những rắc rối lớn trong quá khứ.”6
Và David Barrett, một người Anh giáo thuộc phong trào ân tứ, nổi tiếng là nhà biên soạn cuốn Từ Điển Bách Khoa Thế Giới Cơ Đốc , mới đây đã tập trung sức lực của mình vào việc khảo sát các phong trào Ngũ tuần hoặc ân tứ. Trong các bảng thống kê mới nhất của ông, ông đã thêm vào một phần có tên làn sóng thứ ba. Trong một cuộc trao đổi riêng tư, ông đã thú nhận rằng lần đầu tiên khi nghe đến cụm từ này cách đây nhiều năm, ông đã không thích nó, nhưng sau khi suy nghĩ nhiều hơn hiện nay ông cảm thấy nó là một tên gọi chính xác cho một nhóm riêng biệt. Ông đã tính được 27 triệu người thuộc làn sóng thứ ba trên khắp thế giới vào năm 1987, và liệt kê đúng 50.000 người vào cuối năm 1970.7
Thời gian sẽ cho biết điều đó, nhưng trong lúc ấy tôi tiếp tục lập luận rằng, phải, hiện có cái được gọi là làn sóng thứ ba.
NHỮNG NGƯỜI NGŨ TUẦN
Nếu như có một làn sóng thứ ba, thì đều quan trọng cần phải biết khá chi tiết không những làn sóng thứ ba là gì, mà nó còn không là gì. Như chúng ta đã thấy, những người tự nhận mình thuộc làn sóng thứ ba thì đã chọn không coi mình là những người Ngũ tuần hoặc những người thuộc các phong trào ân tứ. Sự lựa chọn này không hàm ý họ là những người chỉ trích cả hai làn sóng kia. Tôi không tin bất cứ ai thuộc cả ba làn sóng này là đúng trong khi hai làn sóng kia là sai. Cả ba đều được cam kết với một thân thể, một Thánh Linh, một sự trông cậy, một Chúa Cứu, một đức tin, một phép báp tem và một Đức Chúa Trời là Cha của mọi người (xem Eph Ep 4:4-6). Hết thảy đều coi trọng thẩm quyền của Kinh Thánh và đều tin vào tính cấp bách của công tác truyền giáo cho thế giới. Tất cả đều xác quyết rằng quyền năng của Đức Chúa Trời đã được mô tả trong các sách Phúc Âm và Công vụ các sứ đồ đang hiệu lực khi Nước Đức Chúa Trời được bày tỏ khắp nơi trên thế giới ngày nay. Những điểm tương đồng lớn hơn rất nhiều những điểm khác biệt, nhưng có những sự khác biệt quan trọng, bởi vì mỗi nhóm đều cảm biết rằng Đức Chúa Trời đã chọn để gây dựng qua họ một cách đặc biệt.
Những người Ngũ tuần đến trước nhất. Các sử gia đã tìm ra nguồn gốc của phong trào này hoặc là vào ngày 1.1.1901 khi các sinh viên trong trường Kinh Thánh Bethel của Charles Parham tạiTopeka, Kansas bắt đầu nói các thứ tiếng lạ, hoặc ở tại Phố Azusa nổi tiếng của Los Angeles được dẫn dắt bởi William J. Seymour từ năm 1906 đến năm 1909, hoặc là cả hai. Qua năm tháng, giáo lý quan trọng đã phân biệt những người Ngũ tuần với những người thuộc giáo phái Tin Lành đặt lòng tin nơi Kinh Thánh và được sanh lại khác đó là giáo lý của họ về “sự báp tem trong Đức Thánh Linh.” Như là một công việc của ân điển khác với “sự tái sanh” được kèm theo bởi việc nói các thứ tiếng lạ như là bằng chứng thuộc thể đầu tiên. Những người Tin Lành khác, đặc biệt là những người thuộc Wesleyan holiness persuasion đồng ý rằng có một công việc của ân điển thứ nhì, nhưng xem sự nên thánh cá nhân chứ không phải tiếng lạ là dấu hiệu xác nhận chính yếu của kinh nghiệm này. Ví dụ, sứ điệp rõ ràng chính yếu của người nổi tiếng là Ông Ngũ tuần, David du Plessis, có liên quan với “Jesus người làm báp tem.”
Tôi đã có được đặc ân làm việc chung với David du Plessis trong những năm cuối cùng của đời ông, khi ông về với Chủng Viện Fuller (nơi tôi dạy) để thành lập một Trung Tâm Sinh Hoạt Thuộc Linh Cơ Đốc của David du Plessis. Ông thường xuyên kể về chức vụ rộng lớn suốt 50 năm của ông để bắt những chiếc cầu giữa những người Ngũ tuần và các Hội Thánh Cơ Đốc khác, cả Công giáo lẫn Tin lành. Ông đã mô tả một cách hầu như không thay đổi về trọng tâm chức vụ của ông khi chia sẻ tin mừng Chúa Giê-xu Christ, là Đầu của Hội thánh, là người làm báp tem và rằng phép báp tem của Ngài là ở trong Thánh Linh. Ông đã mô tả việc nói các thứ tiếng như là kết quả của việc báp tem trong Thánh Linh. Tiếp theo điều đó là bông trái của Đức Thánh Linh trong đời sống người tin Chúa và chức vụ với các ân tứ của Thánh Linh.
Lần đầu tiên, khi tôi bắt đầu tiếp xúc với Du Plessis tôi đang ở trong các giai đoạn đầu của việc chứng kiến các dấu kỳ và các phép lạ trong chính chức vụ của mình và trong chức vụ của những người thân cận với tôi. Tôi còn nhớ rõ rằng khi tôi chia sẻ với lòng nhiệt thành điều tôi được chứng kiến, phản ứng của ông ta hầu như là buồn chán. Thật vậy, ông đã đưa ra một số những lời cảnh báo với tính cách của một người bề trên trong việc quá phấn khích về điều đó. Tôi đã khám phá rằng trong chức vụ cá nhân của chính ông, việc cầu nguyện cho người đau, việc đuổi quỷ và trông đợi các phép lạ đều đã có, nhưng chúng được coi như là một dấu hiệu tương đối thấp, nếu đem so với việc báp tem trong Đức Thánh Linh.
Vì là nói chuyện với Ông Ngũ tuần, tôi đoán định rằng quan điểm của ông có lẽ hơn cả một quan điểm cá nhân, nhưng tượng trưng cho một phong trào. Nó được củng cố vững vàng hơn bởi một tuyên bố của Thomas F. Zimmerman, là Chủ Tịch của Hội Nghị Ngũ tuần Thế Giới trong suốt nhiều năm, kình chống Du Plessis như là người lãnh đạo Ngũ tuần hàng đầu. Cách đây vài năm, Zimmerman được tạp chí Christianity Today mời để bắt đầu phần giải thích của ông về “điều gì đúng trong giáo phái Ngũ tuần.” Ông đã tóm tắt các ý tưởng của mình dưới sáu đầu đề chính. Một trong số các chủ đề đó giải thích sứ điệp riêng biệt của những người Ngũ tuần như là “việc báp tem trong Đức Thánh Linh với việc nói các thứ tiếng.” Nhưng tôi thật ngạc nhiên khi phát hiện rằng không điều nào trong sáu điểm được nhấn mạnh là chức vụ công khai của việc chữa lành người đau và đuổi quỷ (mặc dầu những lời cầu nguyện cho người đau cũng được nhắc đến một cách tình cờ ở trong phần nói về sự thờ phượng).8
Cùng với giáo lý của việc báp tem trong Thánh Linh được chứng tỏ qua việc nói các thứ tiếng, phong trào Ngũ tuần kinh điển đã triển khai một quy ước về phẩm hạnh của người Cơ Đốc hầu như giống hệt với quy ước của những người Tin Lành chính thống, đặc biệt thịnh hành khắp Vành đai Thánh kinh của người Hoa kỳ (American Bible Belt). Đối với họ, việc chứng tỏ sự biệt mình khỏi thế gian là điều quan trọng qua việc kiêng tránh những điều như uống rượu, hút thuốc, khiêu vũ, đánh bài, xinê, chửi thề, và một số những trường hợp như trang điểm, đeo nữ trang, luôn có các kiểu tóc cầu kỳ.
NHỮNG NGƯỜI THEO PHONG TRÀO ÂN TỨ
Làn sóng thứ nhì, là phong trào ân tứ đã bắt đầu từ tháng tư năm 1960 khi Cha Dennis Bennett, giám mục của một nhà thờ Giám Mục Thánh Mác ở tại Van Nuys, California đã công khai làm chứng với hội chúng của mình rằng năm tháng trước đây ông đã nói các thứ tiếng đang khi cầu nguyện trong nhà của một số những người bạn. Những người đi đầu phong trào này ở tại châu Âu đã bắt đầu từ năm 1950, và thậm chí sớm hơn, tận năm 1910.
Khi phong trào ân tứ đã lan rộng nhanh chóng khắp nước Mỹ vào thập niên 60 và 70, nó mang hình thức của các nhóm ân tứ phục hưng bên trong những giáo phái đã được thiết lập kể cả Giám Mục, Giáo Lý, Lutheran, Công giáo, Báp tít, Hội Thánh Đấng Christ, Mennonite, Chính thống, Trưởng lão, Hội Thánh Hiệp Nhất của Đấng Christ và các giáo phái khác. Sau đó, vào thập niên 1970, một hiện tượng mới mẻ và cực kỳ quan trọng bắt đầu hình thành, ấy là sự xuất hiện của các hội chúng ân tứ độc lập đứng riêng lẻ, và các nhóm hoặc các hội của các hội chúng, hoạt động như là những giáo phái nhỏ. Thật vậy, đến thập niên 1980 thì phong trào Hội Thánh ân tứ độc lập này đã trở thành một trong các bộ phận tôn giáo Hoa Kỳ tăng trưởng nhanh chóng nhất.
Đặc điểm giáo lý quan trọng của phong trào ân tứ giống với đặc điểm của phong trào Ngũ tuần. Một trong những người lãnh đạo được công nhận rộng rãi của phong trào ân tứ là Larry Christenson, Người Đứng Đầu của Trung Tâm Renewal Lutheran International, đã nói như vầy: “Một điểm nổi bật của phong trào phục hưng ân tứ đó là một kinh nghiệm rộng khắp và nổi bật mà khởi đầu nhắm vào thân vị và các ân tứ của Đức Thánh Linh. Cụm từ được sử dụng phổ biến nhất để nói đến kinh nghiệm này là “Báp tem bằng Đức Thánh Linh.”9
Cũng như với những người Ngũ tuần, kinh nghiệm báp tem trong Thánh Linh là điều rõ ràng trong sự quy đạo và sự dạy dỗ mấu chốt của những người thuộc phong trào ân tứ. Tuy nhiên, cái nhìn của họ về tiếng lạ như là bằng chứng thuộc thể đầu tiên của việc báp tem thì không chặt chẽ như vậy. Vẫn theo lời của Christenson, ông khẳng định rằng tiếng lạ giữ một vai trò quan trọng trong việc phát triển phong trào. Ông nói: “Không có sự nhấn mạnh về tiếng lạ, thì chưa chắc đã có một phong trào Ngũ tuần hay phong trào ân tứ.”10
Dầu vậy, khi được hỏi tiếp, một số lượng ngày càng tăng những người lãnh đạo của phong trào phục hưng ân tứ thường thú nhận rằng một số những Cơ Đốc nhân đầy dẫy Đức Thánh Linh, mà họ gọi là đã nhận được “phép báp tem,” có thể chưa bao giờ nói các thứ tiếng lạ. Tuy nhiên, trong sâu xa hầu hết mọi người trong số họ đều lập luận rằng mặc dầu tiếng lạ có thể không phải là điều không thể thiếu được, nhưng sự việc thường diễn tiến tốt đẹp hơn với tiếng lạ.
Trong khi những khác biệt về giáo lý giữa những người Ngũ tuần và những người ân tứ đối với một người quan sát đứng bên ngoài dường như là rất ít, thì những khác biệt trong nếp sống Cơ Đốc thường rõ ràng hơn, và thật thế đã trở thành nguyên nhân của một sự xa lánh có chủ ý về phía những người Ngũ tuần đối với một số các anh chị em thuộc phong trào ân tứ. Đối với nhiều người thuộc phong trào ân tứ Lutheran, Trưởng Lão, Giám Mục, Công giáo và những người ân tứ thuộc Hội Thánh Hiệp Nhất, việc kiêng kỵ rượu bia, thuốc lá, xinê, khiêu vũ và những điều khác ít liên quan đến sự nên thánh của người Cơ Đốc. Điều này đã gây ra vấn đề không nhỏ đối với những mục sư Ngũ tuần là những người nhiều năm đã giảng dạy nghịch lại việc uống bia, rượu với cùng mức độ sốt sắng được sử dụng để kêu gọi từ bỏ tà dâm, đồng tính luyến ái, ăn cắp hoặc dối trá. Đi uống bia sau một buổi nhóm phục hưng nói tiếng lạ dường như là chuyện không thể có đối với những người Ngũ tuần. Đi xem biểu diễn thời trang là điều còn có thể chấp nhận được hơn.
Công bình mà nói, các quy ước hành xử trong phong trào Hội Thánh ân tứ độc lập mới mẻ gần gũi với những người Ngũ tuần hơn các quy ước hành xử trong các phong trào phục hưng giáo phái. Nhưng một điểm căng thẳng khác biệt đã nổi lên ở đây. Không giống các nhóm phục hưng, nhiều người thuộc phong trào ân tứ độc lập đang năng nổ nhân bội các Hội Thánh và trong một số các trường hợp có các giáo phái mang chức năng mới. Đối với người ngoài, họ trông rất giống các Hội Thánh Ngũ tuần, mặc dầu những khác biệt tinh tế trong lối thờ phượng và chức vụ đã được lưu ý bởi những người bên trong. Một số những người Ngũ tuần giải thích điều này như là sự xâm lấn đất đáng ngại. May lắm thì họ sẽ bị những người lãnh đạo Ngũ tuần nhìn xem với một thái độ chúng ta - họ. Còn tệ nhất thì họ bị cáo tội “ăn cắp chiên.”
LÀN SÓNG THỨ BA
Làn sóng thứ ba khác với phong trào Ngũ tuần và phong trào ân tứ như thế nào?
Để nhấn mạnh, tôi xin lặp lại điều tôi đã nói ở phần trước: Những điểm tương đồng lớn hơn rất nhiều so với những điểm dị biệt. Tuy nhiên, những điểm khác nhau không phải là không quan trọng, và tôi muốn nói đến những điểm khác nhau đó.
Tôi xin được nói ngay từ ban đầu rằng tôi chỉ nói với tư cách của một cá nhân. Tôi không phải là Chủ tịch của Hội Nghị Làn Sóng Thứ Ba của Thế Giới - không có một thực thể như vậy tồn tại. Tôi chỉ là một trong số nhiều người lãnh đạo mà Chúa dường như đang dấy lên khắp nơi trên thế giới để gây dựng theo một phong cách của làn sóng thứ ba. Chính xác là có bao nhiêu người tôi cũng chưa biết, nhưng nếu ước tính của David Barrett về 27 triệu tín hữu đã làm việc chung với làn sóng thứ ba ở đâu đó gần chính xác, thì hẳn phải có một con số lớn về những người này. Phong trào này đang trong thời kỳ phôi thai của nó và những lời định nghĩa rõ ràng hơn sẽ rõ nét hơn khi thời gian trôi đi. Với tuyên bố từ chối đó, tôi có thể đi tiếp để nhấn mạnh cách mà tôi thấy làn sóng thứ ba vào thời điểm này.
Khi tôi phân tích những đặc điểm của làn sóng thứ ba, có ba lãnh vực nổi bật: về giáo lý, về hàng giáo phẩm và sự thực nghiệm.
1. Những Điểm Nổi Bật về Giáo Lý
Giữa vòng những người Tin Lành đặt lòng tin nơi Kinh Thánh, những khác biệt về giáo lý là có thể chấp nhận được trên cơ sở, bởi sự nhất trí đó là những vấn đề thứ yếu. Báp tem là một trường hợp điển hình. Những người thuộc Hội Giám Lý thì rảy nước, những người Báp tít thì dìm vào trong nước, và những người thuộc giáo phái Quaker thì “lau khô”.
Mỗi giáo phái đều xác quyết vững chắc điều họ đang làm là đúng, nhưng thường thì họ khoan dung đối với những giáo phái khác. Hầu hết mọi người trong những ngày này không coi đó là điều đáng phải đánh nhau.
Chính bản chất của thần học tự nó cho phép những khác biệt như vậy. Thần học không là gì hơn hoặc kém nỗ lực của loài người để giải thích Lời Đức Chúa Trời và những công việc của Đức Chúa Trời một cách hợp lý và có hệ thống. Hai nguồn phương tiện chính yếu về dữ kiện chính là Kinh Thánh và kinh nghiệm của người Cơ Đốc. Điều này không hàm ý rằng những con người khác nhau nhìn thấy Kinh Thánh theo những cách khác nhau và họ giải thích kinh nghiệm bằng những cách khác nhau. Và bởi vì có những sự bất đồng, điều đó không hàm ý rằng một quan điểm này nhất thiết phải là sai. Chúng vẫn có thể đều đúng cả, mỗi quan điểm nhấn mạnh các khía cạnh quan trọng của lẽ thật Đức Chúa Trời.
Các vấn đề quan trọng về giáo lý phân rẽ làn sóng thứ ba với hai làn sóng kể trên bao gồm một số những giáo lý thứ yếu này, đặc biệt là báp tem trong Thánh Linh, tiếng lạ và các ân tứ thuộc linh. Cả hai quan điểm đều chấp nhận Kinh Thánh là nguồn thẩm quyền tối hậu của họ. Và cả hai đều tuân giữ những kinh nghiệm Cơ Đốc giống nhau. Ví dụ, (a) một số Cơ Đốc nhân, tiếp theo sự tái sanh, kinh nghiệm một sự ban năng lực sâu xa của Đức Thánh Linh trong đời sống họ, và đối với một số người điều đó xảy ra trên một lần; (b) một số Cơ Đốc nhân nói các tiếng lạ còn một số thì không; (c) đôi khi (a) và (b) là các phần của cùng một kinh nghiệm, nhưng đôi khi thì không. Như vậy, làm thế nào để chúng ta giải thích điều Kinh Thánh dạy và điều chúng ta học từ kinh nghiệm Cơ Đốc?
Như chúng ta đã thấy, hầu hết những người Ngũ tuần và những người thuộc phong trào ân tứ gọi kinh nghiệm ấy là báp tem trong Thánh Linh và dạy rằng bạn có thể biết điều đó thật sự xảy ra hay chưa đối với bạn là bởi việc bạn có nói tiếng lạ hay không. Họ hậu thuẫn cho điều đó bằng cách liên hệ trong Lời của Chúa Giê-xu: “Nhưng trong ít ngày, các ngươi sẽ chịu phép báp tem bằng Đức Thánh Linh” (Cong Cv 1:5) với lễ Ngũ tuần nơi mà 120 người ở tại phòng cao “đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác” (2:4). Đây là một sự giải thích hợp lý và có hệ thống về dữ kiện nầy.
Tôi tin rằng việc được đầy dẫy Đức Thánh Linh là ... điều mà Cơ Đốc nhân mong đợi phải được lặp đi lặp lại từ lúc này sang lúc khác suốt trong đời sống Cơ Đốc.
Mặc dù thừa nhận điều đó, tôi tự nhiên tin rằng cách hiểu của tôi về dữ kiện này thậm chí còn hợp lý và có hệ thống hơn của họ. Sau đây là những quan điểm của tôi trong một hình thức được rút gọn:
Nhận định đầu tiên của tôi là hiện tượng những Cơ Đốc nhân được ban năng lực bởi Đức Thánh Linh như vậy được coi như là việc đổ đầy chứ không phải là việc báp tem trong Tân ước. Thật vậy, ký thuật của Kinh Thánh về kinh nghiệm Lễ Ngũ tuần tự nó không nói rằng người tin Chúa được “báp tem trong Thánh Linh” mà nói rằng họ được “đổ đầy Thánh Linh” (2:4). Tôi hiểu phần giới thiệu Tin Lành cho người Do Thái (xem 2:1-47), cho người Samari (xem 8:1-40) và cho dân ngoại (xem 10:1-48) như là ba giai đoạn của “sự kiện Ngũ tuần” hoàn toàn, là điều đã xảy ra mang tính cách lịch sử một lần cho mọi người. Tiếp sau điều đó, người tin Chúa vẫn cần phải được đổ đầy Đức Thánh Linh. Có lẽ một số, nếu không phải tất cả, trong nhóm những người được mô tả trong 4:30 đã có mặt ở tại lễ Ngũ tuần. Chắc chắn Phierơ và Giăng đã có mặt. Nhưng “họ đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh” một lần nữa vào dịp này. Những ví dụ khác trong Kinh Thánh có thể được cho.
Tôi tin rằng việc được đầy dẫy Đức Thánh Linh là điều gì đó không bị giới hạn đối với kinh nghiệm một lần đủ cả (như kinh nghiệm tái sanh ), mà đó là điều Cơ Đốc nhân cần phải mong đợi được tái diễn từ lúc này sang lúc khác suốt đời sống Cơ Đốc của mình .
Nhận xét thứ nhì của tôi là phép báp tem của Đức Thánh Linh là một kinh nghiệm một lần đủ cả thật sự đầy đủ và rằng điều đó xảy ra khi chúng ta được sanh lại. ICo1Cr 12:13 chép rằng: “Chúng ta ... đã chịu phép báp tem chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân.” Tôi nhận ra rằng David du Plessis thường nói ở đây Đức Thánh Linh là Đấng làm báp tem, nhưng chúng ta cũng hãy tìm kiếm một kinh nghiệm thứ hai đối với Chúa Giê-xu là Đấng làm báp tem. Đó là sự khác biệt của chúng ta.
Nhận xét thứ ba của tôi là việc nói tiếng lạ là một ân tứ thuộc linh. Đây cũng chỉ là một trong 27 ân tứ thuộc linh khác nhau mà tôi tin là Đức Chúa Trời đã phân phát khắp thân thể Đấng Christ “theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người” (12:11). Một số người có ân tứ nói tiếng lạ và một số người không có, cũng như một số người có ân tứ truyền giáo, tiếp khách hoặc dạy dỗ và một số người không có.
Nhận xét thứ tư của tôi là một người có thể được đầy dẫy Đức Thánh Linh, bộc lộ bông trái Đức Thánh Linh, hầu việc Chúa bằng các ân tứ thuộc linh trong quyền năng, và là một ống dẫn cho việc chữa lành người đau và đuổi quỷ, tất cả, mà không nói tiếng lạ. Rốt lại, sứ đồ Phaolô đã nêu lên câu hỏi: “Có phải cả thảy đều nói tiếng lạ sao?” (12:30). Câu trả lời rõ ràng là không.
Vì vậy, trong làn sóng thứ ba bạn sẽ không thấy những người khuyến khích những Cơ Đốc nhân khác tìm kiếm phép báp tem trong Thánh Linh và bạn sẽ không thấy tiếng lạ được nhấn mạnh hơn bất cứ ân tứ nào khác.
Liên quan đến điều này là giáo lý về các ân tứ thuộc linh. Nhiều người Ngũ tuần và ân tứ có khuynh hướng nhấn mạnh đến chín ân tứ trong 12:8-10, coi chúng như là điều gì đó chỉ tỏ về chức vụ đầy dẫy Thánh Linh nhiều hơn là 18 ân tứ kia. Thêm vào đó là quan niệm cho rằng người tin Chúa, khi được báp tem trong Thánh Linh (như những người Ngũ tuần hoặc ân tứ hiểu) có được tiềm năng sử dụng tất cả chín ân tứ suốt trong đời sống Cơ Đốc của họ. Làn sóng thứ ba, như tôi sẽ giải thích vào đúng tiến trình, có một cái nhìn khác hơn về những vấn đề này, là điều mà một lần nữa tôi xin nhấn mạnh, là các giáo lý thứ yếu.
2. Những đặc điểm về Hội Thánh
Một đặc điểm chính yếu của làn sóng thứ ba là tránh sự chia rẽ hầu như ở bất cứ giá nào. Thành phần nòng cốt của làn sóng thứ ba bao gồm những tín hữu Tin Lành là những người thỏa lòng với sự sáp nhập giáo hội hiện tại của họ và mong muốn nó được giữ nguyên như vậy.
Một trong những lý do khiến một số những người Tin Lành quyết định không muốn giống với phong trào Ngũ tuần hoặc ân tứ là vì hai phong trào này đều đã mang tai tiếng về sự chia rẽ. Đối với một số người, đây là một hình phạt tồi tệ, nhưng trong nhiều trường hợp nó lại xứng đáng. Ví dụ, những người Ngũ tuần đầu tiên, phần lớn nổi lên từ phong trào thánh khiết. Mặc dầu đó không phải là ý định hoặc mong muốn ban đầu của họ, nhưng họ đã ly khai và hình thành các giáo phái riêng của mình sau khi ở trong con đường của Luther và Wesley. Hội thánh của Nazarene, đó là dẫn chứng một trường hợp, ban đầu được gọi là Hội Thánh Ngũ tuần của Nazarene. Nhưng họ đã phản ứng quá mạnh mẽ chống lại điều mà họ coi là một sự nhấn mạnh không đúng Kinh Thánh về tiếng lạ giữa vòng những người Ngũ tuần mà họ bị ép phải từ bỏ phần đó trong tên gọi của họ, và ba thế hệ sau đó họ vẫn đang day dứt. Phong trào phục hưng ân tứ đã để lại một vết hằn nổi bật về sự phân rẽ của các Hội Thánh suốt các thập niên 60 và 70.
Vào thập kỷ 80, nan đề của sự phân rẽ đã giảm đi nhiều, hết thảy chúng ta đầy lòng cảm tạ vì điều đó. Nhưng những ký ức tôn giáo thì dài, và nỗi lo sợ rằng lịch sử có thể lặp lại sự vương vấn của bản thân nó nhiều nơi.
Những người lãnh đạo của làn sóng thứ ba đang sẵn sàng để thỏa hiệp ở bất cứ những điểm nào ngõ hầu không làm xáo trộn chủ trương, chức vụ của một hội chúng Tin Lành truyền thống. Tôi thấy chính mình đang liên tục thỏa hiệp khi tôi tìm cách gây dựng ở tại Hội Thánh của Giáo Hội Lake Avenue, ở tại Chủng Viện Thần Học Fuller và trong nhiều khóa hội thảo được tài trợ bởi hiệp hội Charles E. Fuller dành cho việc Truyền Giáo và Tăng Trưởng Hội Thánh. Và tôi vui mừng làm điều đó bởi vì tôi cảm thấy điều đó là sự kêu gọi hiện nay của Đức Chúa Trời dành cho đời sống tôi. Nhưng nhiều người trong số những người đồng thời với tôi thấy rằng họ không thể làm như vậy bởi vì họ cảm biết Đức Chúa Trời đang kêu gọi họ qua một cách khác. Một số trong vòng họ hiện nay là mục sư của các Hội Thánh độc lập là nơi họ có thể làm hầu như mọi điều họ muốn làm theo cách họ muốn. Theo quan điểm của tôi, họ đang ở nơi Chúa muốn họ ở và tôi đang ở nơi Chúa muốn mình ở. Họ ở trong làn sóng thứ hai; còn tôi ở trong làn sóng thứ ba.
Một trong những lãnh vực thỏa hiệp mà tôi coi là quan trọng trong bối cảnh đặc biệt của mình có liên quan đến tiếng lạ công khai. Một lãnh vực chính của chức vụ tôi, như tôi sẽ mô tả chi tiết hơn về sau, là lớp học Trường Chúa Nhật của tôi ở tại Hội Thánh Hội Chúng Lake Avenue được gọi là Hiệp Hội Thông Công 120 người. Đó là một nhóm làn sóng thứ ba khoảng 100 người lớn. Vào lúc đầu, khi nhiều ân tứ thuộc linh đã trở nên rõ ràng trong lớp học, tôi giải quyết tiếng lạ công khai bằng cách tuyệt đối cấm việc sử dụng chúng. Tôi làm điều này vì hai lý do. Lý do thứ nhất là vì tôi biết đủ về lịch sử phân rẽ của ân tứ để nhận ra rằng tiếng lạ công khai là một trong những yếu tố phân rẽ hơn hết. (Các nan đề với tiếng lạ thật sự đã có từ Hội Thánh Côrinhtô). Ao ước của tôi đối với sự hiệp nhất thân thể Chúa lớn hơn ao ước muốn được nhìn thấy mọi ân tứ được tỏ ra.
Tôi muốn đồng tình với vị mục sư quản nhiệm của tôi là Paul Cedar. Trong một cuộc tư vấn riêng tư, ông đã khích lệ tôi đừng cho phép mọi người sử dụng tiếng lạ trong lớp học. Ông nói rằng một số các người bạn trong phong trào ân tứ của ông đã giữ cùng một lập trường đó. Tuy nhiên, ông khích lệ tôi hãy để Thánh Linh dẫn dắt. Nguyên tắc của ông đối với các chức năng của Hội Thánh là không có tiếng lạ công khai. Tôi cảm thấy hẳn là không khôn ngoan khi tôi để cho lớp học chọn một phương hướng khác đối với một vấn đề có tiềm năng bùng nổ như vậy.
Khi tôi cho lớp học biết nguyên tắc của chúng tôi, một số đã đến gặp tôi và nói: Ông không sợ dập tắt Thánh Linh sao? Câu trả lời của tôi là: Vâng; tôi thật sự đã dè dặt trong lãnh vực đó bởi vì Kinh Thánh chép rằng: “đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ” (14:39). Nhưng đây là một sự liều mình mà tôi sẵn sàng làm bởi vì câu Kinh Thánh kế tiếp chép rằng: “Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (câu 40). Hơn nữa, nếu Thánh Linh bị dập tắt, tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm. Đức Chúa Trời sẽ không quở trách cá nhân bạn nếu bạn kiềm hãm việc sử dụng tiếng lạ công khai vì vâng lời những người nắm quyền trên bạn trong Chúa. Một sự liều lĩnh thuộc linh lớn hơn đối với bạn là không vâng lời. Không biết chúng tôi có mất các thành viên nào trong lớp vì một mình lý do đó không, tôi không biết. Tôi ngờ rằng có lẽ chúng tôi đã mất một hoặc hai người là nhiều nhất.
Một điểm cuối liên quan đến các vấn đề giáo hội là ngữ nghĩa. Một trong những nguyên nhân chính gây nên chia rẽ là sự sáng tạo vô tình các loại Cơ Đốc nhân hạng một và Cơ Đốc nhân hạng hai trong cùng một hội chúng. Mặc dầu, những người tốt nhất trong phong trào ân tứ đã mạnh mẽ ra sức phủ nhận điều này, song khó có bất cứ cách nào để tránh được những thành ngữ cho thấy những người đã nhận được “kinh nghiệm” này đã bước một bước quan trọng lên một mức thuộc linh cao hơn là họ đã từng có trước kia. Và trong tình yêu Cơ Đốc chân thật, họ không thể làm gì khác hơn là lui lại và ra sức giúp các anh chị em mình trong Chúa bước lên cùng một bước ấy.
Cụm từ phổ biến nhất được dùng để mô tả tình trạng thuộc linh mới mẻ này là một tính từ đầy dẫy Thánh Linh. Cụm từ này phổ biến đến nỗi có nhiều người không nhận biết làm thế nào mà nó lại chia rẽ như vậy. Tất nhiên là nó không phân rẽ, trong một Hội Thánh Ngũ tuần hoặc ân tứ, nơi mà việc tìm kiếm sự báp tem trong Thánh Linh là một phần không thể thiếu được của chủ trương chức vụ. Nhưng nó dễ dàng có trong một Hội Thánh Tin Lành, nơi mà số lượng đông đảo những Cơ Đốc nhân trưởng thành đang bước đi gần gũi với Chúa có thể bị làm cho họ có cảm giác mình là Cơ Đốc nhân thuộc hạng hai bởi vì họ không hề nói tiếng lạ cũng không thích ở xung quanh những người nói tiếng lạ. Để hiểu sự lan tràn của cụm từ này, bạn hãy kiểm tra xem nó được sử dụng trung bình một giờ bao nhiêu lần trong một buổi nói chuyện trên ti vi qua chương trình Cơ Đốc. Chúng tôi thường nghe nói về các Hội Thánh đầy dẫy Thánh Linh và các khóa hội thảo đầy dẫy Thánh Linh cũng như cách nhóm học Kinh Thánh đầy dẫy Thánh Linh. Tôi đã thấy một bức thư mới đây gửi cho các nhà biên tập của tờ Charisma ám chỉ đến tờ báo ấy như là một tạp chí đầy dẫy Thánh Linh.
Vì những lý do đó, những Cơ Đốc nhân thuộc làn sóng thứ ba không thích được coi như là người đầy dẫy Thánh Linh. Và vì những lý do tương tự, phần lớn là vì những phiền toái mang tính lịch sử mà nó mang theo, họ thích không bị gọi là những người thuộc phong trào ân tứ hơn.
3. Những đặc điểm về kinh nghiệm
Như chúng ta đã thấy, cánh cửa để được nhận vào trong hầu hết giới những người Ngũ tuần và ân tứ là phép báp tem trong Đức Thánh Linh. Bởi vì đây là một sự kiện một lần đủ cả, nó được nhớ lại, được ăn mừng và được chứng minh đối với hầu hết mọi người một cách thường xuyên và chính xác như là sự tái sanh. Điều này đặc biệt đúng đối với những người được nuôi dưỡng trong các gia đình Cơ Đốc, là những người không thể nhớ thời điểm chính xác của sự quy đạo.
Ví dụ, tôi đã rất say mê khi đọc lịch sử tuyệt vời của Vinson Synan về Sự Bùng Nổ Ngũ tuần của Thế Kỷ Hai Mươi (The Twentieth-Century Pentecostal Explosion). Trong đó ông tìm được nguồn gốc và sự phát triển của 16 trong số các phong trào ân tứ hay Ngũ tuần đương thời. Tác phẩm tiết lộ để lưu ý thế nào “kinh nghiệm” này hay là “báp tem”này đã trang bị sợi dây ban đầu để ràng buộc họ với nhau dầu họ là thuộc giáo phái Lutheran, Công Giáo, Foursquare, Giám Lý hoặc bất cứ giáo phái nào khác. Chỉ trên một trang mô tả những người Báp tít như là một trường hợp điển hình trong đó chúng ta đọc thấy: “Clark ước tính ít nhất một phần ba tất cả những nhà truyền giáo thuộc giáo phái này (những người Báp tít Hoa Kỳ) đã từng có một ‘kinh nghiệm ân tứ.’” Và “Chẳng ai biết có bao nhiêu mục sư và nhà truyền giáo Báp tít phía Nam đã nhận được kinh nghiệm Ngũ tuần.” Và “người ta cũng đồn rằng một tỉ lệ cao tất cả những nhà truyền giáo Báp tít phía Nam trong lãnh vực truyền giáo đều đã nói tiếng lạ.”11
Làn sóng thứ ba không nhấn mạnh kinh nghiệm một lần đủ cả ấy để xác định biên giới giữa việc có thuộc về ân tứ hay không. Nét đặc thù về mặt thực nghiệm chủ yếu dành cho làn sóng thứ ba là chức vụ hầu việc Chúa, đặc biệt việc chữa lành người bệnh và đuổi các quỷ. Và điều này hóa ra lại là một sự nhấn mạnh của một tập thể, là thân thể Đấng Christ hơn là sự nhấn mạnh của một cá nhân, mặc dầu chức vụ cá nhân là quan trọng. Điều này vận hành như thế nào mới là trọng tâm chính của cuốn sách này.
LÀN SÓNG THỨ BA VÀ NHỮNG NGƯỜI TIN LÀNH
Bối cảnh của làn sóng thứ ba là cộng đồng Tin Lành. Từ khi có hàng chục ngàn từ đã được viết ra nhằm nỗ lực định nghĩa từ Tin Lành (evangelical) nhằm thỏa mãn mọi người mà vẫn không thành công mấy, tôi đặc biệt không có ý định thêm vào sự lẫn lộn ấy. Điều tôi hàm ý khi dùng chữ Tin Lành trong cuốn sách này không có gì phức tạp. Tôi đang sử dụng từ này theo cách mà hầu hết những Cơ Đốc nhân ngồi trong các dãy ghế nhà thờ đều hiểu ở đây và hiện bây giờ tại Hoa Kỳ. Tôi chỉ hàm ý điều được ra đời ở Wheaton, Cơ Đốc giáo ngày nay, Trường Kinh Thánh Moody, Hội Nghị Lausanne, InterVarsity, Gospel Light, Billy Graham, Báp tít phía Nam, loại Tin Lành của Zondervan. Bao gồm một phần sự trùng lặp bên tay phải với những người thuộc chính thống và bên tay trái với những người Tin Lành hòa giải. Tôi nhận biết rằng theo ý nghĩa rộng lớn nhất thì tất cả những người Ngũ tuần và ân tứ đều nằm thích hợp bên dưới chiếc dù Tin Lành, nhưng hiện bây giờ tôi đang dùng từ này với một ý nghĩa hẹp hơn, là ý nghĩa không bao gồm những người Ngũ tuần hoặc ân tứ.
Nếu làn sóng thứ ba muốn tuôn chảy tràn trề, nó phải tuôn tràn chủ yếu giữa vòng những người Tin Lành như tôi đã mô tả họ. Nhưng điều này không tự động mà có. Nó không tuôn tràn qua đặc tính Tin Lành một cách dễ dàng và tự nhiên như là một quyển sách của Chuck Swindoll hay là một bộ phim của James Dobson. Các thập kỷ về thuật hùng biện chống Ngũ tuần đã dấy lên một số những hàng rào khó vượt qua. Seduction of Christianity ( Sức Lôi Cuốn của Cơ Đốc Giáo) của Dave Hunt vẫn đứng trên đầu cuốn Power Evangelism (Tin lành quyền năng) của John Wimber trong danh sách các tác phẩm Tin Lành bán chạy nhất hiện nay.
Đối với nhiều người Tin Lành, cách giải thích của tôi về làn sóng thứ ba trong chương này nghe có vẻ không có ý nghĩa. Họ sẽ nhìn vào đó đơn giản như một hình thức che đậy sơ sài của giáo phái Ngũ tuần. Rốt lại, há không phải làn sóng thứ ba cũng nắm giữ việc những chữa lành và việc giải phóng khỏi các tà linh hay sao? Há không phải một số người cũng nói tiếng lạ thường xuyên hay sao? Không có những lời xưng nhận đối với các phép lạ và những lời tiên tri cùng những khải tượng và những lời về sự thông biết sao? Há không phải thân vị và công việc của Đức Thánh Linh được nhấn mạnh hay sao?
Tất cả điều này nghe có vẻ đáng ngờ đối với những người Tin Lành là những kẻ mà hai thế hệ qua, trong phản ứng (một vài phản ứng đã được chứng minh là đúng) với những sự thái quá trong phong trào Ngũ tuần, đã được dạy điều mà Richard Lovelace thuộc Chủng Viện Gordon-Conwell nói bông đùa gọi là giáo lý về sự khiêm nhường của Đức Thánh Linh. Một sự hiểu lầm về GiGa 16:13 đã đưa nhiều người đến chỗ tin rằng Đức Thánh Linh không bao giờ nói về chính mình Ngài. Lovelace nhận định: “Chính ân tứ này không những đã loại trừ phong trào Tin Lành mà thậm chí còn là nguy hiểm khi nói quá nhiều về Đức Thánh Linh.”12
Thần học Tin Lành Cải Chánh, vốn bắt nguồn từ Benjamin Warfield thuộc Princeton và John Calvin, đã dạy rằng các ân tứ dấu kỳ như là tiếng lạ, thông giải các thứ tiếng, chữa lành và các phép lạ đã chấm dứt với thời các sứ đồ. Mặc dầu từ đó ông đã giải thích quan điểm của mình, John R. W. Stott đã phản ánh quan điểm chung của Tin Lành vào thời đó khi ông tuyên bố ở tại Hội Nghị Thế Giới về Truyền Giáo tại Berlin năm 1966: “Sứ mạng của Hội Thánh không phải là chữa lành kẻ đau mà là giảng Tin Lành ... Hội thánh ngày nay không có thẩm quyền để thi hành một chức vụ thường xuyên về việc chữa bệnh bằng phép lạ.”13
Gần đây hơn, J. I. Packer, là người cảm thấy rằng ban bồi thẩm vẫn còn đang họp bàn xem xét về vấn đề không biết các ân tứ dấu kỳ có còn tiếp tục sau thời các sứ đồ hay không, nói rằng: “Lý thuyết về các ân tứ dấu kỳ của những người chủ trương phục hưng, là điều mà phong trào ân tứ cũng đã kế thừa từ phong trào Ngũ tuần trước nữa, hiện nay không áp dụng được; không ai có thể quả quyết, và cũng không có vẻ như là các ân tứ về tiếng lạ, thông giải, chữa lành và các phép lạ của thời Tân ước đã được khôi phục lại.”14 Tôi có thể hiểu được điều này bởi vì nó giống với điều mà tôi đã được dạy khi theo học ở tại Trường Thần Học Fuller vào những năm 1950.
Thần học theo thuyết định kỳ, vốn đã được mô tả trong nhiều trường thần học Tin Lành nổi tiếng cũng như các trường Kinh Thánh trong nước, đã củng cố khuynh hướng Tin Lành này. John F. MacArthur, Jr. nói rằng: “Đây là một tuyên bố rõ ràng và đúng Kinh Thánh cho thấy các phép lạ, dấu kỳ và ân tứ dấu lạ đã được ban cho trong đời các sứ đồ đầu tiên nhằm làm cho vững rằng họ là các sứ giả của một sự mặc khải mới.”15
Dave Breese lập luận rằng: “Chức năng của các phép lạ theo thánh kinh đã chấm dứt, trong đó lời được viết ra của Đức Chúa Trời đã được chứng thực bằng các dấu kỳ, các phép lạ, các dấu dị và các ân tứ của Đức Thánh Linh rồi.”16
Quan điểm của Ray Stedman về các dấu kỳ và phép lạ cùng các sự kiện quyền năng mà chúng ta tìm thấy trong Tân Ước là “chúng là các dấu kỳ để nhận biết các sứ đồ, chứ không bao giờ có ý định dành cho Hội Thánh nói chung.”17
Điều quan trọng cần phải hiểu đó là không người nào trong số các tác giả Tin Lành này theo như tôi được biết, từ chối rằng ngày nay Đức Chúa Trời có chữa lành. Vấn đề là hoặc Ngài có sử dụng các ân tứ dấu kỳ như là phương tiện để hoàn thành chức vụ này hay không. Đối với một bộ phận lớn của hệ thống Tin Lành, là số góp phần trong Giáo Hội Cải Chánh hoặc định kỳ thuyết, cho rằng các ân tứ dấu kỳ đã chấm dứt, thì làn sóng thứ ba xuất hiện được ngầm hiểu như là một sự đe dọa. Tuy nhiên, theo quan niệm của tôi thì những thái độ này đã và đang thay đổi trong khoảng 10 năm qua.
Khi các Hội Thánh Cơ Đốc hiện thời phát triển các chủ trương của họ về chức vụ, họ thường làm tốt để cho công chúng biết họ nhận định chính mình ở đâu trên toàn bộ phạm vi: từ ân tứ đến không ân tứ - cởi mở; đến không ân tứ - khép kín; đến chống ân tứ. Khi năm tháng trôi đi, dường như khuynh hướng giữa vòng những người Tin Lành là đã dịch chuyển khỏi vị trí chống ân tứ và hướng đến vị trí không ân tứ. Một số cởi mở và bảo rằng: “Chúng tôi hoan nghênh những người thực hành ân tứ như là một phần của Hội Thánh chúng tôi với việc hiểu rằng họ đang gia nhập vào một Hội Thánh không ân tứ. Họ có thể thực thi các ân tứ của mình, nhưng không tham gia vào chương trình chính thức của Hội Thánh chúng tôi.” Một số thì khép kín hơn và bảo rằng: “Chúng tôi xác nhận Ngũ tuần và Cơ Đốc giáo ân tứ là một phần của công việc Đức Chúa Trời trong thế giới ngày nay, nhưng chúng tôi cảm thấy nó không dành cho chúng tôi hoặc về lý thuyết hoặc về thực hành. Nếu bạn là người của phong trào ân tứ có lẽ bạn sẽ cảm thấy dễ chịu hơn ở một Hội Thánh khác.”
Tôi thích cách các Mục Sư George Mallone, John Opmeer, Jeff Kirby và Paul Stevens cô đọng thiên lộ lịch trình của họ. Không một ai trong số họ tự coi mình là một mục sư ân tứ thuộc Hội Thánh ân tứ. Họ thú nhận rằng: “Nền tảng của chúng tôi đều thuộc định kỳ thuyết hoặc cải chánh, đã dạy chúng tôi tin rằng những ân tứ công khai của Đức Thánh Linh đã chấm dứt từ thời các sứ đồ. Để đỗ trong các bài thi thần học tất cả chúng tôi đều phải chấp nhận đường lối của tổ chức.” Tuy nhiên, một khi đã rời chủng viện và bắt đầu tham gia vào chức vụ trong những giai đoạn thời kỳ khác nhau, họ thấy chính mình dự phần vào khuynh hướng mà tôi đang mô tả. Hiện nay, họ đã đi đến ba kết luận:
(1) sự đình chỉ các ân tứ nhất định đã không được dạy trong Kinh Thánh ; (2) Hội Thánh đã vô cùng yếu ớt và thiếu sức sống vì cớ thiếu các ân tứ này ; và (3) điều chúng ta đang chứng kiến trong kinh nghiệm của chính mình đã gợi ý rằng các ân tứ này có sẵn dành cho Hội Thánh ngày nay .18
Điều này nghe như làn sóng thứ ba đối với tôi vậy. Hãy lưu ý, một yếu tố quan trọng trong việc thay đổi tâm trí của những mục sư Tin Lành này là kinh nghiệm cá nhân của họ về sức mạnh siêu nhiên của Đức Chúa Trời trong chức vụ của họ. Điều này phù hợp với nhận định của tôi rằng một sự phơi bày trực tiếp trước một việc chữa lành, một phép lạ, một lời tri thức hoặc một sự giải cứu khỏi các quỷ là yếu tố duy nhất thường xuyên hơn hết cảm động những người Tin Lành đi từ chỗ hoài nghi các dấu kỳ và các phép lạ đến chỗ đặt lòng tin và cởi mở rồi sau đó là đích thân dự phần vào loại chức vụ thuộc làn sóng thứ ba.
Làm thế nào mà điều này xảy ra với tôi, tôi sẽ mô tả trong chương tiếp theo.

Ghi chú
1. C. Peter Wagner, On the Crest of the Wave (Ventura, CA: Regal Books, Div. Of Gospel Light Publications, 1983), pp. 19-21.
2. C. Peter Wagner, Spiritual Power and Church Growth (Wheaton, IL: Creation House, 1987).
3. Michael Cassidy, Bursting the Wineskins (Wheaton, IL: Harold Shaw, 1983), p. 11.
4. James Wong, “Reaching the Unreached,” The Courier, Mar.-Apr., 1984, p. 6.
5. C. Peter Wagner, “A Third Wave?” Pastoral Renewal, July.-Aug., 1983, pp. 1-5.
6. Vinson Synan, In the Latter Days: The Outpouring of the Holy Spirit in the Twentieth Century (Ann Arbor, MI: Servant Books, 1984), p. 137.
7. David Barrett, World Christian Encyclopedia (New York: Oxford University Press, Inc., 1982).
8. Thomas F. Zimmerman, “Priorities and Beliefs of Pentcostals,” Christianity Today, Sept. 4, 1981, pp. 36,37.
9. Larry Christenson, “Baptism with the Holy Spirit,” Focus Newsletter, Fellowship of Charismatic Christians in the United Church of Christ, June 1985, pp. 1-3.
10. Ibid., p. 3.
11. Vinson Synan, The Twentieth-Century Pentecostal Explosion (Altamonte Springs, Fuller: Creation House, 1987), pp. 33-34.
12. Richard Lovelace, “We Need Other Christians,” Charisma, May 1984, p. 10.
13. John R. W. Stott, “The Great Commission,” One Race, One Gospel, One Task, Carl F. H. Henry and W. Stanley Mooneyham, eds. (Minneapolis: World Wide Publications, 1967), Vol. 1, p. 51.
14. J. I. Packer, Keep in Step with the Spirit (Old Tappan, NJ: Fleming H. Revell Co., 1984), p. 229.
15. John F. MacArthur, Jr., The Charismatics (Grand Rapids, MI: Zondervan Academie Books), 1978, p. 78.
16. Dave Breese, Satan’s Ten Most Believable Lies (Chicago: Moody Press, 1974), p. 86.
17. Ray Stedman, Acts 1-12: Birth of the Body (Ventura, CA: Regal Books, Div. Of Gospel Light Publications, 1974), p. 105.
18. George Mallone, Those Controversial Gifts (Downers Grove, IL: InterVarsity Press, 1983), p. 11.



Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 05:56 AM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách