† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2193|Trả lời: 0

Chức Vụ Chữa Lành - QUEN THUỘC VỚI QUYỀN PHÉP

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 5-11-2011 08:19:52 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Chức Vụ Chữa Lành
Tác giả: C. Peter Wagner

QUEN THUỘC VỚI QUYỀN PHÉP

Chúa Giê-xu đã đến để đưa nước Trời vào thế gian. Ngài đã kêu gọi các môn đồ huấn luyện họ và hứa rằng họ sẽ có được cùng một quyền phép đã hành động qua Ngài trong suốt chức vụ của Ngài. Ngay trước khi lìa họ vì cớ ích lợi cho họ, Ngài đã phán: “Hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao” (LuLc 24:49).
SỰ ỦY THÁC LỚN
Vì sứ mạng này mà các môn đồ phải nhận lãnh quyền phép của Đức Thánh Linh, đó là đem các ơn phước của nước Trời đến khắp đất. Đó là sự ủy thác trọng đại của Chúa Giê-xu. Lý do phải nhận lấy quyền phép thật rõ ràng: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về Ta tại thành Giêrusalem, cả xứ Giuđê, xứ Samari, cho đến cùng trái đất” (Cong Cv 1:8). Quyền phép từ Đức Chúa Trời phải được dùng để tập trung vào việc truyền giáo cho thế giới.
Trong Mác đoạn 16, Đại mạng lệnh và quyền phép cũng đi đôi với nhau. Chúa Giê-xu đã truyền cho các môn đồ Ngài “ Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người” (Mac Mc 16:15). Sau đó, Ngài nhắc đến những dấu kỳ sẽ cặp theo những kẻ tin: đuổi quỷ, nói tiếng mới, bắt rắn trong tay, uống chất độc cũng không bị hại, và chữa lành kẻ đau. Cũng giống như vậy trong Mathiơ Chúa Giê-xu phán: “Hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ ta” (Mat Mt 28:19) Ngài phán cùng họ rằng họ có thể làm được điều đó bởi vì “Hết thảy quyền phép trên trời và dưới đất đều đã giao cho Ta” (câu 18) “Và nầy ta thường ở cùng các ngươi luôn” (câu 20). Quyền phép để làm gì? Từ ngữ Hy lạp được dùng ở đây là exousia, cùng một từ được dịch là “quyền phép” trong 10:1 “Đức Chúa Giê-xu gọi mười hai môn đồ đến, ban quyền phép trừ tà ma, và chữa các thứ tật bệnh.”
Một phần của Đại Sứ mạng này bao gồm “việc dạy họ giữ mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi” (28:20). Các môn đồ không bao giờ quên lần đầu tiên Chúa Giê-xu đã sai họ ra đi một mình. Sứ điệp của họ là một sứ điệp của cả lời nói lẫn hành động. Họ phải “Rao giảng rằng: ‘Nước thiên đàng đã gần rồi.’” Và họ cũng phải chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung và trừ các quỷ” (10:7, 8). Nếu họ đã được ban cho quyền phép và được truyền dặn phải chữa lành người đau và trừ các quỷ, thì chức vụ ấy cũng phải được gộp vào trong những gì họ sẽ dạy dỗ những người khác, và họ đã dạy những người khác làm điều đó. Chúa Giê-xu đã chuyển giao quyền phép cho các môn đồ và họ phải chuyển giao lại cho những người khác.
SỰ TRUYỀN GIẢNG BẰNG QUYỀN PHÉP TRONG CÔNG VỤ CÁC SỨ ĐỒ VÀ CÁC THƯ TÍN
Chúng ta có bằng chứng gì cho thấy quyền phép của Chúa Giê-xu đã thật sự được chuyển giao cho các môn đồ Ngài? Sách Công vụ các Sứ đồ thuật lại câu chuyện của 30 năm sau đó, và hầu như mỗi một chương, ngoại trừ phần ký thuật dài về việc Phaolô bị bắt và bỏ tù, đều mô tả các dấu kỳ và các phép lạ cặp theo việc truyền giảng ở thế kỷ thứ nhất.
Khi quyền phép xuất hiện lần thứ nhất trong Công vụ các sứ đồ đoạn 2, Tin Lành đã được truyền thông ở tại Giêrusalem qua các ngôn ngữ địa phương của tất cả những người đã nhóm lại để dự lễ Ngũ tuần. “Vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các sứ đồ” (câu 43), và “mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội Thánh” (câu 47). Sau đó, Phierơ và Giăng đã chữa lành người què chân ở tại cửa đền thờ (xem Cong Cv 3:1-26). Không bao lâu sau, số những người nam tin Chúa là 5.000 người. Phierơ và Giăng đã cầu nguyện rằng họ sẽ nói Lời Chúa cách dạn dĩ và “nhờ danh đầy tớ thánh của Ngài là Đức Chúa Giê-xu, mà làm những phép chữa lành bệnh, phép lạ và dấu kỳ” (4:30).
Các sứ đồ đã làm chứng về Chúa Giê-xu “bằng quyền phép rất lớn” (câu 33). Quyền phép này đáng sợ như thế nào? Đáng sợ đủ để giết chết Anania và Saphira khi họ nói dối Đức Chúa Trời để đem lại sự sợ hãi lớn trên Hội Thánh vì đã chọc giận Đức Chúa Trời (xem 5:11). Dầu vậy, “số những người tin Chúa càng ngày càng thêm lên, nam nữ đều đông lắm” bởi vì “có nhiều phép lạ dấu kỳ được làm ra trong dân bởi tay các sứ đồ” (5:12-14).
Rồi đến Êtiên, là người “đầy ơn và quyền, làm dấu kỳ và phép lạ rất lớn trong dân” (6: 8). Dưới chức vụ của Philíp “đoàn dân nghe người giảng và thấy các phép lạ người làm, thì đồng lòng lắng tai nghe người nói” (8:6). Như vậy, cho đến nay, mặc dầu chúng ta thấy quyền phép đã được lưu dẫn phần lớn là qua các sứ đồ, vòng tròn đã mở rộng và bao gồm ít nhất là hai trong số bảy người lãnh đạo giúp người Hê lê nít đã được bổ nhiệm trong 6:1-15. Nếu Êtiên và Philíp đang sử dụng quyền phép trong việc truyền giáo, thì rất có lý để giả định rằng năm người kia trong nhóm cũng đang làm như vậy, mặc dầu chúng ta không có các chi tiết.
Sự kiện dường như được tăng cao khi Phierơ chữa lành cho Ênê, là người đã bị liệt suốt tám năm (xem 9:33, 34), và sau đó khiến Đôca sống lại từ kẻ chết (câu 36-41). Ông thuật cho Cọtnây biết rằng Chúa Giê-xu “đã đi từ nơi nọ qua chỗ kia làmss phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỷ ức hiếp; vì Đức Chúa Trời ở cùng” (10:38). Sau đó, Phierơ đã được thả ra khỏi tù một cách lạ lùng bởi một thiên sứ (xem 12:7).
Saulơ, kẻ bắt bớ Hội Thánh, trở thành sứ đồ Phaolô qua một sự bày tỏ đầy kịch tính về quyền phép của Đức Chúa Trời trên đường Đamách (xem 9:1-19). Qua Phaolô, thuật sĩ Êlyma đã bị mù và một quan chức chính phủ đã được cứu (xem 13:6-12). Ở tại Icôni, Phaolô và Banaba đã rao giảng cách dạn dĩ và Đức Chúa Trời “dùng tay của hai sứ đồ làm những phép lạ dấu kỳ” (14:3). Ở tại Líttrơ, họ đã cầu nguyện cho một người què “người nhảy một cái rồi đi” (câu 10). Phaolô đã đuổi một con quỷ ra khỏi một người tớ gái nô lệ ở tại Philíp (xem 16:18), một trận động đất siêu nhiên đã giúp cho ông và các bạn được cứu khỏi ngục tù (xem câu 26), và khi những khăn tay đã chạm vào người Phaolô được đặt trên kẻ đau, “thì họ được lành bệnh, và được cứu khỏi quỷ dữ” (19:11, 12). Nhiều câu chuyện khác về việc truyền giảng bằng quyền phép được cặp theo chức vụ của Phaolô.
Như vậy, đó là việc tự nhiên khi Phaolô nói đến sự truyền giảng bằng quyền phép trong các bức thư ông viết cho các Hội Thánh mà ông đã thành lập. Ông nhắc nhở người Têsalônica rằng “Vả, đạo Tin Lành chúng tôi đã rao truyền cho anh em, không những bằng lời nói thôi, lại cũng bằng quyền phép, Đức Thánh Linh và sức mạnh của sự tin quyết nữa.” (ITe1Tx 1:5). Ông nhắc nhở người Galati rằng Đức Chúa Trời “là Đấng ban Đức Thánh Linh cho anh em và làm các phép lạ trong anh em” (GaGl 3:5). Ông cảnh cáo người Êphêsô rằng “vì chúng ta đánh trận chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối này, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy” (Eph Ep 6:12). Trong bức thư gởi cho người Philíp, ông chia xẻ niềm vui của ông vì cớ bạn của ông là Épbaphôđích đã được Chúa chữa lành khỏi bệnh tật mà tưởng đã làm ông mất mạng (xem 2:27). Ông công bố với người Côrinhtô rằng “Vì nước Đức Chúa Trời chẳng ở tại lời nói, mà ở tại năng lực” (quyền phép) (ICo1Cr 4:20), và rằng chức vụ của ông ở giữa vòng họ là “tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép” (2:4). Ông thuật lại cho người Côrinhtô về những ân tứ thuộc linh của việc chữa lành và các phép lạ cùng lời tiên tri và ơn phân biệt các thần giữa vòng các ân tứ khác (xem 12:1-31), và nhắc nhở họ về nhiều phép lạ và dấu kỳ mà ông đã thi hành ở giữa họ (xem IICo 2Cr 12:12).
Sứ đồ Phaolô đã không thành lập Hội Thánh ở tại Rôma, nhưng khi viết cho các tín hữu ở tại đó để chuẩn bị cho một chuyến thăm vào cuối chức vụ của ông, ông kết luận công việc truyền giáo của mình bằng cách nói rằng ông luôn luôn nói những gì Đấng Christ đã làm qua ông giữa vòng dân ngoại “bởi quyền phép của dấu kỳ phép lạ, bởi quyền phép của Thánh Linh Đức Chúa Trời” (RoRm 15:18, 19). Điều đó nghe có vẻ như sự truyền giảng bằng quyền phép bằng với điều tốt nhất.
Các thư tín khác cũng nói đến chủ đề này. Tác giả thư Hêbơrơ nói rằng lời của sự cứu rỗi cũng đến với việc “Đức Chúa Trời dùng những dấu kỳ sự lạ và đủ thứ phép mầu, lại dùng sự ban cho của Đức Thánh Linh.” (HeDt 2:4). Giacơ, được biết đến vì việc ông không chịu được loại đức tin không có việc làm, cũng đã đưa ra những huấn thị cho những kẻ nào đau ốm. Họ phải mời các trưởng lão đến để xức dầu và cầu nguyện: “sự cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu kẻ bệnh” (Gia Gc 5:15).
QUYỀN PHÉP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI THÔNG QUA LỊCH SỬ
Tân Ước ký thuật sự truyền giảng bằng quyền phép không ngừng. Nhưng điều gì đã xảy ra sau đó?
Cho đến đầu thế kỷ này, nhà thần học ở Princeton là Benjamin B. Warfield đã thành lập một khuynh hướng thần học suốt ba thế hệ của những người Cơ Đốc Tin Lành qua tác phẩm của ông Miracles: Yesterday and Today, Real and Counterfeit ( Các Phép lạ: Xưa và Nay, Thật và Giả). Ông kết luận rằng “quyền phép của việc làm các phép lạ đã không mở rộng vượt quá các môn đệ mà các sứ đồ đã đặt tay trên họ.” Theo như cách ông giải thích lời ký thuật này, thì ông thấy một sự suy yếu dần về các dấu kỳ và phép lạ cho đến khi chúng “chấm dứt hoàn toàn khi người cuối cùng được các sứ đồ đặt tay đã qua đời.”
Quyển sách của Warfield được viết ra năm 1918 khi người Tin Lành vẫn coi những người Ngũ tuần là một tà giáo giống như những người Khoa Học Cơ Đốc hay Mormon. Vì vậy, quan điểm của ông, là điều đã trang bị được lý lẽ tức thì, nhanh chóng trở thành một điều hợp thời trang mà nhiều người ngày nay vẫn còn tin điều đó. Nhưng từ khi quyển sách của ông được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1918, có nhiều khảo sát lịch sử hơn nữa đã từng được thực hiện, đặc biệt là bởi một số các học giả thuộc nhóm Ngũ tuần, và cũng bởi những học giả khác nữa.
Điều mà các khảo sát này đang chứng minh đó là quyền phép mà Chúa Giê-xu sẽ chuyển giao cho các môn đồ Ngài để chữa lành kẻ bệnh và đuổi các quỷ thật ra vẫn còn tiếp tục qua các thời đại. Dường như đã có những thời kỳ lịch sử mà trong đó các chức vụ phép lạ nổi lên nhiều hơn là trong những giai đoạn khác, nhưng một phần của lý do đó ít ra cũng có thể bị quy cho việc thiếu hiểu biết của chúng ta. Việc đào sâu vào những sự kiện mới trong quá khứ chưa được khám phá vẫn tiếp tục là điều khiến các sử gia bận rộn. Khảo sát càng được tiến hành, thì càng có những bằng chứng cho chúng ta thấy Warfield đã sai lầm.
Trong quyển sách có ảnh hưởng lớn của Michael Green tại trường Regent College Evangelism in the Early Church ( Truyền Giảng trong Hội Thánh Đầu Tiên ) ông đã phát hiện rằng từ lúc ban đầu, các Cơ Đốc nhân “đã đi vào giữa thế gian với tư cách những người trừ quỷ, chữa bệnh và làm những thầy giảng Tin Lành.” Và điều đó đã tiếp tục không những suốt thời Hội Thánh các sứ đồ mà còn đến tận thế kỷ thứ hai và thứ ba, chưa nói xa hơn.” 2
Không phải tất cả các học giả đều nhìn thấy điều này. Ví dụ, hãy xem một sự tương phản thú vị giữa hai nhà phân tích đương thời về sự lan truyền của Tin Lành giữa vòng dân ngoại vào thời ban đầu. Derek Tidball, viết một bài hoàn toàn từ quan điểm của xã hội học, nhìn thấy những quan tâm nổi bật của dân ngoại như là đạo đức và các đạo lý về tình dục, các mối quan hệ gia đình, các mối quan hệ trong công việc làm và thái độ đối với nhà nước. Ông quy sự thành công của việc lan truyền Tin Lành giữa vòng dân ngoại cho tính ưu việt của Cơ Đốc giáo, sự cởi mở đối với tất cả các giai cấp và các chủng tộc, những lời hứa về hạnh phúc trong một thế giới khác cũng như các ích lợi ở ngay tại đây, chủ yếu là những người thuộc về các gia đình Cơ Đốc. 3 Điều đáng lưu ý ở đây là ông đã không nhắc đến nỗi sợ tà linh của họ cũng như lòng khao khát sự chữa lành thuộc thể của họ và quyền năng cặp theo sự giảng dạy Cơ Đốc để xử lý những nhu cầu đó.
Với Ramsay MacMullen, là người tôi có nói đến ở phần trước, thì lại ngược lại. Thậm chí từ quan điểm của một sử gia thế tục, ông đã đi đến kết luận rằng điều mà chúng ta hiện nay gọi là sự truyền giáo bằng quyền phép đã là “công cụ chính của sự quy đạo” giữa vòng những người ngoại. 4 Liên quan đến sự trung thành tôn giáo, thì cả Cơ Đốc nhân và người không tin Chúa trong thế giới dân ngoại của các thế kỷ đầu tiên, “điều chính yếu và trong chừng mực mà chúng ta có thể nói được, thì điều duy nhất được tin vào, đó là một quyền phép siêu nhiên nào đó để ban cho các ích lợi.” 5
SỰ QUY ĐẠO CỦA CHÂU ÂU
Nhưng điều này đã không dừng lại ở vài thế kỷ đầu. Charles Henry Robinson, người chép sử cuộc quy đạo ở châu Âu, là một con người khá hoài nghi khi ông phải ghi chép lại các phép lạ. Ông nói rằng “khi chúng ta xem xét đặc tính phi khoa học của thời đại mà trong đó các phép lạ này được ký thuật, và tính bất khả thi của việc có các bằng chứng có thể làm thỏa mãn nhà sử gia hay chỉ trích, chúng ta không thể thừa nhận sự kiện phép lạ trong bất cứ trường hợp nào.” Dầu vậy, các dấu kỳ và phép lạ siêu nhiên cũng hết sức phổ biến trong lịch sử của công tác các nhà truyền giáo giữa vòng những người dân châu Âu đến nỗi “chúng ta không thể bỏ qua toàn bộ các câu chuyện này.” 6
Như vậy, cứ cho rằng sau khi đã bỏ qua càng nhiều sự kiện càng tốt, Robinson đã tường thuật tỉ mỉ từng sự kiện này đến sự kiện khác về việc truyền giảng bằng quyền phép. Patrick, người Ireland đã làm nhiều phép lạ; Germanus người Auxerre đã làm yên một trận bão ở trên kênh đào Anh quốc, trong khi truyền giáo ở tại Pháp, Martin người Tours đã không những đốn hạ một cây tà thần mà còn đứng ngay nơi mà người ta cho rằng phải bị ngã mà không bị hại gì cả; Columbanus đã điều khiển các thú dữ bằng quyền phép của Chúa; ở tại miền Nam nước Ý cả Benedict và Barbatus truyền giáo bằng cách thách thức thẳng với Satan và hủy phá các lùm cây thần; ở tại Hà Lan Wulfram đã khiến một cậu bé sống lại từ kẻ chết; Boniface đã dám đánh đổ cây sồi của Sao Mộc Thiêm ở tại Đức; Bernard đã ngăn để lửa không đốt cháy mình; ở tại NaUy, Vua Olaf, khi thách thức với một người lãnh đạo dân ngoại, thấy Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện cụ thể liên quan đến thời tiết.
Trong thời gian có cuộc cải chánh, có quá nhiều lời tuyên bố giả dối về phép lạ đã bị trộn lẫn với những tuyên bố thật trong Giáo hội Công Giáo Lamã đến nỗi những nhà cải chánh có khuynh hướng muốn rời xa các dấu kỳ và phép lạ. Tuy nhiên, có nhiều nhà cải chánh đã không hoàn toàn bác bỏ các chức vụ mang tính siêu nhiên, đặc biệt là trong những khủng hoảng của chức vụ chính mình. Ví dụ, người ta kể câu chuyện về nỗi đau buồn của Martin Luther trước lời chẩn đoán của bác sĩ rằng người phụ tá của ông, Phillip Melanchthon, mắc một chứng bệnh phải chết. Luther đã quỳ gối cầu nguyện cho sự phục hồi của ông ấy, và tình trạng của ông ta đã lập tức thay đổi hoàn toàn. 7 Người ta nói rằng John Wesley đã chữa lành cho con ngưạ bị què của ông nhờ lời cầu nguyện.8 Người con rể của John Knox là John Welsh, được thuật lại đã quỳ gối và cầu nguyện suốt 36 giờ đồng hồ bên thi thể của một vị bá tước trẻ tuổi là một trong những người hỗ trợ mạnh mẽ cho ông, nài xin Chúa đem người ấy trở lại cho ông, và Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu nguyện.9
Một số các giáo phái không thuộc Ngũ tuần ngày nay được đâm rễ sâu xa nơi các chức vụ quyền năng của phép lạ hơn là nhiều thành viên hiện thời nhận biết, bởi vì, hoặc cố ý hay vô tình, phương diện lịch sử đặc biệt ấy của họ đã không được nhấn mạnh. Ví dụ, vào năm 1885 Tướng William Booth, nhà sáng lập Đội Quân Cứu Thế, đã tường thuật “những dấu kỳ và những phép lạ đáng lưu ý hiện nay đã được làm ra giữa vòng chúng ta” và để viết thư cho các đồng sự của ông về những ân tứ phi thường của Đức Thánh Linh như là tiếng lạ, sự chữa lành và các phép lạ. Ông nói rằng ông biết không điều gì trong Kinh Thánh hoặc trong kinh nghiệm “ chứng minh là các phép lạ không ích lợi cho ngày nay cũng như trong bất cứ thời gian nào trước đó của lịch sử Hội thánh.” 10
Một phần cuộc phục hưng ở tại Hội Thánh Lutheran Thụy Sĩ, đã sinh ra Hội Thánh Evangelical Covenant, là sự xuất hiện của “Criers”, những người trẻ tuổi đã được xức dầu một cách siêu nhiên bởi Đức Thánh Linh để rao giảng và nói tiên tri.11 A. B. Simpson, người thành lập Hội Truyền Giáo Phúc âm Liên hiệp, đã dành một ưu tiên cao cho chức vụ chữa lành của Chúa vào cuối thập niên 1800, và nhiều Hội Thánh Alliance đã có chức vụ chữa lành mạnh mẽ. Hội Thánh Nazarene nhấn mạnh việc chữa lành trong những năm đầu của họ, những người thuộc giáo phái Quakers, Mennonites, Moravians và nhiều giáo phái khác cũng vậy.
Một số tác giả của các sách gần đây nói về các chức vụ chữa lành đã bao gồm các dữ liệu lịch sử quý giá, sau khi phát hiện các dấu kỳ và các phép lạ qua lịch sử. Chúng tôi mang ơn các tác giả như Morton T. Kelsey, 12 J. Sidlow Bazter, 13 John Wimber, 14 Rex Gardner,15 John Gunstone16 và những người khác là những người đã nhắc nhở chúng tôi rằng Đức Chúa Giê-xu Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi, quyền phép mà Ngài đã chuyển giao cho các môn đồ vẫn còn được chuyển giao cho chúng ta ngày nay.
THẾ GIỚI QUAN: TIN LÀ THẤY
Nếu bạn là một người Tin Lành, có lẽ bạn tin rằng Phierơ đã khiến Đôca sống lại từ kẻ chết. Nhưng liệu bạn có tin rằng Wulfram tại Hà Lan hoặc John Welsh ở tại Scotland đã khiến kẻ chết sống lại không? Còn về chuyện Columbanus kiểm soát được các thú dữ hoặc Germanus làm yên một trận bão hay John Wesley đã chữa lành cho một con ngựa thì sao?
Đôi khi hơn cả những gì chúng ta biết hoặc thích phải thú nhận, câu trả lời của chúng ta trước các câu hỏi như thế phụ thuộc rất nhiều vào thế giới quan riêng của chúng ta. Điều này giải thích cách một học giả có thể xem xét một thời kỳ lịch sử và không thấy các dấu kỳ và phép lạ là quan trọng, trong khi một người khác, cũng có sự chân thành và thông minh ngang bằng, có thể xem xét cùng một giai đoạn và nhìn thấy các phép lạ như là một chiều kích chính của đời sống và lời chứng Cơ Đốc. Cả hai người đều đang làm việc từ những thế giới quan khác biệt trong những mô hình chung hoặc khác nhau đặc biệt. Nhưng thế giới quan không chỉ ảnh hưởng đến cách bạn nhìn xem lịch sử, mà nó còn dầm thấm từng phần của đời sống hằng ngày của bạn.
Ví dụ, Lewis Smedes, chỉ ra cách thế giới quan quyết định thái độ của chúng ta đối với một điều gì đó quan trọng như là vấn đề đạo lý. Ông nói: “Chúng ta không đồng ý, bởi vì chúng ta không nhìn thấy những sự việc giống nhau.” Hoặc nói khác đi “chúng ta không nhìn thấy tầm quan trọng như nhau trong các sự việc mà cả hai chúng ta đều đang quan sát.” 17
Như vậy, chính xác thì điều gì được hàm ý bởi thế giới quan? Một đồng nghiệp của tôi, Charles H. Kraft đã được công nhận rộng rãi là một chuyên gia hàng đầu trong lãnh vực này, định nghĩa thế giới quan là “Những sự hiểu biết cơ bản đã được rập khuôn theo nền văn hóa (có nghĩa là những giả định, những tiền giả định, lòng tin, v v ...) về HIỆN THỰC mà qua đó các thành viên trong một xã hội tổ chức và sống đời sống của họ.” 18 Từ HIỆN THỰC được viết in bởi vì Kraft hàm ý rằng thế giới khách quan bên ngoài chỉ có Đức Chúa Trời nhìn thấy nó. Quan điểm của chúng ta thì luôn luôn là một chữ viết thường hiện thực bởi vì không một ai trong chúng ta nhìn thấy HIỆN THỰC như Đức Chúa Trời thấy.
Nếu người ta tin rằng ngày nay Đức Chúa Trời không chữa lành bệnh nữa , thì họ sẽ không có khả năng để nhìn thấy sự chữa lành thiên thượng , dẫu cho có một số lượng các tài liệu hoặc các bằng chứng được cung cấp .
Dầu vậy, các quan điểm của chúng ta về hiện thực vẫn có giá trị và vẫn hữu ích để sống đời sống con người của chúng ta. Nhưng chúng ta không bao giờ được quên rằng những người khác gần và xa chúng ta đều có những sự hiểu biết khác nhau về hiện thực, hoặc về những thế giới quan khác. Nói cách khác như Smedes nói, con người ta có thể nhìn cùng một sự việc cách khác nhau.
Tôi thích câu chuyện Colin Brown kể về vua xứ Siam. Dường như vào thế kỷ thứ mười bảy Nhà Vua Siam đã có một cuộc nói chuyện rất thú vị với vị đại sứ Hà Lan. Ông đã bị mê hoặc bởi những câu chuyện về một cuộc sống ở tại xứ sở Hà Lan xa xôi. Bị mê hoặc, là vì khi vị đại sứ bắt đầu kể cho nhà vua nghe mùa đông ở tại Hà Lan là thể nào, nước đã đóng cứng đến nỗi một con voi có thể đi bộ trên đó thì ông vua này vẫn sống cả đời của mình trong vùng nhiệt đới, vị vua đã trả lời: “Từ trước tới nay, ta đã tin những chuyện lạ mà anh thuật, bởi vì ta thấy anh là một con người ngay thẳng, tỉnh táo; nhưng bây giờ thì ta biết chắc rằng anh nói dối.” 19 Thế giới quan của vị vua này, hoặc như Brown đã gọi nó là “khung tham chiếu,” không thể xử lý được thông tin mà vị đại sứ đem đến. Trong trường hợp đặc biệt đó, hiện thực của vị đại sứ tỏ ra gần với HIỆN THỰC hơn là của nhà vua. Trong các trường hợp khác, hiện thực của nhà vua có thể là gần hơn.
Thế giới quan là điều hết sức quan trọng khi có liên quan đến việc đánh giá nhu cầu dành cho chức vụ chữa lành hoặc giá trị của một chức vụ chữa lành. Nếu người ta tin rằng ngày nay Đức Chúa Trời không còn chữa lành, họ sẽ không thể nào nhìn thấy sự chữa lành của Đức Chúa Trời, dẫu cho số lượng các tài liệu hoặc bằng chứng được cung cấp nhiều đến đâu. Việc thuyết phục một người hoài nghi là một nỗ lực vô bổ. Chính mình Chúa Giê-xu sẽ không làm một phép lạ để thuyết phục những kẻ hoài nghi bởi vì Ngài biết điều đó chẳng ích gì. Bởi vì họ không tin, họ cũng không thể thấy điều Chúa Giê-xu đã làm. Nói cho đúng, tin là thấy.
Rex Gardner, từ quan điểm của một bác sĩ, là người cũng tin nơi sự chữa lành thiên thượng, đã vật lộn với vấn đề này. Ông nêu lên một trường hợp mẫu về một bệnh nhân với hội chứng Waterhouse-Friderichsen, là hội chứng đã gây viêm phổi và chứng mù vĩnh viễn. Khi lời cầu nguyện chữa lành được dâng lên cho Chúa, bà đã phục hồi. Nhưng các bác sĩ chăm sóc cho nạn nhân này không thể tin rằng chữa lành là công việc của Đức Chúa Trời. Gardner nhận xét về trường hợp người phụ nữ được phục hồi thị giác: “Bất chấp việc có bốn bác sĩ chuyên môn đã chứng kiến bà như đã thừa nhận, họ vẫn nhất định giữ sự chẩn đoán của mình, tính chính xác của nó bị đặt nghi vấn bởi những người không thể giải thích sự tồn tại của bà.” 20 Vấn đề của họ là gì? Rõ ràng là cũng giống như vấn đề của Vua Siam-đó là thế giới quan. Họ chỉ có thể thấy nếu họ tin.
KHOẢNG GIỮA BỊ LOẠI TRỪ
Vấn đề về thế giới quan là cực kỳ quan trọng trong các chức vụ xuyên văn hóa. Tôi nhớ lại một bài thi thần học tuyệt vời trong đó ban giảng huấn của một chủng viện thần Học Hoa Kỳ đang phỏng vấn một thành viên có triển vọng trong ngành. Điểm khác nhau giữa bài thi này và các bài thi khác đó là ứng viên tình cờ là một người Trung Hoa. Khi được hỏi: “Ấn tượng chung của anh về tuyên bố đức tin của chủng viện là gì?” Anh ta đã trả lời: “Tôi nghĩ bảng tuyên bố ấy tốt ở một chừng mực nào đó. Tuy nhiên, tôi phải nói rằng nếu là một học viện dành cho người châu Á thì chưa đầy đủ.”
Có thể đoán được, câu trả lời của anh ta đã dấy lên một sự thảo luận dài. Anh ta nhắc nhở rằng bảng tuyên bố đức tin không có phần nói về các lực lượng siêu nhiên của điều thiện và điều ác, như là các thiên sứ và ma quỷ. Bảng tuyên bố đức tin đã có nhắc đến Satan, nhưng không chứa đựng sự tham khảo cụ thể về thân vị của nó hoặc công việc của nó trong thế giới ngày nay. Đối với những tín hữu người châu Á, nó không phản ánh được một lãnh vực quan trọng của sự mặc khải Kinh Thánh.
Không phải chủng viện đang được nói đến có điều gì khác với các học viện Cơ Đốc Hoa Kỳ khác.
Rất ít bảng công bố đức tin của các Hội Thánh Hoa Kỳ thuộc các giáo phái hoặc của các tổ chức bên cạnh Hội Thánh bàn đến công việc siêu nhiên trong kinh nghiệm hàng ngày. Chúng thường đề cập đến công việc của Đức Thánh Linh trong việc cứu rỗi linh hồn, chứ không nói đến việc chữa lành thân thể. Chúng nhắc đến quyền phép để sống một đời sống tin kính, chứ không nói đến việc đuổi quỷ.
Vì sao vậy?
Điều này đưa chúng ta trở lại với thế giới quan. Thế giới quan truyền thống của người Hoa Kỳ gốc Anh của chúng ta ngày càng mang tính chủ nghĩa duy vật chất và chủ nghĩa tự nhiên. Như tôi đã đề cập ở trước, chủ nghĩa nhân văn thế tục đã thâm nhập vào các thể chế Cơ Đốc của chúng ta ở một mức độ đáng ngạc nhiên. Mặc dầu đại đa số người Hoa Kỳ tin rằng có một Đức Chúa Trời, nhưng mối tiếp xúc của Ngài với đời sống hàng ngày của chúng ta được xem như rất nhỏ. Thế giới quan của chúng ta bị ảnh hưởng nặng nề bởi khoa học trần tục. Chúng ta được dạy từ thời thơ ấu để cho rằng hầu hết mọi sự xảy ra trong đời sống hàng ngày đều có các nguyên nhân và hậu quả, là điều bị chi phối bởi các định luật mang tính khoa học.
Trong Thế Giới Thứ Ba thì không như vậy. Hầu hết người dân ở đó sống với sự hiện hữu của ma quỷ và các tà linh như một phần của đời sống hàng ngày. Thế giới quan của họ cho họ biết rằng thầy bói, thuật sĩ, phù thủy, thầy pháp, thầy đồng có quyền để kiểm soát các lực lượng siêu nhiên gây ra bệnh tật, đói nghèo, áp bức, mùa màng thất thu, bão lốc, cằn cỗi, hạn hán và bệnh tâm thần. Khi Cơ Đốc giáo được trình bày cho họ như là một sự chọn lựa, câu hỏi hàng đầu của họ là liệu Đức Chúa Trời của Cơ Đốc giáo có đủ quyền lực để giải quyết các nan đề trong đời sống của họ không. Trong ánh sáng của Tân Ước rất có khả năng rằng thế giới quan của họ đối với vấn đề này có thể gần với HIỆN THỰC hơn là của chúng ta.
Đồng sự của tôi là Paul G. Hieber đã gọi hiện tượng này là “thiếu sót của khoảng giữa bị loại trừ.” Ông nhắc đến câu chuyện Giăng Báptít sai các sứ giả của mình đến hỏi Chúa Giê-xu rằng Ngài có phải là Đấng Mêsi không, câu trả lời đến ám chỉ về quyền phép chữa lành kẻ đau và việc đuổi quỷ chứ không phải qua những chứng cứ lôgíc. Hiebert nói rằng: “Khi tôi đọc khúc Kinh Thánh này tôi đang là một nhà truyền giáo ở tại Ấn Độ, tôi có một cảm giác bồn chồn khó chịu.” Ông thú nhận rằng ông đã được huấn luyện để trình bày Chúa Cứu Thế với những lập luận hợp lý trí chứ không phải bằng những sự tỏ ra của quyền phép siêu nhiên. Ông nói thêm: “Đặc biệt, cuộc đối đầu với các tà linh rõ ràng là một phần hết sức tự nhiên trong chức vụ của Đấng Christ thường vẫn ở trong tâm trí tôi thuộc về một thế giới riêng biệt của các phép lạ - xa rời khỏi kinh nghiệm bình thường hàng ngày.” 21
Hiebert tiếp tục tỏ rõ ràng thế giới quan của hầu hết những người không thuộc phương Tây gồm có ba tầng. Tầng cao nhất là tôn giáo đặt cơ sở trên các đấng bậc trong vũ trụ hoặc các thế lực của vũ trụ. Tầng đáy là đời sống hàng ngày: hôn nhân, việc nuôi dạy con cái, việc gieo trồng mùa màng, bệnh tật và sức khỏe, những sở hữu vật chất và những gì bạn có. Tầng giữa gồm phương cách bình thường mà các hiện tượng hàng ngày này bị ảnh hưởng bởi các lực lượng siêu nhân và siêu nhiên.
Thế giới quan của người Tây phương chúng ta thì khác. Chúng ta có thể xử lý tầng tôn giáo phổ quát trên cùng và cảm thấy dễ chịu nhất nếu toàn bộ hoạt động siêu nhiên này được xếp vào đó. Tầng dưới cùng của chúng ta bị chi phối bởi các định luật mang tính khoa học. Chúng ta thấy rất ít cần đến tầng ở giữa là nơi mà những lãnh vực này trong đời sống không ngừng tiếp xúc với hai tầng kia. Thật ra, nếu có ai bắt đầu nói về tầng giữa một cách quá nghiêm túc và nói đến những ảnh hưởng hàng ngày của các thế lực siêu nhiên của cả điều ác lẫn điều thiện, thì chúng ta thường nghĩ họ có phần mê tín và chúng ta tìm cách thuyết phục họ hãy khoa học hơn.
Xu hương Tây phương này được minh họa rõ ràng qua một bài báo mới đây trong tờ Christianity Today có tựa là “Quan Điểm Của Một Bác Sĩ Giải Phẩu về Sự Chữa Lành Thiên Thượng .” Trong đó vị bác sĩ giải phẩu nói rằng ông và những người chữa lành bằng đức tin đều muốn giúp đỡ con người, nhưng họ có những kiểu cách rất khác. Ông nói: “Tôi tin vào yếu tố chữa lành của Chúa. Nhưng những đóng góp riêng của tôi cho các bệnh nhân là kết quả của những năm nghiên cứu và ứng dụng các nguyên tắc khoa học nghiêm nhặt vào các định luật chi phối cơ thể học con người.” Ông bị hoang mang vì một số Cơ Đốc nhân ngày nay “dường như hứa hẹn một loại thuốc mới hoàn toàn, một sự chữa lành tức thì, không tuân theo tiến trình khoa học bình thường.” 22 Hiebert muốn nói ông là một điển hình của nhiều người phương Tây trong việc bày tỏ một khoảng giữa bị loại trừ.
Trong công tác truyền giáo, kết quả cuối cùng của khoảng giữa bị loại trừ đó là các nhà truyền giáo Tây phương thường bị hiểu như là những nhân tố đại diện của tình trạng thế tục hóa. Đối với nhiều người, phương pháp khoa học của chúng ta dường như loại bỏ Đức Chúa Trời ra khỏi các lãnh vực quan trọng của đời sống như là nông nghiệp, y học, sản xuất, và các mối quan hệ xã hội. Hiebert nhận xét rằng: “Phương cách ấy giới hạn công việc của Đức Chúa Trời trong đời sống con người, hoàn toàn chỉ nhằm vào các vấn đề về sự cứu rỗi tối hậu.” Tất nhiên, sự cứu rỗi cuối cùng là điều quan trọng, nhưng “đức tin đặt nơi quyền phép của sự cầu nguyện và nơi sự quan tâm của Đức Chúa Trời trong mọi lãnh vực của đời sống con người” cũng là điều quan trọng. Hiebert đồng ý rằng thế giới quan này thật khó mà hòa hợp “với thế giới quan của Kinh Thánh, trong đó, các chiều kích siêu nhiên của thế giới này là điều hết sức rõ ràng.” 23
SỰ ĐỐI ĐẦU BẰNG QUYỀN PHÉP
Khi chúng ta nói đến thế giới quan Tây phương và phi Tây phương , thật dễ để cho rằng không có ai trong đất nước Hoa Kỳ có quan điểm phi Tây phương. Điều này chưa bao giờ đúng, và ngày nay, điều đó lại càng không đúng hơn. Ví dụ như những người Ấn Độ Bắc Hoa Kỳ, họ luôn luôn là một phần của dân tộc chúng ta, nhưng thế giới quan của họ rất khác so với thế giới quan của người Mỹ gốc Anh điển hình. Mặc dầu phần lớn dân di trú trong quá khứ đến từ các quốc gia châu Âu với thế giới quan tương tự, nhưng hiện nay điều này không còn nữa. Phần đông những người mới đến là Trung Hoa, Đông Âu, Mễ Tây Cơ, Ả Rập, Phi luật tân, Jamaica, Samoan, Triều Tiên, Nigeria và nhiều dân tộc khác, mang theo họ các thế giới quan khác nhau. Thậm chí giữa vòng những người Mỹ gốc Anh truyền thống, khoảng giữa bị loại trừ cũng đang biến mất.
Tạp chí Time (7.12.1987) mới đây đã cho đăng một câu chuyện ngoài trang bìa về Phong Trào Thời Đại Mới , là phong trào bắt nguồn từ một thế giới quan phi Tây phương. Sự phát triển của thuật thông linh, phù thủy, thờ Satan với các tà thuật và thuật chiêm tinh cũng như các tôn giáo Đông phương là một sự kiện mới đáng kể của thời đại chúng ta ngay tại nước Mỹ ngày nay.
Ở tại châu Âu, nơi mà cả một thế hệ bị sanh ra trong một thế giới tự đe dọa nó với sự hủy diệt của vũ khí nguyên tử, thì lòng tin đặt nơi khoa học như là câu trả lời cho các nan đề của con người đang bị suy yếu. Một mục sư Báptít ở tại Rumani đã nói rằng: “Niềm tin vào Chủ nghĩa Cộng Sản không phải là nan đề của chúng tôi. Không ai tin vào Chủ nghĩa Cộng Sản nữa. Nan đề của chúng tôi là phù phép, các tôn giáo Đông phương và thuật huyền bí cùng tà thần.” Từ Đức Quốc, một nhân sự của Chiến Dịch Sinh Viên tường thuật rằng hàng đoàn những người trẻ tuổi đang quay sang Phong Trào Thời Đại Mới, thuật chiêm tinh, khoa tâm lý học cận đại và tà thuật. Jack MacDonald của TEAM tường thuật rằng “những người chữa bệnh bằng phù phép ở tại Pháp vượt hơn số các bác sĩ y khoa, và cứ 120 người dân Pháp thì có một thầy đồng.” 24 Những sự phát triển mới này trong lịch sử đã làm cho việc truyền giảng bằng quyền phép thích hợp vô cùng trong các quốc gia Tây phương truyền thống cũng như trong các nước thuộc Thế giới Thứ ba.
Đối với những người có tiếp xúc gần gũi với thế giới linh, thì loại truyền giáo đòi hỏi sự đối đầu bằng quyền phép thường hiệu quả hơn những phương pháp khác tập trung vào sứ điệp phúc âm. Mặc dầu đối với một số người thì những vấn đề về đạo đức và tội lỗi nằm ở hàng đầu chương trình, nhưng đối với nhiều người khác thì vấn đề sợ hãi và quyền phép là quan trọng nhất. Đối với nhà truyền giáo học Alan Tippett, một trong những người đầu tiên ủng hộ việc truyền giáo đối đầu bằng quyền phép, thì sự đối đầu bằng quyền phép có thể tạo được toàn bộ sự khác biệt về phía cá nhân hoặc gia đình hoặc thậm chí cả bộ lạc tiếp nhận hoặc từ khước Tin Lành. Đối với nhiều người, Tippett nói rằng sự đối đầu bằng quyền phép được coi là “một cuộc đối đầu giữa vị thần cũ của họ và Đức Chúa Trời mới.” Muốn được tham gia vào một cuộc đối đầu như vậy thì cần phải có can đảm lớn, bởi vì “họ đã từ chối các lực lượng siêu nhiên mà trước kia họ từng nhờ cậy, và đang thách thức quyền lực cũ hãm hại họ.” 25
Loại đối đầu bằng quyền phép mà tôi muốn nói đến là sự chứng tỏ hiển hiện, thực tế rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu có quyền năng trên các tà linh, các thế lực hoặc các thần giả dối mà các thành viên trong một nhóm dân tộc nhất định thờ phượng hoặc sợ hãi. Đúng ra, mỗi sự quy đạo đều là một cuộc đối đầu bằng quyền phép, bởi vì cá nhân ấy được giải cứu khỏi thế lực của sự tối tăm để dời qua quyền phép của sự sáng (xem CoCl 1:13). Ở đây tôi muốn nói đến sự thách thức hiển hiện và được nhiều người biết đến hơn cho thấy Đức Chúa Trời đối địch với Satan.
Timothy Warner ở trường Trinity Evangelical Divinity cho một ví dụ phù hợp về điều tôi hàm ý. Ông kể về một số người sống tại làng đánh cá Hồi Giáo Phi luật tân là những người đã trực tiếp thách thức một tín hữu nhân sự Cơ Đốc trong một một cuộc đối đầu quyền phép. Họ bảo: “Nếu ông đuổi được quỷ ra khỏi người đàn bà này, chúng tôi sẽ thật sự tin và lập tức đặt lòng tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu.” Họ ấn định một thời điểm, ma quỷ đã được đuổi ra, người đàn bà này được chữa lành và cả làng đã trở thành những Cơ Đốc nhân. 26
Edward Murphy, người tôi có nhắc đến trước đây, đi rất nhiều nơi trên thế giới với các Chiến Dịch Truyền Giáo Hải Ngoại. Ở tại Ấn Độ, thỉnh thoảng ông cũng có làm việc với một nhà truyền giáo tên là Patro, một người ủng hộ mạnh mẽ sự đối đầu bằng quyền phép. Theo Murphy, thực tế, Patro và đội ngũ của ông thường bước vào một ngôi làng Ấn Độ giáo có thái độ thù địch, mời gọi người tư tế của làng đến và nói lớn: “Đức Chúa Trời của Chúa Giê-xu Christ là Đức Chúa Trời có một và thật, là Đức Chúa Trời hằng sống - Đức Chúa Trời của quyền phép. Hãy đem cho chúng tôi những người đau yếu nhất trong làng của các anh.” Khi họ làm điều đó, Patro cầu nguyện để có sự chữa lành trước mặt dân chúng, và khi người đó được lành, lòng người ta nhanh chóng cởi mở đối với Tin Lành. Đôi khi những người bị quỷ ám cũng được mang đến bị cột trói hoặc nhốt trong cũi, và họ đã được giải cứu.
Câu hỏi cơ bản mà nhiều người trên thế giới, và chúng ta ngay tại Hoa Kỳ thường hỏi là: “Liệu Đức Chúa Trời của bạn có nhiều quyền hơn các thần của chúng tôi không?” Timothy Warner đã hỏi một câu hỏi gây bối rối: “Liệu chúng ta có sẵn sàng đối đầu trong một cuộc chạm trán bằng quyền phép với những người thực hành thông linh, là kẻ đã có thành tích quá khứ được chứng minh bởi các thành quả không? 27 Bởi vì chức vụ này rõ ràng có liên quan đến chiến trận, nên thật dễ hiểu lý do vì sao có nhiều Cơ Đốc nhân sẽ tránh xa. Warner thú nhận trước đây nhiều năm ông cũng đã làm như vậy, nhưng bây giờ thì không còn như vậy nữa. Ông nói rằng nếu chúng ta né tránh sự đối đầu bằng quyền phép, “chúng ta sống bên dưới những đặc quyền của Tin Lành dành cho mình, chúng ta đánh mất chức vụ dành cho những con người hết sức cần đến quyền năng đã dành sẵn cho họ qua sự đắc thắng của Chúa Cứu Thế, và chúng ta cho Satan sự thỏa mãn vì được chứng kiến Đức Chúa Trời bị tước bỏ vinh hiển là điều xứng đáng thuộc về Ngài.” 28
Một sinh viên của tôi, Lisa Tunstall, đang cùng chồng cô là John thành lập một Hội Thánh mới ở tại Inglewood, California. Một ngày nọ, cô đến lớp muộn bởi vì vào 1:30 sáng hôm đó John đã nhận được một cú điện thoại khẩn cấp từ một phụ nữ trong Hội Thánh. Người phụ nữ này đang trong tình trạng hoảng sợ, và anh đã nghe những tiếng nói lạ trong bối cảnh đó. Khi anh đến nơi, người phụ nữ đang ngồi đờ đẫn trong một chiếc ghế và nhìn chằm chặp vào anh, một giọng đàn ông phát ra từ miệng bà: “Ngươi có phải là người của Đức Chúa Trời không? Ta đã chờ đợi ngươi đây. Hãy tỏ cho ta quyền phép của ngươi!”
John Tunstall là một truyền đạo thuộc giáo phái Các Môn Đệ Đấng Christ, giáo phái này không nhấn mạnh đến việc truyền giáo bằng quyền phép. Nhưng anh và Lisa là một phần của làn sóng thứ ba, vì vậy anh đã biết mình đang ở trong cuộc đối đầu bằng quyền phép. Anh đáp ngay với tà linh: “Hãy cho ta thấy quyền phép của ngươi!” Lập tức một chậu hoa trên kệ bể tung thành từng mảnh nhỏ với một tiếng động lớn.
Nhưng John đã sẵn sàng cho điều đó. Anh nói: “Quyền năng của ta chính là huyết của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Trong Danh Ngài ta truyền cho ngươi phải ra khỏi người đàn bà này.” Con quỷ vật vã. Người đàn bà trườn trên sàn nhà như một con rắn, rồi vật vã. Nhưng quyền năng của Chúa Giê-xu đã thắng hơn, con quỷ bị đuổi đi, và người đàn bà được hoàn toàn khỏe mạnh. Ít có ai thắc mắc vì sao hội chúng của Tunstall đang lên đến 500 người. Họ đã hiểu tập làm quen với quyền phép là thế nào.
Ghi chú
1. Benjamin B. Warfield, Miracles: Yesterday and Today, Real and Counterfeit (Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans Pub. Co., 1954), pp. 23,24. The first edition was published in 1918.
2. Michael Green, Evangelism in the Early Church (Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans Pub. Co., 1970), p. 189.
3. Derek Tidball, The Social Context of the New Testament (Grand Rapids, MI: Zondervan Publishing House, 1984), pp. 74-75.
4. Ramsay MacMullen, Christianizing the Roman Empire (New Haven, CT: Yale University Press, 1984), p. 27.
5. Cùng tác phẩm, tr. 4.
6. Charles Henry Robinson, The Conversion of Europe, (London: Longmans, Green and Co., 1917), pp. 38,39.
7. Xem Willem J. Kooiman, By Faith Alone: The Life of Martin Luther (London: Lutterworth Press, 1954), p. 192.
8. See Morton T. Kelsey, Healing and Christianity (New York: Harper and Row, 1973), p. 235.
9. See Rex Gardner, Healing Miracles (London: Darton, Longman and Todd, 1986), pp. 82-85. The story is told in “The History of Mr. John Welsh,” ascribed to James Kirkton, in Select Biographies, W. K. Tweedie, ed. (Edinburgh: Woodrow Wociety, 1845), Vol. 1, pp. 35ff.
10. William Booth, The General’s Letters 1885 (London: Salvationist Publishing and Supplies, 1886), pp. 82,83.
11. See Karl A. Olsson, By One Spirit (Chicago: Covenant Press, 1962), pp. 6068.
12. Kelsey, Healing and Christianity.
13. J. Sidlow Baxter, Divine Healing of the Body (Grand Rapids, MI: Zondervan Publishing House, 1979).
14. John Wimber with Kevin Springer, Power Evangelism (San Francisco: Harper and Row, 1986).
15. Gardner, Healing Miracle.
16. John Gunstone, Healing Power (Ann Arbor, MI: Servant Books, 1987).
17. Lewis B. Smedes, “On Reverence for Life and Discernment of Reality,” The Reformed Journal, July 1987, p.18.
18. Charles H. Kraft, “Worldview and Bible Translation,” Notes on Anthropology, Summer institute of Linguistics, June-Sept. 1986, p. 47.
19. Colin Brown, That You May Believe (Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans, 1985), p. 33.
20. Rex Gardner, “Miracles of Healing in Anglo-Celtic Northumbria as Recorded by the Venerable Bede and His Contemporaries: A Reappaisal In the Light of Twentieth Century Experience,” British Medical Journal, Vol. 287, 1983, offprint p. 6.
21. Paul G. Hiebert, “The Flaw of the Excluded Middle,” Missiology: An International Review, Vol. X, No. 1, Jan. 1982, p. 35.
22. Paul Brand with Philip Yancey, “A Surgeon’s View of Divine Healing,” Christianity Today, Nov. 25, 1983, p. 15.
23. Paul G. Hiebert, “A Conflict of World Views,” Together, July-Sept. 1984, p. 23.
24. Jack MacDonald, “Stance,” TEAM Horizons, Nov./Dec. 1982, p. 15.
25. Alan Tippett, Introduction to Missiology (Pasadena, CA: William Carey Library, 1987), p. 83.
26. Timothy M. Warner, “Encounter with Demon Power,” Trinity World Forum, Winter 1981, p. 4.
27. Cùng tác phẩm.
28. Timothy M. Warner, “Power Encounter in Evangelism,” Trinity World Forum, Winter 1985, p. 2.



Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 06:35 AM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách