† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2268|Trả lời: 0

Chức Vụ Chữa Lành - SỐNG NẾP SỐNG CỦA NƯỚC TRỜI

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 5-11-2011 08:17:45 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Chức Vụ Chữa Lành
Tác giả: C. Peter Wagner

SỐNG NẾP SỐNG CỦA NƯỚC TRỜI


Nghe được những công việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời đang làm trên thế giới và thậm chí vui mừng phấn khởi về những điều đó là một chuyện, nhưng đưa ra thắc mắc khi nào những điều như vậy phải được xảy ra lại là một điều gì đó khác. Hay nói cách khác, hầu hết những Cơ Đốc nhân chân thành đều muốn biết chẳng sớm thì muộn có phải điều họ đang kinh nghiệm thật sự đang khớp với những gì Kinh Thánh dạy không.
Các vấn đề về thần học liên quan đến chức vụ chữa lành là đặc biệt cao theo các chương trình của những người lãnh đạo Cơ Đốc xuất thân từ các bối cảnh Tin Lành truyền thống, như tôi đã giải thích ở chương 1. Nơi mà những sự dạy dỗ của Benjamin Warfield, John MacArthur, Jr., C. I. Scofield hay bất cứ số lượng những điều khác trước nay vẫn nổi bật, thì sự chuyển đổi sang làn sóng thứ ba không phải là dễ. Không những chỉ các mục sư, mà các lãnh đạo tín hữu Cơ Đốc đều bị xem là vô trách nhiệm nếu như họ ra sức bắt đầu một chức vụ chữa lành trong Hội Thánh địa phương của mình mà trước hết không nêu ra những câu hỏi gay go về mặt thần học. Chỉ tiếp cận vấn đề ở vòng ngoài đem lại một sự liều thử có nguy cơ cao trong việc làm cho Hội Thánh của bạn bị dội, và đó chính xác là điều cuốn sách này muốn tránh.
Tôi ước gì có thể triển khai mặt thần học mà với thần học đó mọi Cơ Đốc nhân đều đồng ý. Nhưng điều này không thể có được. Nhiều người đã thử cố gắng qua các thế hệ, và chưa một ai đã thành công. Dầu vậy, tôi sẽ cố gắng, để đề ra một khung sườn thần học mà trong đó có thể hiểu được các chức vụ của làn sóng thứ ba, một khung sườn nhằm ý định phải phù hợp với các nền tảng của thần học Tin Lành truyền thống và là khung sườn mà tôi hy vọng sẽ càng ít gây khó chịu cho những người Tin Lành càng tốt.
BẮT ĐẦU BẰNG NƯỚC TRỜI
Điểm bắt đầu của tôi không phải là điều mới mẻ độc đáo. Tôi xin nhắc rõ rằng khi tôi đang ngồi học dưới sự dạy dỗ của John Wimber vào đầu thập niên 80, ông đã bắt đầu nói đến một thần học về nước Đức Chúa Trời bằng một cách tạo được nhiều điểm thật ý nghĩa. Thật vậy, chương đầu trong tác phẩm của ông Power Evangelism (Sự truyền giảng bằng Quyền năng ) có tựa là “Nước Đức Chúa Trời.” Wimber cũng không tuyên bố suy nghĩ của ông là một phát kiến hoàn toàn mới. Ông nói: “Phần lớn chương này được đặt nền tảng trên tài liệu được gạn lọc ra từ các bài viết của George Ladd và James Kallas.” 1
Nhiều người khác cũng đã đồng ý với Wimber là vương quốc của Đức Chúa Trời cung cấp một điểm bắt đầu bổ ích cho việc hiểu được công việc của Đức Chúa Trời ngày nay. Ví dụ, Ken Blue, đã xuất bản một quyển sách mới Authority to Heal (Quyền Năng để Chữa Lành) là quyển sách mà tôi muốn giới thiệu như là thần học tốt nhất về làn sóng thứ ba hiện nay. Phần II ông bàn về “Nước của Đức Chúa Trời và Cuộc Chiến Đấu để Chữa Lành.” 2
Hầu như tất cả các Cơ Đốc nhân đều nhớ Lời Cầu Nguyện Chung bao gồm những câu này: “Nguyện nước Cha được đến, Ý Cha được nên ở đất như trời” (Mat Mt 6:10, RVS). Tôi thậm chí đã biết Bài Cầu Nguyện Chung này trước khi trở thành một người tin Chúa. Thật vậy, nó quá quen thuộc đến nỗi nhiều Cơ Đốc nhân đọc lên nhiều lần mà thậm chí cũng không dừng lại để suy nghĩ xem những lời ấy thật sự có ý nghĩa gì. Tôi cũng đã làm như vậy nhiều năm. Và rồi khi cuối cùng tôi đã dừng lại và tự hỏi mình tôi muốn nói gì khi bảo “Nước Cha được đến, Ý Cha được nên ở đất như trời,” tôi đã khám phá ra rằng mình đã lập ra hai điều giả định khá là huyền ảo.
Thứ nhất, tôi đã cho rằng nước Chúa thuộc về tương lai. Thật vậy, lời cầu nguyện của tôi là xin Chúa Giê-xu sẽ trở lại lần thứ nhì. Tôi đã được dạy rằng thời kỳ Hội Thánh đã được mở ra vào ngày lễ Ngũ tuần và rằng Nước Đức Chúa Trời vẫn bị cầm giữ cho đến khi Chúa Giê-xu trở lại. Tôi không hề nghi ngờ rằng các phép lạ đã xảy ra trong quá khứ và sẽ còn xảy ra trong tương lai. Nhưng ngày nay thì sao? Vâng, hiện nay chúng ta đã có khoa học và thuốc men cũng như các máy vi tính, và trên hết mọi sự, Kinh Thánh, là Lời được viết ra của Đức Chúa Trời. Với tất cả nhiều điều đó, tôi nghĩ vì sao còn tìm phép lạ làm gì?
Thứ hai, tôi đã cho rằng hiện nay ý muốn của Đức Chúa Trời, thật thế, đã được thực hiện trên đất. Bởi vì Đức Chúa Trời là Đấng tối cao tuyệt đối, bất cứ điều gì xảy ra trên đất phải được Ngài tán thành. Khi tôi cầu nguyện cho người đau, tôi thường xuyên bảo: “Lạy Chúa, xin ban cho người này ân điển để chịu đựng được căn bệnh này và an ủi gia đình của bà.” Hàm ý không nói ra đó có nghĩa khi chúng ta đau yếu, đó là ý muốn bình thường của Đức Chúa Trời muốn chúng ta bị bệnh, vì vậy hãy hết sức mình có thể để mà chịu đựng.
Phần then chốt của việc cởi mở chính mình để hiểu được làn sóng thứ ba là có một cái nhìn khác vào hai giả định trên. Khi làm như vậy, tôi đã bắt đầu nhận ra rằng cả hai điều đó đều đúng, nhưng chưa hoàn toàn. Phải, Nước Đức Chúa Trời hiện ở trong tương lai, nhưng Nước Ngài cũng đang có trong hiện tại. Đức Chúa Trời là Đấng tối cao, đúng như vậy, nhưng Satan cũng đang hoạt động tích cực trong thế giới ngày nay, và nó làm việc cật lực để chống lại ý muốn của Đức Chúa Trời. Vì vậy, một số điều chúng ta thấy đang xảy ra có thể do Satan gây ra chứ không phải bởi Đức Chúa Trời. Tôi đã hát điều này mỗi khi hát bài “Chúa vốn Bức Thành Kiên Cố Ta” của Marin Luther, nhưng tôi đã mù mắt trước những hàm ý chính của bài hát ấy. Luther nói rằng: “Bởi vì đối phương xưa cũ của chúng ta vẫn thật sự tìm kiếm cách để làm cho chúng ta khổ sở. Mưu chước và sức mạnh của nó là lớn, và được trang bị với lòng ghen ghét hung dữ, trên đất này ta không phải là đối thủ của nó.”
Vậy thì những hàm ý này là gì, đặc biệt là đối với việc khai triển một chức vụ chữa lành hiệu quả?
“Nước Cha Được Đến”
Khi chúng ta cầu nguyện “Nước Cha được đến”, điều này chính xác hàm ý gì?
Một tiền đề căn bản để hiểu điều này là sự dạy dỗ của Kinh Thánh rằng Satan là “chúa của đời này” (IICo 2Cr 4:4).
Theo câu này, về một ý nghĩa nào đó, Satan đang kiểm soát thế gian như chúng ta biết. Thế giới là nước của Satan, và đã thuộc về nó từ khi Ađam và Êva đã giao quyền kiểm soát của họ cho nó bởi sự không vâng lời Đức Chúa Trời.
Đối với một số người điều này nghe có vẻ như là tôi đã suy nghĩ thái quá và quy cho Satan quá nhiều quyền hành. Nhưng tôi không nghĩ vậy nếu chúng ta nghiêm túc xem xét mẫu đối thoại giữa Chúa Giê-xu và Satan trong lúc Chúa bị cám dỗ. Một lần Satan đã đưa Chúa Giê-xu lên một ngọn núi cao và chỉ cho Ngài các nước của thế gian. Rồi nó nói rằng: “Ví bằng ngươi sấp mình trước mặt ta mà thờ lạy, thì ta sẽ cho ngươi hết thảy mọi sự này” (Mat Mt 4:9). Có phải Satan đang đùa với Chúa Giê-xu không, hay điều đó là thật? Nhưng có một điều, Chúa Giê-xu đã không hỏi Satan là nó có quyền để ban cho các nước hay không, như vậy có thể là nó đã có quyền đó. Một lý do khác nữa, khi Luca mô tả cùng một tình tiết, ông đã trưng dẫn lời Satan như vầy: “Vì đã giao cho ta hết, ta muốn cho ai tùy ý ta” (LuLc 4:6). Đề tài này sau đó đã được Giăng nhắc lại, ông nói rằng: “Cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỷ” (IGi1Ga 5:19).
Mặc dầu toàn bộ điều đó là thật, song còn có một sự thật khác nữa đó là Satan không phải là kẻ làm chủ hoàn toàn thế giới này. “Đất và muôn vật trên đất, thế gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giêhôva” (Thi Tv 24:1). Đức Chúa Trời là Vua của các vua, và là Chúa của các chúa. Satan là một kẻ chiếm quyền. Nó đã lấy điều không phải thuộc về nó. Nhưng đừng lầm về điều đó, nó đã lấy rồi. Quyền năng của nó trên các hành tinh khác và các thiên hà khác nhiều bao nhiêu chúng ta không biết. Nhưng chúng ta biết “Quả không ai trên đất địch tày” như lời Martin Luther đã khẳng định. Dầu là tạm thời, nhưng quyền năng của nó là đáng sợ.
Quyền lực của Satan được cường điệu qua một câu chuyện xuất phát từ vùng Tibet, là nơi các thế lực của điều ác đã hoạt động hầu như không bị thách thức suốt một thời gian dài. Paul Kauffman, chủ tịch của Chiến Dịch Truyền Giáo Á châu, tìm thấy một bài báo cáo tin tức từ tờ nhật báo Far East Economic Review xuất bản ngày 16.7.1982. Có vẻ như một nhà châm cứu người Úc đã được mời để điều trị cho một ông già người Tibet lưu đày, lúc ấy đang sống ở tại Ấn Độ. Trước sự kinh ngạc của vị y sĩ này, không một chiếc kim nào có thể xuyên qua lớp da của ông cụ người Tibet. Nhà châm cứu này đã xin lỗi hết lời, và nói rằng một chuyện như thế chưa bao giờ xảy đến với ông trước đây.
Ông già Tibet trả lời: “Ồ, chính tôi mới phải xin lỗi. Vì tôi đã quên lấy chiếc bùa hộ mệnh ra.” Khi ông đã cởi bỏ chiếc bùa ở trên cổ, các chiếc kim được đâm vào da dễ dàng. Sau đó ông giải thích: “Một vị sư Tây Tạng đã cho tôi chiếc bùa này để bảo vệ tôi khỏi những viên đạn của người Trung Hoa.” 3 Đây là điều tôi muốn nói khi bảo rằng Satan có quyền năng đáng sợ.
Khi chúng ta nhận ra rằng Satan đã chiếm một quyền kiểm soát lớn như vậy, thì điều đó nhằm cường điệu càng thêm hơn nữa tầm quan trọng của việc Chúa Giê-xu đến trần gian này, bởi vì Chúa Giê-xu đã mang theo với Ngài một vương quốc mới. Điều này hoàn toàn là một cuộc xâm lấn vào lãnh thổ thù nghịch và là một cuộc xung đột về các thế lực mạnh sức. Nước của Chúa Giê-xu đã giao chiến với nước của Satan. Bây giờ tôi hiểu rằng mọi việc chữa lành của Chúa Giê-xu là một hành động giao chiến, là một sự bối rối cho Satan. Mỗi một con quỷ bị đuổi đi là một sự sỉ nhục đối với Satan.
Bấy giờ đối với tôi đã rõ ràng rằng Nước của Đức Chúa Trời đang có trong hiện tại cũng như trong tương lai mà tôi không hiểu vì sao mình đã quên lãng nó suốt một thời gian dài .
Các giáo sư dạy Kinh Thánh tỏ rõ rằng Chúa Giê-xu đã đến trần gian vì nhiều lý do. Nhưng ở giữa những lý do ấy, có một lý do thật hết sức rõ ràng: “Vả, Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỷ” (IGi1Ga 3:8).
Làm SaoTôi Lại Có Thể Bỏ Sót Điều Đó?
Đối với tôi bây giờ thật rõ ràng là nước của Đức Chúa Trời có trong hiện tại cũng như tương lai mà không hiểu làm thế nào tôi lại bỏ sót điều đó suốt một thời gian quá dài. Khi tôi nghiên cứu thần học ở tại Chủng Viện Fuller vào đầu thập niên 50, George Ladd là một trong các giáo sư của tôi. Thậm chí vào lúc ấy, ông ta là người có biệt tài trong cách giảng của mình, để trở thành một trong các chuyên gia quốc gia thần học Kinh Thánh về Nước của Đức Chúa Trời. Nhưng tôi đã quá say mê với định kỳ thuyết và Thánh Kinh Scofield vào lúc ấy đến nỗi không nghe điều ông muốn nói. Bây giờ, tôi thật bối rối phải thừa nhận rằng điều mà tôi nhớ nhất về George Ladd là cách đặt câu hỏi cách thiếu tôn kính của ông về sự cất lên của Hội Thánh trước cơn đại nạn, được nhiều người trong thời ấy coi là việc đả phá hình tượng Tin Lành.
Suốt trong thời gian hầu việc Chúa ở tại Bolivia với tư cách một nhà truyền giáo, tôi tiếp tục cho rằng Nước Đức Chúa Trời đã bị cầm giữ. Nhưng sau đó, vào năm 1971, khi theo học Trường Fuller về ngành Truyền Giáo Thế Giới, tôi bắt đầu lưu ý rằng đồng nghiệp của tôi là Arthur Glasser đang nói về Nước của Đức Chúa Trời rất nhiều, và tôi bắt đầu hiểu dần ra. Cuối cùng tôi đã nhận ra mình thiếu hiểu biết về đề tài này làm sao khi bạn của tôi là Raymond J. Bakke thuộc Chủng Viện Báptít phía Bắc xét duyệt một trong các quyển sách của tôi và nói rằng: “Đã một thời gian dài từ khi tôi đọc một tác phẩm quan trọng về truyền đạo học hoặc truyền giáo học mà không một lần đề cập đến Nước Trời.” 4 Tôi đã học được bài học của mình kể từ đó và tại đó, tôi đã quay trở về với các tác phẩm của George Ladd. Ladd đã khẳng định rằng: “Nền học thuật hiện đại hoàn toàn nhất trí với quan niệm cho rằng nước Đức Chúa Trời là trọng tâm sứ điệp của Chúa Giê-xu.” 5
Điều Ladd dạy là Kinh Thánh chứng kiến hai thời kỳ chính của lịch sử con người, được xem như là thời kỳ hiện tại và thời kỳ hầu đến. Mãi đến khi Chúa Giê-xu xuất hiện lần thứ nhất, thời kỳ hiện đại đã có, và Satan hầu như đang nắm quyền kiểm soát. Nhưng sự hiện đến của Chúa Giê-xu, đạt đến đỉnh điểm qua sự chết và sự sống lại của Ngài, đã giới thiệu thời kỳ hầu đến, nước của Đức Chúa Trời hiện đang ở tại đất này. Vào lúc Chúa Giê-xu trở lại lần thứ hai, thời hiện tại sẽ kết thúc. Satan sẽ bị ném vào hồ lửa, và thời kỳ hầu đến, được gọi là trời mới đất mới, sẽ còn đến đời đời. Ngay hiện nay, ở giữa hai sự hiện đến của Chúa Giê-xu, chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến.
Bây giờ tôi tin rằng Nước của Đức Chúa Trời phải là đề tài trung tâm sự giảng dạy của chúng ta nhiều hơn những gì cộng đồng Tin Lành thường hiểu. Giăng Báptít đã nói rằng: “Nước thiên đàng đã đến gần!” (Mat Mt 3:2). Chúa Giê-xu đã công bố: “Nước thiên đàng đã đến gần” (4:17). Các sứ đồ được sai đi rao giảng rằng: “Nước thiên đàng gần rồi” (10:7). Sách Công vụ bắt đầu với việc Chúa Giê-xu dạy dỗ về nước Đức Chúa Trời (xem Cong Cv 1:3) và kết thúc với việc sứ đồ Phaolô rao giảng về Nước Trời (xem 28:31).
Thật tốt khi chúng ta nhớ rằng có một sự khác biệt về chất lượng giữa những điều chúng ta thấy xảy ra trong thời Cựu Ước và những gì chúng ta thấy xảy ra hiện nay. Tất nhiên, ngay cả qua Cựu Ước chúng ta cũng thấy rằng Giêhôva Đức Chúa Trời là Vua của các vua và Chúa của các chúa. Quyền năng mạnh mẽ của Ngài đã can thiệp vì ích lợi của dân sự Ngài. Làm thế nào chúng ta có thể hiểu khác đi Trận Đại Hồng Thủy hoặc Cuộc Xuất Hành hoặc Êli trong Núi Cạt mên hoặc Đaniên trong hang sư tử được? Dầu vậy, khi Chúa Giê-xu đến, Nước của Đức Chúa Trời đã được đưa vào lịch sử loài người bằng một cách mà trước đó chưa hề có. George Ladd đã tỏ rõ rằng một bước ngoặc quan trọng trong lịch sử đã xảy ra khi Chúa Giê-xu phán: “Ta đã thấy quỷ Satan từ trời sa xuống như chớp” (LuLc 10:18).
Sau sự kiện đó, Chúa Giê-xu đã phán cùng các môn đồ Ngài rằng họ được đặc ân đặc biệt khi chứng kiến những việc mà họ đang thấy. Ngài nói thêm: “vì ta nói cùng các ngươi, có nhiều đấng tiên tri và vua chúa ước ao thấy điều các ngươi thấy mà chẳng từng thấy” (câu 24), sau khi đã đối chiếu các nhân vật Cựu ước với họ. Và một lần khác Chúa Giê-xu đã phán rằng dầu không có vị tiên tri nào lớn hơn Giăng Báptít, song người nhỏ hơn hết trong nước Đức Chúa Trời cũng lớn hơn ông (xem 7:28).
Satan đã có một quyền hành lớn lao cho đến khi Chúa Giê-xu đến. Nhưng thập giá của Chúa Cứu Thế Giê-xu đã bẻ gãy quyền lực đó. Kinh Thánh dạy rằng trên thập tự giá Chúa Giê-xu đã truất bỏ các quyền cai trị cùng các thế lực, dùng thập tự giá chiến thắng chúng nó, và nộp ra tỏ tường giữa thiên hạ (xem CoCl 2:15). Nếu điều này là thật, thì tại sao Satan cứ tiếp tục thực thi quyền hành? Đó là vì giai đoạn quá độ hiện nay, mà một số người gọi là “có rồi nhưng chưa hành động,” Satan giống như một sư tử đã lãnh một tràng đạn, nhưng chưa chết. Điều này làm cho kẻ thù càng hung dữ hơn bao giờ hết, càng muốn hủy diệt nhiều hơn và thậm chí càng tàn bạo hơn bởi cơn cuồng nộ.
Mặc dầu các đoạn Kinh Thánh trong Khải huyền vẫn là đề tài theo truyền thống của nhiều sự diễn giải khác nhau, một trong các đoạn đó ít ra đã minh họa điều tôi đang muốn nói ở đây. KhKh 12:9 chép rằng Satan đã bị quăng khỏi thiên đàng. Sau đó câu Kinh Thánh này cảnh báo dân sự trên đất hãy cảnh giác, bởi vì “ma quỷ biết thì giờ mình còn chẳng bao nhiêu, nên giận hoảng mà đến cùng các ngươi” (câu 12). Tôi nhớ lại mục sư Paul Yonggi Cho một lần nhắc đến việc Triều Tiên đã được giải phóng chính thức khỏi những kẻ đàn áp Nhật Bản vào ngày 15.8.1945, nhưng suốt những tháng kế tiếp đó người Nhật tiếp tục giết người Triều Tiên cho đến khi chức năng của sự giải phóng trở thành hiện thực. Vì vậy, chúng ta hiện sống trong một thời kỳ giống như vậy. Đó là lúc Satan đã bị đánh bại hoàn toàn, nhưng nó hết sức điên cuồng về điều đó và cứ ra sức làm tất cả những tổn hại gì nó có thể làm được.
Nước Đức Chúa Trời là sự trị vì , chứ không phải lãnh thổ . Công dân nước Trời là những người sẵn sàng đầu phục Ngài như là vị Vua của họ
“Ý Cha Được Nên ở Đất như Trời”
Trong bài cầu nguyện chung, ngay khi chúng ta cầu nguyện: “Nước Cha được đến” thì chúng ta tiếp tục cầu nguyện: “Ý Cha được nên ở đất như trời.” Điều này bắt đầu cho chúng ta dấu hiệu nào đó về những gì chức vụ chúng ta có. Nó giúp chúng ta hiểu điều Chúa muốn thực hiện qua chúng ta trong thời kỳ chiến trận ở giữa nước của Satan và nước của Đức Chúa Trời.
Chúng ta phải nhận biết rằng nước Đức Chúa Trời không phải là một lãnh thổ địa lý nào đó có những ranh giới về chính trị. Chúa Giê-xu đã khẳng định nhiều lần rằng: “Nước ta không thuộc về thế gian này” (GiGa 18:36). Nước của Đức Chúa Trời là quyền trị vì, chứ không phải một lãnh thổ. Dân cư của nước Trời là những người sẵn sàng phục tùng Chúa Giê-xu như là vị Vua của họ. Nếu bạn là một người như thế, thì nước Đức Chúa Trời đang có mặt bất cứ nơi nào bạn sống. Đó là lý do vì sao Chúa Giê-xu phán rằng: “Nước Đức Chúa Trời ở trong lòng các ngươi “ (LuLc 17:21). Nơi nào ý muốn của Chúa được thực hiện, trên đất cũng như trên trời, nơi đó bạn tìm thấy nước của Đức Chúa Trời.
Nhưng nước Chúa như thế nào? Những đặc điểm chính của nước Chúa là gì? Một số các dấu hiệu để giúp chúng ta biết chắc nước Chúa đang thực sự tồn tại ngay tại đây là gì?
CÁC DẤU HIỆU CỦA NƯỚC TRỜI
Một phương cách bổ ích để hiểu điều này là hãy xem xét điều gì đang diễn ra trên thiên đàng. Chúng ta không hiểu hết mọi sự về thiên đàng, nhưng Kinh Thánh đã cho chúng ta một số những dấu hiệu khá rõ ràng. Điều gì xảy ra khi Đức Chúa Trời nắm quyền cai trị và ma quỷ hoàn toàn bị đuổi khỏi khung cảnh? Chúng ta thấy một số hình ảnh trong vườn Êđen trước khi Ađam và Êva phạm tội. Và chúng ta nhìn thấy nhiều hơn trong Giêrusalem Mới sau khi ma quỷ đã bị quăng vào hồ lửa. Trong thành Giêrusalem Mới “sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa” (KhKh 21:4).
Bây giờ chúng ta hãy cụ thể. Tôi đã chọn ra sáu đặc điểm trong số những đặc điểm có nhiều người đề ra chung cho cả sự sáng tạo ban đầu lẫn thành Giêrusalem Mới, là điều sẽ ích lợi khi chúng ta cố gắng hiểu chức vụ của nước Trời.
Trong nước Trời:
1. Không có kẻ nghèo.
2. Không có chiến tranh.
3. Không có những người bị ức hiếp.
4. Không ai bị quỷ ám.
5. Không có người đau yếu.
6. Không có người hư mất.
Nói một cách khác, tất cả những điều trên - sự nghèo khổ, chiến tranh, ức hiếp, quỷ ám, bệnh tật, và hư mất - đều là các công việc của Satan, đã xâm nhập vào dòng dõi con người vào thời điểm loài người sa ngã và đã có từ lúc ấy.
Vì vậy, khi chúng ta cầu nguyện: “Ý Cha được nên ở đất như trời,” chúng ta đang xin Chúa sử dụng chúng ta như những người đại diện cho nước Trời ở một mức độ khả thi lớn nhất để chứng kiến rằng nơi mà hiện nay có chiến tranh, có sự bình an, hoặc nơi đang có sự ức hiếp, thì có sự giải phóng. Trong một lần, Chúa Giê-xu đã phán: “Nhưng nếu ta cậy ngón tay Đức Chúa Trời mà trừ quỷ, thì nước Đức Chúa Trời đã đến nơi các ngươi rồi.” (LuLc 11:20). Con người ở trên đất này đang bị quỷ ám, bởi vì họ vẫn ở trong nước của Satan. Nhưng khi nước Đức Chúa Trời tấn công vào, ma quỷ bị đánh bại.
Trước hết khi Chúa Giê-xu bắt đầu chức vụ của mình, Ngài muốn các môn đồ của mình phải biết rõ chức vụ của nước Trời mà Ngài đang đem đến thế gian. Vì vậy, Ngài vào nhà hội ở tại quê hương Ngài là Naxarét, và đọc sách EsIs 61:1-11, công bố rằng Ngài đã đến để rao Tin Lành cho kẻ nghèo, rịt lành kẻ vỡ lòng, giải cứu kẻ bị tù, mở mắt cho kẻ mù và giải phóng kẻ bị ức hiếp (xem 4:18).
Một danh sách khác các dấu kỳ của nước Trời xuất hiện ở cuối sách Phúc Âm Mác, là chỗ Chúa Giê-xu sai các môn đồ ra đi giảng Tin Lành cho muôn dân và phán rằng: “Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ này” (Mac Mc 16:17). Ngài nhắc đến việc đuổi quỷ, nói các thứ tiếng, bắt rắn trong tay, uống giống độc cũng không hại gì, và đặt tay trên kẻ đau thì họ được lành (xem 16:15-18).
Tôi biết có một số học giả Kinh Thánh vẫn bàn cãi không biết những lời xác thực này là của Chúa Giê-xu hoặc chúng có thể đã được thêm vào bởi một nhà biên soạn nào đó vào thế kỷ thứ hai. Thật vậy, khúc Kinh Thánh trong 16:9-20 không được tìm thấy trong những bản thảo viết tay cổ xưa ở Sinai hoặc ở Vatican. Nhưng tôi đồng ý với Michael Harper, là người nói rằng: “Theo quan niệm của tôi xuất xứ không quan trọng, bởi vì mỗi một lời trong khúc Kinh Thánh này đều nhất quán với sách Công vụ các sứ đồ, và vì vậy có thể được chấp nhận dù ai là tác giả đi nữa.” 6
Không những các dấu kỳ như vậy đã được thấy trong Công vụ các sứ đồ, mà chúng còn được thấy trong đời sống thực tế ngày nay. Trong khi sống ở phía Đông Bolivia, vợ tôi Doris và tôi phải đi một cuộc hành trình dài trên ngựa băng qua rừng để đến thăm một số những nhà truyền giáo khác đang làm việc giữa vòng những người Da Đỏ Ayore ở tại một nơi gọi là Bella Vista. Nơi này hoang vu đến nỗi chúng tôi là những nhà truyền giáo đầu tiên ghé thăm họ. Chúng tôi khởi hành với cháu gái Karen 4 tuổi và không bao lâu sau chúng tôi đã giật mình khi nhận ra rằng chúng tôi đã sơ ý quên mang theo các bình đựng nước. Khí hậu tại đây rất nóng và rất khô, chúng tôi đã cưỡi ngựa đi được vài giờ đồng hồ, nhưng chúng tôi quyết định thà đi tiếp để tìm nước dọc đường còn hơn là quay lại. Và đúng vậy, chúng tôi thấy những ao khá lớn ở tại đây và rải rác dọc theo đường đi, chúng tôi đã làm dịu đi cơn khát của mình nhờ thứ nước ấy.
Sự ngạc nhiên xuất hiện khi chúng tôi đã đến nơi, John và Phoebe Depue chú ý chúng tôi không mang theo các bình đựng nước nên họ đã hỏi chúng tôi với sự lo âu: “Các anh đã uống nước ở đâu thế?” Chúng tôi cho biết đã uống nước từ các ao, và họ hầu như muốn té xỉu, họ kêu lên: “Ôi không, người Ayore đã đi qua đây ngày hôm trước và đánh thuốc độc tất cả các ao để bắt cá. Đó là thứ chất độc chết người!” Nhưng chúng tôi không hề cảm thấy bệnh tật đau yếu gì cả, mà còn vui mừng vì mặc dầu các học giả có thể tranh luận, nhưng quyền năng của Đức Chúa Trời vẫn thực hữu ngày hôm nay.
Điều tương tự như vậy cũng đang xảy ra, không những với các độc dược, mà còn với cả rắn nữa. Eloise Clarno thuật lại rằng ở tại Philippine gần đây mục sư Elmer Arrozena đã chuẩn bị một bài giảng về 16:15-18, nhưng buổi nhóm của Hội Thánh phải bị hoãn lại vì một trận bão lớn. Đêm hôm đó một con rắn hổ mang rất độc, bị xô dạt bởi trận bão, đã trườn vào dưới cửa nhà họ và đang tiến đến phía đứa con của ông. Theo phản xạ, Arrozena tóm lấy con rắn, và nó đã cắn ông hai phát. Một phát đủ chết rồi, huống chi là hai. Ông bất tỉnh, nhưng vợ ông, Shirley, đã tập hợp một số các Cơ Đốc nhân khác và cầu nguyện khẩn thiết. Sau ba mươi phút, Mục sư Arrozena tỉnh táo và khỏe mạnh hoàn toàn. Chúa nhật tuần sau ông đã có thể giảng bài giảng này với lòng xác quyết mạnh mẽ: “Bắt rắn trong tay ... cũng chẳng hại gì” (16:18). 7 Một trong những bảng liệt kê rõ ràng nhất về các dấu hiệu của nước Trời đã được Chúa Giê-xu chỉ ra cho các môn đồ của Giăng Báptít. Sau khi Giăng đã bị bỏ tù, ông trở nên ngã lòng và tự hỏi không biết điều ông đang giảng dạy có phải đúng là Tin Lành hoàn toàn không. Vì vậy, ông đã sai các môn đồ mình đến gặp Chúa Giê-xu và hỏi có phải Ngài đúng là Đấng Cứu Thế không. Chúa Giê-xu đã trả lời bằng cách liệt kê một số những sự bày tỏ cho công chúng về chức vụ của Ngài: kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại, và Tin Lành đã được giảng ra cho kẻ nghèo (xem LuLc 7:22).
CÁC PHÉP LẠ Ở TẠI CHỦNG VIỆN FULLER
Cũng như các phép lạ liên quan đến các chất độc và rắn, chúng tôi cũng đang chứng kiến Đức Chúa Trời làm cho người què đi được và người mù thấy được, điều sau cùng thậm chí còn gần gũi hơn với quê hương ở ngay tại các phòng học của tôi ở Chủng Viện Fuller. Gần đây, khi tôi bắt đầu một trong các lớp căn bản về sự tăng trưởng của Hội Thánh và mời các sinh viên tự giới thiệu mình, tôi có được đặc ân gặp nhà truyền giáo Sam Sasser, là người đã hầu việc Chúa suốt nhiều năm với Hội Ngũ tuần của Đức Chúa Trời (Assemblies of God) ở tại quần đảo phía Nam Thái Bình Dương. Phòng học của chúng tôi là một căn phòng rộng lớn, và anh ngồi ở tận cuối trên một chiếc xe lăn với bàn chân phải được quấn trong một lớp băng dày. Tôi được biết anh ta đã sống sót sau nhiều tai nạn, gồm hai tai nạn trên các chiếc tàu và một vụ nổ máy bay, anh đã phải đi những quãng đường dài trên các rặng san hô sắc bén. Vì thế, anh đã bị nhiễm độc san hô, cấu trúc xương của anh đã bị hủy hoại do tác hại của chất độc, và anh đã phải trải qua một số các cuộc giải phẫu suốt bốn năm qua để gỡ bỏ các mô xương mục. Anh không biết còn phải ngồi trên xe lăn tay bao lâu nữa.
Vào ngày thứ hai của lớp học, tôi khởi sự qui trình thường lệ của mình khi bắt đầu mỗi buổi học với 20-30 phút cầu nguyện. Tôi đã mời David Ellis, một nhà truyền giáo làm việc với Hội Truyền Giáo Phúc Âm Thế Giới ở tại Bolivia làm người hướng dẫn giờ cầu nguyện của chúng tôi ngày hôm đó, và mời lớp học nêu lên những nan đề cầu nguyện. Sam Sasser xin cầu nguyện được chữa lành. Tôi gợi ý với Ellis khi đến tên của Sasser trên danh sách thì hãy cho các sinh viên chung quanh anh ấy một cơ hội để họ đặt tay trên anh ấy trước khi cầu nguyện. Và Ellis đã làm như vậy.
Vào ngày thứ ba trong giờ cầu nguyện, Sam Sasser nói rằng anh muốn có lời làm chứng, anh nói: “Tôi không muốn cường điệu, nhưng ngày hôm qua tôi đã không đề cập đến việc tôi đã bị mù do hậu quả bị nhiễm độc san hô. Ngày đầu tiên tôi đã không thấy ông khi ông đứng lớp.” (Tôi cũng không lưu ý nhiều lắm đến sự kiện người thư ký của anh ấy, cũng là người đẩy chiếc xe lăn cho anh, là người ghi chú cho anh ta.) Anh nói tiếp: “Ngày hôm qua, sau khi cầu nguyện, tôi đã có thể nhìn thấy ông qua toàn thể lớp học. Không những vậy, nhưng buổi sáng hôm nay, cô y tá đến để thay băng cho tôi bảo rằng cô không thể tin được điều cô thấy. Cô cho tôi biết rằng nếu khởi đầu này cứ tiến triển, thì tôi sẽ lành mạnh sau một tuần lễ.”
Vào ngày thứ tư, anh ấy lại giơ tay lên một lần nữa, anh nói: “Cô y tá đã báo cho bác sĩ của tôi điều cô phát hiện, vì vậy ông ta đã gọi tôi lên văn phòng sáng hôm nay. Khi mở băng ra, ông ta cười lớn. Một đường rạch dài tám phân và sâu ba phân đã hoàn toàn lành trên bề mặt có đóng một vết sẹo nhỏ. Ông ta bảo: ‘Điều này không thể xảy ra được. Có gì đó không ổn rồi. Tôi e rằng sẽ có một túi nhiễm trùng ở bên trong.’ Vì vậy, ông mở vết thương ra và kiểm tra bằng một đầu có quấn gạt, nhưng đã không phát hiện được gì cả. Ngày hôm nay, ông bảo tôi đi đo chân để mua loại giày đặc biệt.”
Trong vòng một tuần sau đó, Sam Sasser đang đi lại trong sân trường đẩy chiếc xe lăn tay của chính anh. Anh đã hủy bỏ việc đăng ký vào một trường đặc biệt để huấn luyện anh sử dụng chó dẫn đường. Mặc dầu Sam vẫn chưa có thể chơi tennis hoặc đọc sách, và các dấu hiệu của sự nhiễm độc san hô nằm bên dưới thỉnh thoảng bộc phát, nhưng Đức Chúa Trời đã được vinh hiển thật lớn lao, và nhiều người trong cộng đồng chủng viện đã được khích lệ khi thấy các dấu hiệu này của nước Trời giữa vòng chúng tôi.
LỐI SỐNG CỦA NƯỚC TRỜI
Kết quả cuối cùng của việc hiểu được các dấu hiệu của nước Trời là để cung cấp cho chúng ta những chỉ dẫn dành cho các loại chức vụ chúng ta có thể trông đợi Chúa dẫn dắt chúng ta vào nếu Ngài nhậm lời cầu nguyện của chúng ta: “Ý Cha được nên ở đất như trời.” Với những điều này, chúng ta triển khai một bức tranh rõ ràng hơn về những gì mà nếp sống của nước Trời hoàn toàn có liên quan đến. Là những con người, nhưng điều quan trọng hơn nữa là những thành viên tích cực của các Hội Thánh và của các nhóm Cơ Đốc khác, các chức vụ thuộc về nước Trời này phải đang lưu xuất qua chúng ta trên một cơ sở đều đặn. Chúng ta phải quan tâm đến người nghèo và những người bị ức hiếp. Chúng ta phải chu cấp lương thực cho kẻ đói ngay tại đây trong đất nước của chính chúng ta và trên thế giới. Chúng ta phải tìm cách thay đổi những cơ cấu xã hội tạo ra tình trạng mất phẩm giá cho con người, như là chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi hoặc hệ thống đẳng cấp ở tại Ấn Độ.
Như chúng ta đã giải thích điều đó ở đây, rõ ràng là thần học nước Trời cung cấp một cơ sở hợp lý vững chắc cho các chức vụ xã hội đủ mọi loại cũng như cho công tác truyền giáo. Rõ ràng là tất cả các dấu hiệu của nước Trời đều quan trọng và đòi hỏi sự tập trung chú ý của chúng ta. Nổi bật giữa vòng các chức vụ ấy là việc chữa lành cho người đau và đuổi quỷ. Vì vậy, việc bắt đầu một chức vụ chữa lành trong Hội Thánh của bạn có thể xem như là một kết quả tự nhiên của sự hiện diện của Chúa Giê-xu và nước Ngài. Tuy nhiên, nhiều Cơ Đốc nhân bắt đầu lo lắng vô cùng ở thời điểm này. Việc gởi các thiết bị y tế đến cho những nạn nhân bị động đất ở tại Mễ Tây Cơ, việc hỗ trợ một chiến dịch truyền giáo của Billy Graham hoặc việc ký vào một đơn xin phóng thích những người Do Thái ở tại Liên bang Xôviết là những hoạt động còn dễ chịu hơn là việc tổ chức một buổi nhóm chữa lành nhiều. Một số người, phần lớn là do muốn tự bảo vệ mình, đã hỏi tôi rằng liệu tôi có tin rằng các phép lạ và các dấu kỳ như là những tiêu chuẩn hay không.
Tôi nghĩ câu trả lời cho điều đó tùy thuộc vào tiêu chuẩn hàm ý điều gì. Tôi không tin rằng các dấu kỳ và các phép lạ siêu nhiên nhất thiết phải là một dấu hiệu của Cơ Đốc giáo thật, tính thuộc linh thật hoặc Hội Thánh thật. Những dấu kỳ và phép lạ ấy không được liệt kê bên dưới bông trái của Đức Thánh Linh. Có nhiều Cơ Đốc nhân ưu tú sống rất tốt mà không có các dấu kỳ phép lạ ấy.
Theo quan điểm của tôi, các dấu kỳ và các phép lạ nên được kể như là cần phải tiêu chuẩn hóa trong Cơ Đốc giáo như việc làm báp tem của người tin Chúa. Một số các giáo phái như là Báptít, Mennonites, và Hội Thánh của Đấng Christ lập luận rằng bạn không thể có một Hội Thánh thật nếu không có các dấu kỳ và phép lạ. Còn những Hội Thánh khác, như là Trưởng Lão, Episcopalians, và Lutherans nghĩ rằng họ vẫn có những Hội Thánh thật dầu không có phép lạ. Tôi tin nơi phép lạ và cần phép lạ trong gia đình của tôi cũng như bất cứ người nào khác mà tôi có thể ảnh hưởng, nhưng tôi thuộc về một Hội Thánh Hội Chúng trong đó nếu bạn đòi phép lạ hoặc bạn không đòi phép lạ thì cũng tốt như nhau. Tôi nhìn thấy chức vụ trong việc chữa lành người bệnh và đuổi quỷ trong một ánh sáng tương tự. Tôi tin nơi phép lạ, tôi cầu nguyện xin phép lạ và giúp càng nhiều người bước vào chức vụ ấy càng tốt. Nhưng nếu có một số các anh em chị em Cơ Đốc khác nhìn các sự việc khác hơn, thì không hề vì những cơ sở ấy mà tôi xếp loại họ là những Cơ Đốc nhân hạng hai.
NAN ĐỀ CỦA NHỮNG NGƯỜI HƯ MẤT
Một trong các mục tiêu chính của quyển sách này là nhằm giúp người Cơ Đốc và các Hội Thánh Cơ Đốc bước vào một chức vụ chữa lành hiệu quả thường xuyên. Điều này nhiều khi cần thiết phải dọn dẹp những sự ngăn trở chặn đường hầu cho điều đó có thể xảy ra được. Tôi đã tìm thấy rằng thật ích lợi cho những người Tin Lành để quan sát những việc tương tự rất có ý nghĩa giữa chức vụ nước Trời của chúng ta trong việc giảng Tin Lành cho những người hư mất và chức vụ về nước Trời của chúng ta trong việc chữa lành kẻ bệnh. Về mặt truyền thống, giữa vòng những người Tin Lành, thì việc truyền giáo là khoản mục chiếm ưu tiên cao hơn các hoạt động xã hội khác, là điều mà những người Tin Lành thuộc phái tự do nhấn mạnh, hoặc việc đuổi quỷ, là điều mà những người thuộc phong trào ân tứ nhấn mạnh. Cứu thục học là một sự nhấn mạnh mạnh mẽ hơn cả các đạo lý xã hội hoặc giáo lý về Đức Thánh Linh.
Giữa vòng những người Tin Lành có một sự nhất trí rằng ý muốn của Đức Chúa Trời để giảng Tin Lành cho người hư mất là điều rõ ràng dứt khoát trong Kinh Thánh. Ít có ai nghi ngờ rằng Ngài “không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (IIPhi 2Pr 3:9). Nhưng mặc dầu Ngài muốn mọi người đều phải được cứu, không phải tất cả đều được cứu.
Vậy thì tại sao ý muốn của Đức Chúa Trời không được thực hiện là có nhiều người Ngài muốn được cứu lại không được cứu? Nhiều lý do khác nhau có thể được nêu ra cho mỗi trường hợp riêng lẻ, nhưng câu trả lời chung là việc cứ để cho con người hư mất là một hành động trực tiếp của Satan. Kinh Thánh dạy điều này rất rõ ràng. Sứ đồ Phaolô nói rằng nếu Tin Lành bị che khuất, là bị che khuất cho những kẻ hư mất “cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ là ảnh tượng của Đức Chúa Trời” (IICo 2Cr 4:4). Việc truyền giảng và giúp con người được cứu là một phần của chiến trận nước Trời mà chúng tôi đang mô tả. Khi một người được cứu, đó là một chiến thắng trên kẻ thù. Đó là lý do vì sao chúng ta được cho biết các thiên sứ ở trên trời cũng vui mừng khi điều đó xảy ra (xem LuLc 15:10).
Chúng ta những người Tin lành đã từ lâu phải quen cam chịu với thực tế rõ ràng và phũ phàng, đó là tình trạng hư mất là một sự thật và nó sẽ tiếp tục là một sự thật trong thế giới của chúng ta cho đến ngày Chúa Giê-xu trở lại. Qua các thời đại, các nhà thần học đã cố gắng để giải thích lý do vì sao. Các cuốn sách đã được viết ra về thuyết tiền định (predestination), tiền định tiền sa ngã (supralapsarianism), và Trời- người hiệp tác Tiền cứu chuộc (pre-soteric synergism), nhưng không một ai giải quyết được vấn đề thỏa mãn cho tất cả mọi người. Các hội đồng về lịch sử Hội Thánh đã thành công trong việc giải thích thuyết ba ngôi và mối liên hệ giữa hai bản tánh của Chúa Cứu Thế, nhưng họ đã không giải thích được điều này.
Nhưng tất cả những điều đó có làm cho những người như Billy Graham hay Bill Bright hay Luis Palau bối rối không? Không hề. Trong khi những nhà thần học đang tìm cách để phát hiện vì sao điều đó xảy ra hoặc không xảy ra, thì những người này cứ tiếp tục rao giảng Tin lành ngày càng cứu được nhiều người càng tốt. Và hầu hết những người Tin Lành khác đều đang vui mừng cộng tác với họ.
NAN ĐỀ CỦA NHỮNG NGƯỜI BỆNH
Trong khi các vấn đề này hầu như giống hệt nhau, thì phản ứng đối với mỗi vấn đề lại không giống nhau, chẳng hạn như khi đối diện với việc chữa lành người bệnh. Rất nhiều người Tin Lành sẽ vấp phạm khi nhận ra rằng không phải tất cả những người chúng ta cầu nguyện cho đều được lành. Một phương pháp điển hình được chọn bởi một trong các giáo sư anh em của tôi tại Chủng Viện Fuller, người đặc biệt bực bội rằng John Wimber và tôi đang dạy khóa học MG510 của chúng tôi trong chủng viện và rằng những tín đồ đang lan truyền rằng những người trong khóa học đã thật sự được chữa lành ngay trong trường. Ông đã được một người dấu tên trích lời trong tờ Christianity Today là đã chỉ trích chúng tôi vì dạy một “Cơ Đốc giáo may rủi trong đó hẳn chỉ có một vài người trúng lớn - những sự chữa lành ngoạn mục - và rất nhiều người thắng có mười đồng - được chữa trị bệnh nhức đầu - để thu hút một đám đông.” Sự phản đối chủ yếu của ông là một sự dạy dỗ như vậy xa rời với thần học của thập tự giá. 8
Tôi không giả vờ như có một câu trả lời tối hậu cho lý do vì sao một số người không được chữa lành cũng như tôi không có câu trả lời cho lý do vì sao một số người không được cứu. Nhưng chúng ta hãy nghĩ về điều này một chút xíu.
Trước hết, bệnh tật có phải là ý muốn của Đức Chúa Trời không? Một cách tốt để thảo luận câu hỏi đó là hãy đưa ra một câu hỏi khác. Liệu bệnh tật có phải là giá trị trong nước trời không? Rõ ràng là không. Như chúng ta đã thấy, nó đi ngược lại với nếp sống của nước Trời. Cũng như sự nghèo đói và chiến tranh.
Nếu bệnh tật không phải là ý muốn của Đức Chúa Trời, nhưng có nhiều người thật sự đang đau yếu, thì điều gì là nguyên nhân? Câu trả lời rõ ràng: chính là Satan. Tôi đồng ý với Robert Wise, là người đã nói: “Chúng ta hãy đánh dấu lời kết luận bằng những chữ đỏ. Các tai họa trên thế giới này không bắt nguồn từ trong ý muốn của Đức Chúa Trời. Kẻ ác chính là tác giả của hoạn nạn.” 9
Tôi tin rằng Satan làm việc qua ba phương cách chính để đem lại bệnh tật và khổ sở trên con người:
1. Satan trực tiếp gây ra bệnh tật . Một mưu chước rõ rệt là tình trạng bị quỷ ám. Ví dụ, có khoảng 25 phần trăm những việc chữa lành của Chúa Giê-xu được ký thuật trong sách Phúc Âm Mác có liên quan đến ma quỷ. Ảnh hưởng trực tiếp của ma quỷ được minh chứng hết sức rõ ràng khi Chúa Giê-xu chữa bệnh cho một người đàn bà bị đau liệt và đã bị người cai nhà hội quở trách vì đã làm điều đó trong ngày Sabát. Chúa Giê-xu đã phán: “Con gái của Ápraham này, quỷ Satan đã cầm buộc mười tám năm, há chẳng nên mở trói cho nó trong ngày Sabát sao?” (LuLc 13:16). Vai trò trực tiếp của Satan cũng rất rõ ràng trong trường hợp của Gióp. Bao nhiêu phần trăm bệnh tật trực tiếp do Satan gây ra chúng ta không biết, nhưng chắc chắn là không ít.
2. Satan gián tiếp sử dụng những hậu quả tự nhiên của Sự Sa Ngã để gây ra bệnh tật và đau khổ . Hắn dùng vi khuẩn, vi trùng, tình trạng suy dinh dưỡng, tai nạn, chiến tranh, chất độc, tuổi già, những kẻ cưỡng hiếp, những kẻ giết người v.v.... Rất có thể lắm tất cả bệnh tật đều được xếp vào số này.
3. Satan cám dỗ người ta ngã vào tội lỗi , và nhiều khi Đức Chúa Trời dùng bệnh tật để hình phạt họ vì tội lỗi . Có nhiều ví dụ trong Cựu Ước về dịch lệ, là điều Đức Chúa Trời sai đến trên dân sự Ngài để hình phạt tội lỗi họ. Khi một số những người Ysơraên nổi loạn nghịch cùng Môise và Arôn, Đức Chúa Trời đã sai một trận dịch đến giết tới 14.700 người (xem Dan Ds 16:45-50). Sau đó Đức Chúa Trời đã giết 50.070 người Ysơraên khác ở tại Bếtsêmết khi họ không vâng lời Ngài mà nhìn vào rương giao ước của Đức Giêhôva (xem ISa1Sm 6:19), chỉ trưng dẫn hai ví dụ đó. Trong Tân Ước, Đức Chúa Trời đã làm cho Êlyma thuật sĩ bị mù như là một phần của cuộc đối đầu bằng quyền phép (xem Cong Cv 13:6-12). Ở tại Côrinhtô, một số những người tin Chúa mang bệnh tật và một số đã bị chết do hậu quả của việc lạm dụng tiệc thánh của Chúa (xem ICo1Cr 11:30).
Dầu cho nguyên nhân trực tiếp là gì đi nữa, thì hậu quả của bệnh tật thường là đau đớn, khổ sở, và sự chết, tất cả đều là công việc của Satan.
Nhưng bất chấp những ý định của Satan, một số những kết quả cuối cùng của bệnh tật vẫn có thể đem lại lợi ích. Chúng ta được dạy rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho những người yêu mến Đức Chúa Trời (xem RoRm 8:28). Những người như Joni Eareckson Tada làm chứng về chiếc xe lăn tay của họ rằng Đức Chúa Trời đã dùng bệnh tật của họ để đem tình yêu của Ngài đến cho nhiều người. Cô ta nói: “Satan đã có ý đồ khiến cho một cô gái 17 tuổi tên là Joni phải bị gãy cổ, để hòng hủy hoại đời sống cô ấy, nhưng Đức Chúa Trời đã sai đến chiếc cổ bị gãy để nhậm lời cầu nguyện của cô hầu có mối tương giao gần gũi hơn với Ngài và sử dụng chiếc xe lăn của cô như là một bục giảng để bày tỏ ân điển nâng đỡ của Ngài.” 10
Cố đồng nghiệp của tôi ở tại Chủng Viện Fuller là Tom Brewster mắc một chứng liệt tứ chi suốt cả cuộc đời thanh niên của ông. Ông không thích sự tàn tật của mình, ông cũng không tin là nó đến từ Chúa. Chúng tôi đã cầu nguyện với ông cho đến ngày ông qua đời rằng Chúa sẽ chữa lành ông. Dầu vậy, ông vẫn luôn nói rằng Đức Chúa Trời sử dụng thương tích của ông để dạy dỗ ông nhiều điều cũng như uốn nắn đời sống ông theo những cách mà dường như bất khả thi nếu không có nó.
Thậm chí sứ đồ Phaolô cũng đã kinh nghiệm sự ban phước của Đức Chúa Trời trong cuộc đời mình qua “chiếc dằm xóc vào xác thịt ông” một số người lập luận rằng điều đó không phải là sự khổ sở về thuộc thể, nhưng dẫu cho nó có là bất cứ điều gì đi nữa, thì rõ ràng đó là một sứ điệp đến trực tiếp từ Satan, và Phaolô đã không thích nó một chút nào. Ông đã ba lần cầu nguyện cho nó lìa khỏi ông, nhưng nó vẫn không chịu lìa. Dầu mọi điều đó, Phaolô vẫn nhận biết rằng Đức Chúa Trời đang sử dụng nó để ông khiêm nhường và vì điều đó mà ông vui mừng. Ông nói: “Tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi” (xem IICo 2Cr 12:7-10).
VUI MỪNG TRONG QUYỀN NĂNG
Cả bệnh tật lẫn tình trạng hư mất sẽ còn ở với chúng ta cho đến khi Chúa Giê-xu đến. Lý do chúng vẫn cứ còn dầu chúng ta biết nó không phải là ý muốn của Đức Chúa Trời là một trong những câu hỏi gây bối rối mà Kinh Thánh đơn giản không trả lời cho chúng ta. Nếu có người nào đó tìm ra một câu trả lời, thì tôi tin chắc người ấy sẽ là một ứng viên cho giải Nôben thần học.
Trong khi chờ đợi, tôi vẫn sẵn sàng sống với điều đó. Và tôi tiếp tục cầu nguyện hàng ngày: “Ý Cha được nên ở đất như trời.” Bởi vì tôi là một người đại diện cho chiến tuyến của nước Đức Chúa Trời, tôi sẽ tiếp tục chống lại công việc của Satan. Bởi quyền phép của Đức Thánh Linh, tôi sẽ làm chứng cho người hư mất và cầu nguyện cho người bệnh, dầu biết trước rằng không phải tất cả đều sẽ được cứu và không phải tất cả đều được lành. Nhưng một số người sẽ được, và điều đó sẽ làm thành sự ban thưởng dồi dào cho những công sức được đầu tư vào. Đó là nơi tôi sẽ vui mừng và cùng vui với các thiên sứ ở trên trời.
Ghi chú
1. John Wimber with Kevin Springer, Power Evangelism (San Francisco: Harper & Row, 1986), pp. 186, 187.
2. Ken Blue, Authority to Heal (Downer’s Grove, IL: InterVarsity Press, 1987), p. 65.
3. Paul E. Kauffman, “Another Look at Tibet,” Asian Report. No. 138, Jan. 1983, p. 9.
4. Raymond J. Bakke, “Our Kind of People,” Evangelical Missions Quarterly, Apr. 1980, p. 127.
5. George Eldon Ladd, A Theology of the New Testament (Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans Pub. Co., 1974), p. 57.
6. Michael Harper, The Healings of Jesus (Downers Grove, IL: InterVarsity Press, 1986), p. 163.
7. See Foursquare World Advance, July/Aug. 1983, p. 11.
8. Tim Stafford, “Testing the Wine from John Wimber’s Vineyard,” Christianity Today, Aug. 8, 1986, p. 21.
9. Robert L. Wise, When There Is No Miracle (Ventura, CA: Regal Books, Div. Of Gospel Light Publications, 1977), p. 128.
10. Joni Eareckson Tada and Steve Estes, A Step Further (Grand Rapids, MI: Zondervan Publishing House, 1978), p. 140.



Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 06:40 PM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách