† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2324|Trả lời: 0

Chức Vụ Chữa Lành - CHUYỂN GIAO QUYỀN NĂNG

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 5-11-2011 08:18:49 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Chức Vụ Chữa Lành
Tác giả: C. Peter Wagner

CHUYỂN GIAO QUYỀN NĂNG

Một trong những lời tuyên bố gây ngạc nhiên hơn hết của Chúa Giê-xu đã được tuyên phán với các sứ đồ vào cuối chức vụ của Ngài: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm; lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì ta đi về cùng Cha” (GiGa 14:12).
Chúng ta hiểu câu nói này như thế nào?
Khi tôi vào học trong chủng viện, tôi đã được dạy rằng đừng hiểu câu đó theo nghĩa đen. Đó chính là đường lối tổ chức của những người Tin Lành vào thời đó.
Nhiều người vẫn còn dạy điều đó. Ví dụ, Ray Stedman hỏi rằng: “Những công việc lớn hơn sự chữa lành thuộc thể có thể được thực hiện là điều gì? Ông trả lời: “Có chứ, đó là sự chữa lành thuộc linh. Điều Chúa muốn trước hết là chữa lành sự tổn thương trong tâm linh của con người.” Một lý do khiến Stedman nhấn mạnh điều này là vì ông cảm thấy “luôn luôn là một sai lầm khi quá nhấn mạnh đến phép lạ thuộc thể. Mặc dầu các phép lạ thu hút sự chú ý, nó cũng thường làm con người bị nhầm lẫn, đến nỗi những người quan sát hoàn toàn bỏ qua mục đích của điều Đức Chúa Trời đang muốn phán”. Điều này không chắc là sự giải thích được chấp nhận rộng rãi nhất giữa vòng những Cơ Đốc nhân Hoa Kỳ ngày nay.
Tất nhiên, những người Ngũ tuần và ân tứ cũng hiểu Lời Chúa theo nghĩa đen. Và tôi tin rằng những người Tin Lành đang đi vào làn sóng thứ ba cũng không nên sợ khi phải hiểu những lời này theo nghĩa đen. Tôi đồng ý với Michael Harper, là người nói rằng: “Những Cơ Đốc nhân đầu tiên đã xưng nhận sở hữu cùng một năng quyền mà Chúa Cứu Thế đã bày tỏ, đặc biệt trong công tác chữa lành bệnh của họ.” Và họ đã nhận được điều này như thế nào? “Chúa Giê-xu đã chuyển giao cùng các ân tứ ấy về Đức Thánh Linh cho họ”.
Điều then chốt rõ ràng trong vấn đề này là hiểu chính xác công việc của Đức Thánh Linh. Hãy lưu ý Chúa Giê-xu đã nói đến quyền phép mà Ngài muốn nói sẽ đến “bởi vì ta đi về cùng Cha.” Ý nghĩa của điều đó là gì? Sau đó Chúa Giê-xu đã nói: “Nếu ta không đi, thì Đấng Yên Ủi sẽ không đến cùng các ngươi, nhưng nếu ta đi thì ta sẽ sai Ngài đến cùng các ngươi” (GiGa 16:7). Đấng Yên Ủi, tất nhiên, chính là Đức Thánh Linh. Điều này dẫn tôi đến giả định thần học của chương này: Đức Thánh Linh chính là nguồn gốc của tất cả quyền phép Chúa Giê-xu trong chức vụ trên đất của Ngài . Chúa Giê-xu đã không thi hành quyền phép của chính Ngài hoặc bởi chính mình Ngài . Ngày nay chúng ta có thể trông đợi để cũng làm giống như Ngài hoặc làm những điều lớn hơn Chúa Giê-xu nữa bởi vì chúng ta đã được ban cho cùng một nguồn quyền năng tương tự .
HAI BẢN TÁNH CỦA CHÚA GIÊXU
Thần học Cơ Đốc kinh điển dạy rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu có hai bản tánh, thần tánh và nhân tánh. Điều này không có nghĩa là Ngài có hai thân vị, nhưng là một thân vị với hai bản tánh. Cũng không phải Ngài có một nửa tánh thần và nửa tánh người giống như một số các nhân vật trong truyện thần thoại. Thật lạ lùng thay, Ngài là Đức Chúa Trời 100 phần trăm, và là con người 100 phần trăm. Về mặt toán học thì điều đó dường như không thể hiểu được, nhưng về mặt Kinh Thánh và thần học thì được. Cụm từ Latinh cổ mà các thần học gia hay nói đến là: vere deus et vere homo , hoàn toàn Đức Chúa Trời và hoàn toàn con người.
Tôi nhấn mạnh điều này bởi vì tôi không muốn mình bị hiểu lầm. Đối với tôi, giáo lý kinh điển về nhị tánh của Chúa Cứu Thế là một giáo lý không thể tranh cãi về mặt thần học. Không hề có điều gì tôi nói trong vài trang kế tiếp đây được giải thích để làm tổn hại đến sự kiện Chúa Giê-xu hoàn toàn là Đức Chúa Trời và hoàn toàn là con người. Những vấn đề mà tôi sắp đưa ra không hề thắc mắc liệu có phải Chúa Giê-xu có hai bản tánh hay không, nhưng muốn nói đến việc hai bản tánh mà Ngài có liên quan với nhau như thế nào.
LIỆU CHÚA GIÊXU CÓ THẬT SỰ BIẾT KHÔNG?
Một điểm bắt đầu thú vị cho điều này là điều tôi nghĩ đến như là rắc rối của Mac Mc 13:32. Ở đây Chúa Giê-xu đang ở trên núi Ôlive nói chuyện cách riêng tư với Phierơ, Giacơ, và Giăng cùng Anhrê. Họ đã hỏi Ngài khi nào thời kỳ cuối cùng sẽ đến. Chúa Giê-xu nói với họ về nhiều điều sẽ phải xảy ra trong thời kỳ cuối cùng, như là giặc giã và tiếng đồn về giặc, động đất và bắt bớ cùng các tiên tri giả. Nhưng còn về thời điểm? Đây là điều Ngài đã phán: “Về ngày và giờ đó, chẳng ai biết chi hết, các thiên sứ trên trời, hay là Con cũng chẳng biết nữa; song chỉ Cha mà thôi.”
Trừ phi Chúa Giê-xu đang sử dụng một hình thức chơi chữ nào đó, Ngài đang thông báo cho các môn đồ rằng Ngài không thể nói cho họ khi nào giờ cuối cùng sẽ đến, đơn giản chỉ vì Ngài không biết. Lý do vì sao đây là một rắc rối thì đã rõ ngay. Chúa Giê-xu được xem là Đức Chúa Trời 100 phần trăm. Mà Đức Chúa Trời là Đấng toàn tri - có nghĩa là Ngài biết mọi sự. Như vậy, làm thế nào mà có điều gì, thậm chí một điều mà Chúa Giê-xu tự Ngài thú nhận là không biết?
Các nhà thần học đã vật lộn với vấn đề này qua nhiều năm. Hầu hết những lời giải thích theo truyền thống có thể được xếp vào hai loại sau đây:
1. Luận thuyết bí mật hoàn toàn . Những người tin vào điều này khẳng định rằng ở đây chúng ta đang bàn về một vấn đề mà không có sự giải thích hợp lý về mặt con người. Đường lối của Đức Chúa Trời vượt trên đường lối của chúng ta, và tốt nhất là chúng ta hãy thừa nhận rằng mình không thể hiểu được điều đó.
2. Luận thuyết về nhân tánh của Chúa Giê-xu . Hiện nay có nhiều nhà thần học thuộc phái tự do phủ nhận thần tánh của Chúa Cứu Thế. Họ không cho rằng ban đầu Ngài thật sự đã là Đức Chúa Trời. Và đây chính là bằng chứng cho quan điểm của họ. Nhưng trong khi chứng minh quan điểm của họ, họ cũng gặp rất nhiều khó khăn để giải thích những câu Kinh Thánh như là: “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời ... Và Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta” (GiGa 1:1, 14). Những Cơ Đốc nhân Tin Lành không chấp nhận luận thuyết nhân tánh Giê-xu.
3. Luận thuyết hai phương diện . Luận thuyết này tuyên bố rằng bởi vì Chúa Giê-xu vừa là thần vừa là người, nên Ngài thay đổi qua lại giữa hai bản tánh này trong mình. Có những lúc Ngài là Đức Chúa Trời. Có những lúc khác, Ngài là con người. Khi biến nước thành rượu, Ngài là Đức Chúa Trời. Khi Ngài đói, Ngài là con người.
Luận thuyết cuối cùng này cho đến nay được ưa chuộng nhất giữa vòng những người Tin Lành, và được nhiều người coi là đương nhiên. Nó thích đáng ở một điểm, bởi vì nó luôn giữ ý tưởng về thần tánh của Chúa Cứu Thế. Nhưng ở những mặt khác thì nó suy yếu. Trong suốt nhiều năm, tôi đã giữ theo lý luận này, dầu phải cố gắng để áp dụng nó vào Mac Mc 13:32. Từ quan điểm đó chúng ta sẽ phải hiểu rằng Chúa Giê-xu thật sự muốn nói với các môn đồ: “Nói theo cách loài người, ta cũng không biết khi nào ngày cuối cùng sẽ đến.” Sự giả định ở đây là nếu như vào thời điểm đó Ngài quyết định phán với tư cách là Đức Chúa Trời, thì Ngài đã biết thời điểm và đã bảo cho họ biết trước rồi. Bản thân điều này nghe có vẻ đáng ngờ.
Hơn nữa, nếu Chúa Giê-xu đang phán với bản tánh của con người vào lúc ấy, thì làm sao Ngài bảo rằng các thiên sứ trên trời cũng không biết khi nào ngày cuối cùng sẽ đến? Con người chúng ta thật không có cách nào để hiểu được điều đó. Vì vậy, lý luận hai phương diện cho rằng Chúa Giê-xu thay đổi giữa thần tánh và nhân tánh thì thật khó hiểu. Dường như đối với tôi, nó không còn là một thần học thích đáng nữa.
THẦN HỌC NHẬP THỂ
Đối với tôi, một lý luận hợp lý hơn để hiểu được mối quan hệ giữa hai bản tánh của Chúa Giê-xu là điều mà tôi muốn đặt tên là thần học nhập thể. Cơ sở cho điều này là việc đọc cẩn thận một đoạn Kinh Thánh rất quen thuộc trong Phi Pl 2:1-30. Nó quan trọng đến nỗi tôi muốn trích dẫn ở đây:
Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có , Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời , song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi , lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người ; Ngài đã hiện ra như một người , tự hạ mình xuống , vâng phục cho đến chết , thậm chí chết trên cây thập tự (câu 5-8).
Trước hết, khúc Kinh Thánh này khẳng định rõ Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời 100 phần trăm. Là Đức Chúa Trời, Ngài có tất cả các thuộc tính của Chúa, giữa vòng đó là tính toàn tri. Ngài “bình đẳng với Đức Chúa Trời”.
Phần chính yếu của việc Chúa Giê-xu chấp nhận nhập thế và mang lấy hình ảnh loài người là việc Ngài bằng lòng để vâng phục suốt cuộc đời trên đất của mình .
Mặc dầu Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời, qua sự nhập thế Ngài đã trở thành bất bình đẳng với Đức Chúa Trời. Rõ ràng sau khi nhập thế Chúa Giê-xu đã khác trước. Như vậy, làm thế nào Ngài trở nên bất bình đẳng? Rõ ràng là không phải bằng cách từ bỏ thần tánh của Ngài, bởi vì Ngài luôn luôn là Đức Chúa Trời 100 phần trăm. Không, Chúa Giê-xu đã trở nên bất bình đẳng với Cha Ngài không phải bằng cách từ bỏ đi điều gì cả, mà bằng việc mang lấy điều mà Cha Ngài không có. Ngài đã nhận lấy hình hài con người “mang lấy hình tôi tớ, và trở nên giống như loài người.” Từ lúc đó trở đi, Chúa Giê-xu khác hơn cả Cha Ngài lẫn Đức Thánh Linh, bởi vì họ chỉ có một bản tánh. Còn Chúa Giê-xu có hai bản tánh.
Phần chính yếu của việc Chúa Giê-xu chấp nhận nhập thế và mang lấy hình ảnh loài người là việc Ngài bằng lòng để vâng lời suốt cuộc đời trên đất của mình. Ngài “đã vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.”
Việc hiểu được Chúa Giê-xu qua sự nhập thế của Ngài với tư cách một tôi tớ vâng lời, là điều quan trọng để hiểu được những sự năng động của chức vụ Ngài trên đất này. Tính chất sự vâng lời của Ngài là gì? Vì một điều, đó là sự tự nguyện. Không điều gì buộc Chúa Giê-xu phải làm như vậy. Vì một điều nữa, đó là sự tạm thời. Giai đoạn này sẽ kết thúc khi Ngài chịu chết. Hơn nữa, qua giao kèo của sự vâng lời với Đức Chúa Cha, Chúa Giê-xu đồng ý đình chỉ các thuộc tánh thiên thượng của Ngài trong suốt thời gian thi hành chức vụ trên đất. Hãy lưu ý tôi không bảo rằng Ngài đã ngưng sở hữu các thuộc tính Thiên Thượng. Nhưng mặc dầu vậy Ngài vẫn có các thuộc tính đó, Ngài chỉ tự nguyện bằng lòng không sử dụng chúng.
Nếu lý luận trên là đúng, thì chúng ta có một bí quyết về mặt thần học: Bản tánh duy nhất Chúa Giê-xu sử dụng khi Ngài đang ở trên đất là nhân tánh của Ngài .
Tôi biết rõ rằng điều này nghe có vẻ lạ lùng đối với nhiều người Tin Lành, bởi vì điều này quá khác so với lý luận hai phương diện bình thường. Tôi không bao giờ quên rằng trong kỳ thi phong chức của tôi cách đây hơn 30 năm, tôi tình cờ đề cập đến điều đó mà không nhận biết rằng nó sẽ gây sửng sốt cho một số người trong ủy ban của tôi. Cuối cùng, họ cũng đã bỏ phiếu để phong chức cho tôi, nhưng đó chỉ là một con đường thoát hiểm nhỏ hẹp, và sự phong chức phụ thuộc vào lời hứa của tôi phải thực hiện một số việc để đọc biết thêm về mối liên hệ giữa hai bản tánh của Chúa Cứu Thế. Tôi đã giữ lời hứa của mình, nhưng kết quả cuối cùng là tôi vẫn tiếp tục giữ các ý kiến ban đầu của mình. Dầu vậy, qua năm tháng, tôi thấy chỗ đứng của mình là một chỗ hết sức cô đơn.
Gần đây hơn, tôi đã hết sức vui mừng khi phát hiện một sự hậu thuẫn mạnh mẽ cho ý tưởng này từ một trong những nhà thần học có hệ thống được tôn trọng nhất ngày nay, đồng nghiệp của tôi là Colin Brown thuộc Trường Thần Học Fuller. Trong tác phẩm của ông That You May Believe, ông đã dành toàn bộ Phần II để nói về “Những Câu Chuyện về Phép Lạ Cho Chúng Ta Biết Gì về Chúa Giê-xu?” Ông gọi quan điểm của ông là một “Cứu thế luận Thuộc linh” (Spirit Christology). Với lối giải thích đầy đủ am tường, ông bác bỏ luận thuyết hai phương diện “đã kết hợp bởi những cách biện giải theo truyền thống về Chúa Giê-xu là Con thánh của Đức Chúa Trời, làm các phép lạ trong chính quyền hạn của Ngài như vốn có.” Ông Brown nói rằng: “Các phép lạ của Chúa Giê-xu được ban cho ở một nơi nổi bật, nhưng chúng không được quy cho Chúa Giê-xu với tư cách Ngôi Hai trong Ba ngôi Đức Chúa Trời. Chúng không được trình bày như là sự bày tỏ của thần tánh cá nhân Ngài.” 3 Tôi nhiệt liệt giới thiệu tác phẩm của Brown cho những người nào muốn tìm hiểu sâu xa hơn.
Chúa Giê-xu với tư cách Ađam Thứ Nhì
Để giúp làm rõ bức tranh hơn, tôi xin trình bày chi tiết bằng cách trước hết xem xét ý nghĩa của việc Chúa Giê-xu là Ađam thứ hai, và sau đó nhìn xem điều mà chính Chúa Giê-xu đã phán về điều đó.
Khi Ađam ở trong vườn Êđen, ông có quyền để ăn trái cấm bất cứ lúc nào. Nhưng ông đã bước vào một giao kèo của sự vâng lời với Đức Chúa Trời rằng ông sẽ không sử dụng quyền hạn này mà ăn trái cây đó. Một phương tiện quan trọng để duy trì mối tương giao mật thiết giữa Ađam với Đức Chúa Trời là sự vâng lời của ông. Điều tương tự cũng giống như vậy với Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu có quyền sử dụng các thuộc tánh thiên thượng của Ngài bất cứ lúc nào trong thời gian chức vụ trên đất, nhưng bao lâu Ngài còn vâng lời Đức Chúa Cha, thì Ngài không thể sử dụng các thuộc tính ấy.
Sứ đồ Phaolô đã nhắc đến Chúa Giê-xu như là Ađam cuối cùng. Ông nói: “Người thứ nhất bởi đất mà ra, là thuộc về đất, người thứ hai bởi trời mà ra” (ICo1Cr 15:47). Điều đó hàm ý gì?
Một hàm ý đó là cả Ađam lẫn Chúa Giê-xu đều đã được dựng nên, hay là đã từ ban đầu mà có chứ không phải như tất cả chúng ta là từ những con người có trước mình. Những chi tiết về việc dựng nên Ađam được tiết lộ rất rõ ràng. Tuy nhiên, chúng ta không có cùng các chi tiết như vậy về sự tạo dựng Chúa Giê-xu ngoại trừ việc chúng ta được biết là Ngài không có cha trên đất.
Chúng ta những người Tin Lành đã quen chấp nhận sự kiện Chúa Giê-xu không có mối quan hệ di truyền với Giôsép. Ngài đã được thai dựng, không phải bởi tinh trùng, mà là bởi Thánh Linh. Vượt trên điều đó, mặc dầu chúng ta không thường nghĩ đến, có thể lắm Ngài cũng được thai dựng mà không cần trứng của con người. Nếu vậy, Ngài cũng không có mối quan hệ di truyền với Mari.
Mari có thể lắm đã phục vụ chủ yếu như một chiếc lồng ấp Con Người, cung cấp tử cung, nhau thai, các chất hoóc môn và dinh dưỡng cho Chúa Giê-xu trước khi ra đời, cũng giống như bà đã cung cấp sữa để nuôi Ngài sau khi được sinh ra. Nhưng liệu chúng ta có thể chấp nhận khả năng cho rằng Chúa Giê-xu cũng không có mối quan hệ di truyền nào với những con người trước Ngài cũng như Ađam không? Nếu có, sẽ ích lợi cho việc làm rõ lý do vì sao Chúa Giê-xu có thể được gọi là Ađam thứ hai.
Điều này cũng có thể cho chúng ta một manh mối đối với một sự giống nhau nữa giữa Giê-xu và Ađam, ấy là Chúa Giê-xu cũng không nhiễm nguyên tội. Các nhà thần học đã thừa nhận rằng nguyên tội được truyền theo di truyền từ đời này sang đời kia. Dầu phải thừa nhận đây là một điểm nhỏ, nhưng nếu Chúa Giê-xu không có mối quan hệ di truyền với cả Mari vẫn Giôsép, điều này giúp chúng ta hiểu làm thế nào điều đó có thể được. Chúa Giê-xu hẳn muốn ám chỉ đến quá khứ không di truyền của Ngài bằng cách chỉ cho những người Pharisi hiểu rằng Ngài không thể là con trai của Đavít, bởi vì Đavít đã gọi Ngài là Chúa (xem Mat Mt 22:41-46).
Tất nhiên, mặc dầu có thể Chúa Giê-xu và Ađam đều không có những ràng buộc về mặt di truyền với loài người trong quá khứ, dầu vậy cả hai không giống nhau. Ađam ng từ bụi đất - ông chỉ có một bản tánh, bản tánh loài người. Chúa Giê-xu đến từ trời - Ngài có bản tánh thiên thượng cũng như bản tánh con người (xem ICo1Cr 15:47).
Sự Cám Dỗ
Một hàm ý quan trọng hơn nữa về việc Chúa Giê-xu là Ađam thứ hai trong vấn đề mà tôi đang làm rõ trong chương này có liên quan đến những cám dỗ của cả hai. Tôi đã đề cập ở trước rằng cả Ađam và Chúa Giê-xu đều đã bước vào các giao kèo về sự vâng lời với Đức Chúa Cha. Khi Satan cám dỗ họ, sự vâng lời là điểm yếu mà nó tấn công mạnh mẽ trong cả hai trường hợp. Đối với Ađam, điểm yếu chính là trái cây cấm. Còn đối với Chúa Giê-xu, đó là việc Ngài sử dụng các thuộc tính thiên thượng.
Tôi biết một số người sẽ không đồng ý, nhưng tôi vẫn tin rằng sự cám dỗ của Chúa Giê-xu thật sự nghiêm túc. Nói cách khác, Chúa Giê-xu đã có thể phạm tội. Nếu Ngài không thể phạm tội, thì theo tôi, toàn bộ sự việc chẳng khác gì một trò đùa lố bịch. Vậy Ngài có thể phạm tội bằng cách nào? Ngài có thể phá vỡ giao kèo vâng lời với Đức Chúa Cha bằng cách sử dụng các thuộc tính thiên thượng của mình.
Satan dường như biết rất rõ điều này, bởi vì cả ba lần cám dỗ của Chúa Giê-xu đều đụng đến chính điểm sử dụng các thuộc tính thiên thượng của Ngài. Chúa Giê-xu có thể biến đá thành bánh chỉ bằng cách sử dụng thuộc tánh toàn năng thiên thượng của Ngài. Ngài có thể gọi các thiên sứ đến cứu Ngài nếu Ngài nhảy xuống từ nóc Đền Thờ, bởi vì Ngài chính là Đức Chúa Trời và là người đứng đầu các đội quân thiên sứ. Ngài có thể nắm quyền trên các nước của thế gian nếu Ngài muốn thậm chí không phải thờ lạy Satan, bởi vì Ngài vốn là Vua của các vua và Chúa của các chúa. Nhưng Ngài không làm một điều nào kể trên, bởi vì bất cứ điều nào cũng làm gãy đổ giao kèo vâng lời mà Chúa Giê-xu đã lập với Cha Ngài như là một phần trong sự nhập thể của Ngài. Khi Chúa Giê-xu đã chống lại những cám dỗ này một cách đắc thắng, sự thất bại của kẻ thù đã bắt đầu một cách nghiêm túc.
Điều này nhắc nhở tôi một điều về người bạn của tôi là Edward Murphy, phó chủ tịch Các Chiến Dịch Truyền Giáo Hải Ngoại, một lần đã nói với tôi. Murphy, người mà tình cờ dạy ở tại trường đại học Biolas trong nhiều năm, có ơn đuổi quỷ, và ông đã được Đức Chúa Trời sử dụng rất lớn lao trong chức vụ giải phóng những người bị quỷ ám. Sự dạy dỗ của ông về chiến trận thuộc linh là điều tốt nhất mà tôi từng được nghe. Một lần nọ ông tham gia vào một cuộc đối thoại sống động đặc biệt với một tà linh khôn ngoan lạ thường, là kẻ không muốn lìa con người đó. Ed nói rằng: “Ngươi có biết rằng chủ của ta đã đánh bại chủ ngươi chăng?” Con quỷ đã phải thú nhận điều đó là sự thật. Sau khi chế nhạo con quỷ này một chút (ông thừa nhận là có thể không bao giờ nên làm điều đó), Ed nói: “Chủ của ta đánh bại chủ ngươi ở đâu?” Ông tưởng rằng nó sẽ trả lời là ở tại Gôgôtha. Thay vào đó trước sự ngạc nhiên của Murphy, con quỷ nói: “Ở lần cám dỗ trong đồng vắng”.
Bởi vì Chúa Giê-xu đã từng trải đời sống qua nhân tánh của Ngài , không ngạc nhiên khi Ngài kinh nghiệm cuộc đời cũng giống như chúng ta , ngoại trừ việc Ngài không phạm tội .
Tôi không tin rằng ma quỷ có những tuyên bố đáng tin cậy về mặt thần học, nhưng ít ra thì điều này cũng khá là thú vị.
Satan đã thử một lần chót ở tại vườn Ghếtsêmanê. Nó đã tấn công vào cùng một điểm, lần này là giây phút yếu đuối đặc biệt. Chúa Giê-xu hẳn đã làm hầu như mọi điều để tránh bị đóng đinh; mọi điều, có nghĩa là ngoại trừ việc phá hỏng giao kèo vâng lời với Đức Chúa Cha. Một lần nữa, Ngài đã có thể gọi một quân đoàn thiên sứ để quét sạch đạo quân Lamã, nhưng nếu Ngài làm như vậy, kế hoạch cứu rỗi sẽ bị chấm dứt, nước Đức Chúa Trời sẽ bị rút về, và Satan sẽ vẫn nắm quyền cai trị.
Nguồn Quyền Năng của Chúa Giê-xu
Chúng ta không cần phải nỗ lực giảng giải những lời tuyên bố như HeDt 4:15 rằng Chúa Giê-xu đã “chịu cám dỗ trong mọi sự cũng như chúng ta, nhưng không phạm tội.” Bởi vì Chúa Giê-xu đã từng trải đời sống qua bản tánh loài người của Ngài, nên không có gì ngạc nhiên rằng Ngài đã từng trải cuộc đời cũng giống như chúng ta, ngoại trừ việc Ngài không phạm tội. Ngài biết cách để vâng lời Đức Chúa Cha tốt hơn chúng ta.
Nhưng điều này cũng dẫn chúng ta đến chỗ hiểu rõ hơn cách Chúa Giê-xu thi hành các phép lạ, chữa lành kẻ bệnh và đuổi các quỷ. Về mặt tiêu cực, chúng ta biết chắc rằng điều này không được thực hiện qua các thuộc tánh thiên thượng của Ngài. Về mặt tích cực, chúng ta hiểu rằng toàn bộ chức vụ siêu nhiên của Chúa Giê-xu đã được thực hiện, không phải bởi chính mình Ngài, mà là bởi quyền phép của Thánh Linh. Không phải tự Ngài có thể làm được các phép lạ. Rốt cuộc, Ngài đã là Đức Chúa Trời. Nhưng vì cớ sự vâng lời tình nguyện của mình, Ngài đã từ chối làm điều đó, thậm chí khi bị thách thức trực tiếp bởi đối thủ chính của Ngài.
Sứ đồ Phierơ đã biết điều đó, và ông đã giải thích điều đó khi ông rao giảng trong nhà của Cọtnây. Ông đã thuật lại thể nào Chúa Giê-xu “đã đi từ nơi nọ qua chỗ kia, làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỷ ức hiếp.” Nhưng có phải Ngài đã tự mình làm điều đó không? Không, Ngài đã làm được điều đó chỉ vì “Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Giê-xu ở Naxarét bằng Thánh Linh và quyền phép” (xem Cong Cv 10:38). Việc xức dầu hàm ý rằng có điều gì đó ở bên ngoài chính mình Ngài đã được ban cho Ngài. Nhưng nếu Ngài vận hành bởi các thuộc tính thiên thượng của Ngài, thì Ngài đã chẳng nhận lấy từ bên ngoài chính mình, bởi vì Đức Chúa Trời là mọi sự trong mọi sự.
Chúa Giê-xu đã phải nói gì về điều này? Rất nhiều. Thoạt đầu, Ngài đã nói: “Con chẳng tự mình làm nổi việc gì nhưng làm điều Con thấy Cha làm” (GiGa 5:19). Chúa Giê-xu luôn luôn lệ thuộc vào Cha Ngài.
Bạn có bao giờ suy nghĩ Chúa Giê-xu giống như thế nào khi Ngài lớn lên không? Có lẽ Ngài đã khóc khi Ngài đói, cũng giống như tất cả các em bé mà chúng ta biết. Và Ngài cũng cần phải được tập luyện để bỏ mang tả. Tôi hát lời này, nhưng không tin vào câu hát Giáng sinh đó là “Hài nhi Giê-xu không tiếng oe oe nằm tự nhiên khoan khoái.” Ngài đã phải học đi học lại nhiều lần mới nói được tiếng Aram. Ngài không thể hiểu được một từ của tiếng Trung Hoa hoặc ngôn ngữ Aztec, bởi vì Ngài chẳng bao giờ học các thứ tiếng đó cả. Tôi hình dung cha mẹ Ngài đã nhiều lần cũng phải mắng Ngài. Có lẽ Ngài cũng đã sai phạm trong thời gian tập việc ở tại xưởng mộc và cần phải được cha mình là Giôsép sửa dạy. Ngài đã bị khó tiêu khi ăn phải thức ăn xấu hoặc ăn quá nhiều vào những ngày lễ. Thật vậy, dân chúng trong quê hương Naxarét của Ngài đã nghĩ Ngài chỉ là một cậu bé Do Thái bình thường cho nên họ mới cho rằng việc Chúa Giê-xu là Đấng Mêsi chẳng có ý nghĩa gì đối với họ cả.
Nhưng mặc dầu Ngài có thể giống các cậu bé khác trạc tuổi, nhưng Ngài cũng không giống chúng trong cách Ngài hoàn toàn vâng phục Cha Ngài. Câu chuyện đầu tiên không bình thường mà chúng ta được biết đó là khi Ngài đã ở lại tại đền thờ Giêrusalem để đối đáp với các giáo sư Do Thái. Bạn còn nhớ điều Ngài nói với cha mẹ để giải thích không? “Cha mẹ há không biết tôi phải lo việc Cha tôi sao?” (LuLc 2:49). Mari và Giôsép dường như đã không hiểu. Nhưng chúng ta thì hiểu, bởi vì chúng ta đã có GiGa 5:19 giải thích rằng Con chỉ làm “điều chi con thấy Cha làm.”
Chúng ta có thể nghĩ rằng sự vâng lời của Chúa Giê-xu là điều tự động. Điều đó sẽ đúng nếu như Ngài sử dụng các thuộc tánh thiên thượng, nhưng không phải vậy. Bởi vì Ngài đang hoạt động với tư cách một con người 100 phần trăm, Ngài đã phải học tập để vâng lời, chính xác là điều HeDt 5:8 đã nói: “dầu Ngài là Con, cũng đã chịu học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu.” Chúng ta đoán chừng là khi năm tháng trôi đi, Ngài ngày càng vâng phục Đức Chúa Cha hơn nữa.
Khi Chúa Giê-xu đuổi quỷ, không phải bằng chính sức mạnh của Ngài. Ngài đã phán rằng: “Ta cậy ngón tay Đức Chúa Trời mà trừ quỷ” (LuLc 11:20). Khi Ngài đoán xét, thì đoán xét bằng thẩm quyền mà Cha Ngài đã giao cho Ngài. Ngài phán: “Cha cũng chẳng xét đoán ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán xét cho Con” (GiGa 5:22). Và sau đó Ngài phán: “Ta không thể tự mình làm nổi việc gì; ta xét đoán theo điều ta nghe” (câu 30). Sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu đến từ đâu? “Vậy, những điều ta nói, thì nói theo như Cha ta đã dặn” (12:50). Không ai có quyền lấy đi sự sống của Chúa Giê-xu mà không có sự đồng ý của cá nhân Ngài. Ngài đã phán: “Ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại,” qua câu nói này có phải Ngài ám chỉ là Ngài thừa hưởng quyền phép thiên thượng không? Không, bởi vì Ngài đã giải thích: “Ta đã lãnh mạng lệnh này nơi Cha ta” (10:18).
Trong mọi điều này, Chúa Giê-xu đã làm một số điều mà một con người khác không có quyền hợp pháp để làm: Ngài đã chấp nhận sự thờ phượng của những người khác. Ngài có thể làm điều đó bởi vì, dầu mọi sự, Ngài vẫn không bao giờ thôi là Đức Chúa Trời 100 phần trăm. Những nhà thông thái đã đến để thờ phượng Ngài (xem Mat Mt 2:2). Một người mù được Chúa chữa lành đã thờ phượng Ngài (xem GiGa 9:38). Một người bị quỷ ám đã thờ phượng Ngài ngay trước khi các quỷ bị đuổi ra (xem Mac Mc 5:6). Bởi vì Ngài luôn luôn có bản tánh của Đức Chúa Trời, nên Chúa Giê-xu đã không phải trả lời như Phierơ khi Cọtnây sấp mình xuống và thờ lạy ông: “Ngươi hãy đứng dậy, chính ta cũng chỉ là người mà thôi” (Cong Cv 10:26). Không giống như Chúa Giê-xu, Phierơ chỉ có một bản tánh, bản tánh loài người.
Cuối Cùng của sự Vâng Lời
Giao kèo của Chúa Giê-xu về sự vâng lời không tồn tại mãi mãi. Như chúng ta đã thấy trong Phi Pl 2:8, Ngài “đã vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.” Nhiều người không hiểu rằng Chúa Giê-xu hoạt động bởi nhân tánh của Ngài nên đã không hiểu được tiếng kêu thống thiết của Ngài trên thập tự giá: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mat Mt 27:46). Nhưng điều này thật có ý nghĩa nếu chúng ta biết rằng vào thời điểm đặc biệt đó, Đức Chúa Cha đã chọn để không mặc khải cho Chúa Giê-xu chính xác lý do vì sao điều đó xảy ra, và câu hỏi của Chúa Giê-xu là phản ứng của một con người bình thường.
Khi Chúa Giê-xu nói: “Lạy Cha, Con giao linh hồn Con trong tay Cha” (LuLc 23:46), giao kèo vâng lời đã chấm dứt. Như vậy, Ngài bắt đầu sử dụng lại thần tánh của Ngài.
Một bằng chứng chúng ta tìm được để hiểu rằng một sự thay đổi đã xảy ra vào lúc ấy sau khi Chúa Giê-xu sống lại, đó là khi Ngài đang rao bảo sự dạy dỗ cuối cùng cho các môn đồ. Họ đã hỏi Ngài: “Lạy Chúa, có phải trong lúc này Chúa sẽ lập lại nước Ysơraên chăng?” (Cong Cv 1:6). Câu hỏi này cũng tương tự như câu hỏi đã dấy lên rắc rối trong Mac Mc 13:32. Vào lúc ấy, trước khi chịu chết, Chúa Giê-xu không biết câu trả lời, và Ngài đã nói như vậy. Nhưng lần này, sau khi phục sinh, Ngài đã biết bởi vì Ngài đang sử dụng các thuộc tính của Đức Chúa Trời. Vì vậy, Ngài đã phán rằng: “Kỳ hạn và ngày giờ mà Cha ta đã tự quyền định lấy, ấy là việc các ngươi chẳng nên biết” (Cong Cv 1:7).
LÀM CÁC CÔNG VIỆC CỦA CHA
Một khi chúng ta hiểu được rằng, Chúa Giê-xu, trong suốt chức vụ trên đất của Ngài, đã không làm các công việc của riêng mình, mà làm các công việc của Cha Ngài, thì những khả năng lớn lao của chức vụ được mở ra cho chúng ta. Như tôi đã đề cập ở đầu chương này, Chúa Giê-xu đã hứa với những môn đồ Ngài rằng họ sẽ làm những công việc như Ngài đã làm và thậm chí những việc lớn hơn nữa.
Lời hứa ấy cũng dành cho chúng ta nữa, bởi vì “Đức Chúa Giê-xu Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi” (HeDt 13:8). Chúng ta nhận được quyền năng để làm những công việc của Cha qua Đức Thánh Linh.
Điều đã xảy ra cho Chúa Giê-xu cũng có thể xảy đến với chúng ta. Trong chương vừa rồi, tôi đã đề cập đến cách Chúa Giê-xu đã công bố chương trình của Ngài ở tại nhà hội Naxarét lúc bắt đầu chức vụ bằng cách liệt kê một số những dấu hiệu của nước Trời. Tuy nhiên, Ngài đã mở đầu những lời lưu ý ấy bằng một lời tuyên bố hết sức ý nghĩa về mối liên hệ của Ngài với Đức Thánh Linh. Ngài đã nhắc đến ba điều: (1) Đức Thánh Linh “ngự trên Ta” - có nghĩa là Chúa Giê-xu đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh; (2) Đức Thánh Linh “đã xức cho Ta” - có nghĩa là Ngài được ban quyền năng bởi Đức Thánh Linh; (3) Đức Thánh Linh “đã sai Ta” - có nghĩa là Đức Chúa Giê-xu đã được Đức Thánh Linh ủy thác (xem LuLc 4:18, 19). Bởi cùng một Đức Thánh Linh ấy, chúng ta có thể được đổ đầy, được ban quyền phép, và được ủy thác để làm các công việc của Đức Chúa Cha.
Dường như bất cứ khi nào lời gợi ý về việc làm các công việc như Chúa Giê-xu đã làm được nêu lên, thì những người có khuynh hướng hoài nghi hơn đều biện luận chống lại điều đó bằng cách tỏ rõ rằng không một ai họ biết, trong phong trào Ngũ tuần hoặc ân tứ hoặc bên ngoài những người ấy, chữa lành người đau, đuổi các quỷ hoặc làm các phép lạ một cách thường xuyên như Chúa Giê-xu đã làm. Điều này đúng, và cũng có thể hiểu được. Mặc dầu chúng ta được tiếp cận với cùng một quyền năng Chúa Giê-xu đã có, chúng ta không phải là Chúa Giê-xu. Ngài có đến hai sự thuận lợi mà chúng ta không có; đó là, Ngài không mắc nguyên tội và Ngài cũng không có kỷ tội. Vì vậy, kết quả là Ngài hưởng được ba lợi ích mà không một người nào khác có được:
1. Chúa Giê-xu có một đường dẫn hoàn toàn mở rộng và không bị hạn chế đến với Đức Chúa Cha. Ngài không bao giờ tìm thấy một sự cản trở nào trong sự cầu nguyện, vì vậy Ngài luôn biết chính xác điều Cha Ngài đang làm.
2. Chúa Giê-xu đặt đức tin hoàn toàn trong quyền năng của Đức Thánh Linh để làm các công việc của Đức Chúa Cha qua Ngài. Ngài phán rằng Đức Chúa Trời ban cho Ngài Đức Thánh Linh cách không chừng mực (xem GiGa 3:34). Ngài luôn được đầy dẫy Thánh Linh hoàn toàn và vào mọi lúc.
3. Chúa Giê-xu không bao giờ bị dao động để rời khỏi sự vâng phục hoàn toàn đối với Đức Chúa Cha. Chúng ta có thể đã trượt ngã, nhưng Ngài thì không.
Mặc dầu những phẩm tính ấy đã khiến Chúa Giê-xu vượt trội hơn bất cứ con người nào khác, nhưng chúng cũng cho chúng ta bằng chứng về cách chúng ta có thể nhìn thấy những quyền phép lớn hơn trong chính chức vụ của mình. Chúng ta cần phải phát triển đời sống cầu nguyện của chính chúng ta bằng cách cầu nguyện dài hơn với sức mạnh và sự kiêng ăn nhiều hơn. Chúng ta cần phải cải thiện chất lượng đức tin của chúng ta bằng cách cởi mở đối với sự đổ đầy của Đức Thánh Linh. Và chúng ta cần phải vâng lời Chúa một cách kiên trì nhất quán hơn nữa. Điều này bao gồm việc sống một đời sống thánh khiết và tin kính theo như các tiêu chuẩn của Kinh Thánh, học tập để ngày càng nhanh nhạy trong việc hiểu biết điều Cha đang làm. Nếu chúng ta thành công, lời cầu nguyện của chúng ta sẽ mau chóng được nghe hơn, bởi vì “Nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin bất kỳ việc gì, thì Ngài nghe chúng ta” (IGi1Ga 5:14).
Không ai sẽ theo kịp Chúa Giê-xu trong tính hiệu quả của các công việc Ngài về các phép lạ cũng như bằng Ngài trong tình yêu thương của Ngài. Nhưng mặc dầu sự tăng trưởng và trưởng thành Cơ Đốc không hàm ý rằng chúng ta sẽ trở thành những người trọn vẹn, nhưng chúng thật sự hàm ý rằng chúng ta có thể tiến xa hơn trong tương lai, hơn mức độ hiện nay của chúng ta. Chúng ta có thể yêu thương hơn và chữa lành nhiều hơn.
Trong một mẫu đối thoại với một người bạn không tin rằng ân tứ chữa lành vẫn còn đến ngày nay, tôi lưu ý sự thật là tôi nghĩ mình có ân tứ ấy. Điều này khiến anh khó chịu vì vậy anh ta nói: “Được rồi, nếu anh có ân tứ chữa lành, vì sao anh không đi xuống Bệnh Viện Huntington để mà dọn sạch bệnh việc ấy đi?” Câu trả lời của tôi là tôi sẽ làm nếu tôi thấy Đức Chúa Cha làm điều đó. Còn nếu không đó sẽ là một việc ngu ngốc, bởi vì khi tôi chữa bệnh, tôi không làm công việc của tôi mà làm công việc của Đức Chúa Cha.
Tôi tin rằng Chúa Giê-xu cũng làm việc trên một nguyên tắc tương tự. Điều gần nhất với một bệnh viện mà chúng ta đọc thấy trong các sách Phúc Âm là ao Bêtếtđa. Khi Chúa Giê-xu đi đến đó, Ngài đã không chữa lành cho tất cả những người nhóm lại xung quanh ao, mà chỉ chữa lành cho một người. Vì sao chỉ có một người? Làm thế nào Ngài biết ai là người Ngài chọn? Rõ ràng bởi vì đó là tất cả những gì Cha muốn Ngài làm vào thời điểm ấy, và Chúa Giê-xu chỉ làm điều Ngài đã thấy Cha Ngài làm.
CHÚA GIÊXU ĐÃ CHUYỂN GIAO QUYỀN PHÉP NHƯ THẾ NÀO
Không một tác giả Phúc Âm nào cẩn thận hơn là Giăng trong việc giải thích thể nào quyền năng của Chúa Giê-xu trong việc khai trương nước Trời được chuyển giao cho những người sẽ làm đại diện cho sự mở rộng nước Trời sau khi Ngài chịu chết. Hầu như một phần tư sách Phúc Âm này (đoạn 13-17) bàn đến việc Ngài dạy dỗ mở rộng về đề tài này. Chính vì lý do đó mà phần lớn những khúc Kinh Thánh được trích dẫn trong chương này đều trích từ sách Phúc Âm Giăng. Tôi xin tóm tắt các ý tưởng của mình về việc chuyển giao quyền hành bằng cách lần theo sự huấn luyện tư tưởng của Chúa Giê-xu qua khúc Kinh Thánh quan trọng này.
Trong đoạn 13, Chúa Giê-xu chuẩn bị các môn đệ Ngài cho chấn thương của sự chuyển tiếp. Mối quan tâm chính của Ngài là các môn đồ Ngài sẽ hiểu càng rõ càng tốt loại chức vụ mà họ sẽ có sau khi Ngài chịu đóng đinh. Họ đã ở với Ngài suốt ba năm và bây giờ không dễ cho họ để tiếp tục làm chức vụ mà không có sự hiện diện thuộc thể của Ngài. Ngài rửa chân cho họ và giải thích cho họ biết lý do vì sao, là những người lãnh đạo, trước hết họ phải làm tôi tớ. Ngài báo cho họ một tin gây kinh động rằng Ngài sắp đi xa, Ngài phán: “Nơi ta đi các ngươi không thể đến được” (GiGa 13:33).
Trong đoạn 14 (việc phân chia các đoạn này chỉ tương đối, chứ không chính xác) Chúa Giê-xu dạy các môn đồ Ngài rằng nguồn sức mạnh của chức vụ tương lai thuộc về Đức Chúa Cha. Ngài giải thích với họ rằng mối liên hệ giữa họ với Ngài kéo theo mối quan hệ với Đức Chúa Cha. Ngài phán: “Ví bằng các ngươi biết ta thì cũng biết Cha ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy Ngài” (14:7). Việc Chúa Giê-xu ra đi sẽ không gây bất ổn cho mối quan hệ giữa họ với Đức Chúa Cha. Và họ có thể trông đợi được ở trong nhà Cha Ngài với nhiều chỗ ở. Ngài phán với họ điều đó bởi vì uy quyền và quyền phép của chính Chúa Giê-xu đã đến từ Đức Chúa Cha, quyền phép của họ cũng vậy, sẽ đến từ Cha, vì vậy họ sẽ làm được những công việc như Ngài đã làm, thậm chí những việc lớn hơn nữa.
Trong đoạn 15, chúng ta thấy rằng Chúa Giê-xu là người điều khiển quyền năng đó. Ngài là gốc nho và nếu các môn đồ cứ ở trong Ngài thì họ sẽ được kết nhiều quả. Ngài nhấn mạnh việc họ phải giữ các mạng lệnh của Ngài, Ngài nhắc nhở họ rằng họ không chọn Ngài, nhưng Ngài đã chọn họ. Và sau đó Ngài cảnh cáo họ rằng cũng như Chúa Giê-xu đã chịu khổ, họ cũng phải chịu khổ khi hầu việc Ngài bởi vì tôi tớ không lớn hơn chủ.
Trong đoạn 16, Chúa Giê-xu dạy họ rằng ống dẫn quyền phép đến từ Đức Chúa Cha chính là Đức Thánh Linh. Vì vậy, Chúa Giê-xu phán bảo họ rằng: “Ta đi là ích lợi cho các ngươi” (câu 7), vì chỉ khi ấy Đức Thánh Linh mới đến. Ngài là Đấng Yên Ủi, Ngài sẽ cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công bình và về sự đoán xét. Ngài sẽ chỉ dẫn họ vào mọi lẽ thật và Ngài sẽ tôn vinh Chúa Giê-xu. Ngài sẽ thay mặt Đức Chúa Con mà hành động: “Ngài sẽ lấy đều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi” (câu 14).
Cuối cùng, trong đoạn 17, Chúa Giê-xu kết thúc bằng lời cầu nguyện. Ngài cầu nguyện cho chính mình, Ngài cầu nguyện cho các môn đồ, và Ngài cầu nguyện cho hết thảy những kẻ tin.
Quyền phép mà Chúa Giê-xu chuyển giao cho các môn đồ Ngài đã không đến cho đến ngày lễ Ngũ tuần. Nhưng khi quyền phép đến thì nó ở lại và cung cấp nền tảng cho chức vụ mà làn sóng thứ ba ủng hộ: làm các công việc của Đức Chúa Cha bằng quyền phép của Đức Thánh Linh như Chúa Giê-xu đã làm.
Ghi chú
1. Ray Stedman, Acts 1-12: Birth of the Body (Ventura, CA: Regal Books, Div. Of Gospel Light Publications, 1974), p. 106.
2. Michael Harper, The Healings of Jesus (Downers Grove, IL: 1986), p. 124.
3. Colin Brown, That You May Believe: Miracles and Faith Then and Now (Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans Pub. Co., 1985), p. 97. Another supporter of this viewpoint is Thomas A. Small in Reflected Glory: The Spirit in Christ and in Christmas (London: Hodder and Stoughton, 1975). Ở trang 70 ông nói: “ Từ trước đến nay, vẫn có một khuynh hướng trong giới những người Tin lành, không phải không có nguồn gốc từ Calvin, phân chia các thuộc tính của Chúa Cứu Thế giữa thần tánh với nhân tánh của Ngài, khiến cho quyền phép để làm các phép lạ và dấu kỳ của Ngài được xem như quyền phép của thần tánh vô song của Ngài. Kết quả thật rõ ràng; nếu các phép lạ của Ngài chẳng liên quan đến nhân tính của Ngài, nếu quyền phép Đức Chúa Trời không được truyền dẫn qua con người mang nhân tánh của Ngài như một sự ban cho của ân tứ, thì rõ ràng là quyền phép cũng chẳng có liên hệ gì với con người của chúng ta. . .Với loại thần học về Chúa Giê xu như vậy, tất cả những loại phân phát các ân tứ của Thánh linh theo định kỳ đều rất tự nhiên.”



Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 06:55 PM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách