† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2438|Trả lời: 0

Chức Vụ Chữa Lành - HÃY TIN CÁC CÔNG VIỆC CỦA CHÚA GIÊXU

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 5-11-2011 08:21:04 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Chức Vụ Chữa Lành
Tác giả: C. Peter Wagner

HÃY TIN CÁC CÔNG VIỆC CỦA CHÚA GIÊXU

Vấn đề trọng tâm mà chúng ta đã bàn đến trong hai chương qua là việc chuyển trao quyền hành. Nếu Chúa Giê-xu đã giao lại quyền phép cho các môn đồ Ngài và họ đã tiếp tục chuyển giao quyền phép ấy cho các thế hệ những Cơ Đốc nhân, thì chúng ta phải được chứng kiến điều đó ngày nay. Nhưng việc ngày nay chúng ta có được chứng kiến quyền năng hay không phụ thuộc phần lớn vào thế giới quan của chúng ta như tôi đã nói rõ.
Tin là thấy. Chúa Giê-xu đã nói về những con người hoài nghi trong thời của Ngài rằng nếu có người sống lại từ kẻ chết, họ cũng không được thuyết phục (xem LuLc 16:31). Họ không thể thấy quyền phép bởi vì họ đã không tin.
Vì vậy, chúng ta hãy tin. Chúng ta hãy tin rằng Chúa Giê-xu sẽ giữ lời hứa Ngài đến nỗi “kẻ nào tin Ta, cũng sẽ làm việc Ta làm” (GiGa 14:12). Nếu không tin như vậy, thì thật khó khăn, nếu không nói là không thể được, để có một chức vụ chữa lành đáng kể trong Hội Thánh của bạn. Chúng ta hãy tác động đến thế giới quan của mình và cố gắng đưa “ hiện thực” của mình bằng cách nào đó gần với SỰ THẬT của Đức Chúa Trời như chúng ta thấy sự thật ấy đã được mô tả trong Kinh Thánh.
Tôi nhận thấy Chúa Giê-xu cũng phán: “Lại cũng làm việc lớn hơn nữa” (câu 12). Nhiều Cơ Đốc nhân ngày nay vấp phải câu Kinh Thánh này. Ví dụ, Colin Brown, đại diện cho nếp suy nghĩ của nhiều người khi ông bảo rằng chúng ta không có bằng chứng Kinh Thánh “hậu thuẫn cho sự diễn giải của đoạn Kinh Thánh này như là một lời hứa để thực hiện các phép lạ thuộc thể lớn hơn.” Ông dễ chịu hơn trong việc hiểu Chúa Giê-xu hàm ý rằng các môn đồ Ngài sẽ mở rộng các biên giới về mặt địa lý và chứng kiến sự cáo trách tội lỗi cùng sự tha thứ, sự đoán xét, sự cứu rỗi và sự sống đời đời.1
Lời khuyên của tôi là để tránh khả năng của những sự tranh luận, là điều chỉ tổ làm chúng ta xao lãng khỏi nhiệm vụ chính yếu, chúng ta hãy tạm đặt sang một bên lời xưng nhận làm được những công việc lớn hơn trong lúc này. Chúng ta chỉ hãy tập trung vào những công việc giống như những việc Chúa Giê-xu đã làm, hoặc ít nhất là càng đến gần được những công việc đó chừng nào càng tốt chừng nấy. Tôi cũng đã giải thích vì sao, xét đến mối quan hệ độc đáo của Chúa Giê-xu với Cha Ngài, chúng ta không thể mong chờ lặp lại y đúc chức vụ của Ngài hoặc về chất lượng hoặc về số lượng.
Nếu như chúng ta không thể tin vào những việc lớn hơn, thì liệu ít nhất chúng ta có tin được những việc tương tự không? Tôi hi vọng như vậy, bởi vì, nếu chúng ta tin, chúng ta sẽ có thể nhìn quanh thế giới ngày nay và thấy được những việc thuộc loại tương tự đã làm phấn khích người dân ở tại đất Ysơraên trong thời Chúa Giê-xu thi hành chức vụ. Chúng ta sẽ thấy con người ngày nay hoàn toàn kinh ngạc trước sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời (xem LuLc 9:43). Có thể chúng ta chỉ tin một chút vào lúc đầu, nhưng càng thấy thì chúng ta càng tin, và càng tin chúng ta càng thấy nhiều hơn.
NHỮNG DẤU KỲ VÀ PHÉP LẠ HIỆN NAY
Những công việc của Đức Chúa Cha ngày nay là khá nhiều nên khó mà phân loại chúng được. Nhưng tôi sẽ cố gắng mô tả bảy loại dấu kỳ và phép lạ hiện nay mà tôi tin rằng sẽ phục vụ cho việc gây dựng đức tin chúng ta. Một trong những bước tiến tới việc bắt đầu có một chức vụ chữa lành trong Hội Thánh của bạn là phải hiểu rõ đôi điều về những công việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời trong những nơi khác. Tôi đã chọn để làm ví dụ các ơn tiếng lạ, các phép lạ về thiên nhiên, việc trám răng, sự vận chuyển thuộc linh, thức ăn gia thêm, tạo ra các cơ quan mới và việc gọi người chết sống lại.
Ân Tứ về Ngôn Ngữ
Những người phản đối sự dạy dỗ về “các việc lớn hơn” thường xuyên chỉ ra rằng bản thân các môn đồ của Chúa Giê-xu cũng không làm điều gì lớn hơn những công việc Chúa Giê-xu đã làm. Điều này có lẽ đúng, dựa trên ý nghĩa gắn liền với từ lớn hơn. Nhưng tôi nghĩ điều này ít nhất cũng có tầm quan trọng bởi vì phép lạ đầu tiên được thực hiện qua các sứ đồ sau khi Chúa Giê-xu để họ lại một mình đó là điều mà chính Chúa Giê-xu cũng chưa bao giờ làm, trong chừng mực chúng ta được biết. Họ đã làm chứng sứ điệp Tin Lành bằng ít nhất là 15 thứ tiếng ngoại quốc mà họ chưa hề được học. Kết quả là gì? Dân chúng trong thành Giêrusalem, là người đã nghe họ trong ngày đầu tiên của lễ Ngũ tuần “đều sợ hãi và lấy làm lạ.” Họ hỏi: “Vậy thì, sao chúng ta nghe ai nấy đều nói tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ?” (Cong Cv 2:7, 8).
Đó là lần đầu tiên, nhưng không phải là lần cuối cùng. Chúng ta đọc thấy trong cuốn The Lives of the Fathers , Martys , and Other Saints (Đời sống của Các Tổ Phụ , Những Người Tuận Đạo và Các Thánh Đồ Khác ) của Alban Butler cho thấy người giảng đạo xứ Dominican này là Vincent Ferrer trong đầu thập niên 1400 đã rao giảng, những người Hy lạp, Đức, Sardes, Hungari, và những người khác đều hiểu ông hoàn toàn dầu ông không hề học một thứ ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng mẹ đẻ là Valencian, một chút ít tiếng Latinh và tiếng Hêbơrơ.
Mặc dầu điều này hơi khó kiểm tra kỹ lưỡng, nhưng đã có một trường hợp gần gũi với chúng ta hơn. Năm 1985, tôi được vinh dự gặp gỡ một cặp truyền giáo trẻ tuổi đáng lưu ý là James và Jaime Thomas. Ngay sau khi lấy nhau được vài năm, họ đến Argentina qua các Chức Vụ của Maranatha. Cả James lẫn Jaime đều không hề học tiếng Tây Ban Nha trong khi lớn lên ở tại Kentucky. Jamess thì có ghi danh học giáo trình tiếng Tây Ban Nha ở tại trường trung học, nhưng vì học quá kém nên anh đã rút lui để không làm cho điểm trung bình của mình bị tụt.
Khi đến Cordoba, Argentina, họ bắt đầu thành lập một Hội Thánh ở gần khu vực đại học bằng việc nhờ các thông dịch viên. Đức Chúa Trời đã ban phước cho chức vụ này, và một Hội Thánh nhỏ không bao lâu đang phát triển. Có một lần James mời một nhà truyền giáo Ngũ tuần Puerto Rican, tên là Ben Soto, đến giảng trong một buổi nhóm tối Chúa nhật. Có khoảng 150 có mặt. Soto, một diễn giả rất năng động, đang giảng một cách sốt sắng bằng tiếng Tây Ban Nha thì thình lình ông ta ngưng bặt. Sự yên lặng bao trùm cả hội chúng. Họ nghĩ có điều gì xảy ra cho nhà truyền giáo này.
Nhưng Soto không sao cả. Một lát sau ông nói bằng tiếng Anh: “James và Jaime, Đức Chúa Trời vừa phán cùng tôi rằng Ngài sẽ ban cho các bạn ân tứ nói tiếng Tây Ban Nha.” Ông mời họ bước lên phía trước, đặt tay trên đầu họ và chúc phước điều Chúa muốn thực hiện. Đoạn ông nói: “James này, anh hãy đảm nhận công việc đi,” rồi ông ngồi xuống. James khựng người lại và rất bối rối. Anh không cảm thấy có gì đặc biệt trong lời cầu nguyện của Ben Soto cả, vì vậy, theo bản năng anh đã mời người thông dịch cho mình, nhưng Soto cứ nhất định rằng anh sẽ tự giảng bằng tiếng Tây Ban Nha.
James miễn cưỡng cầm lấy bảng danh sách những thông báo mà anh đã viết ra bằng tiếng Anh và bắt đầu thật chậm: “En...esta...semana...vamos...a...” và cứ tiếp tục bật ra những câu tiếng Tây Ban Nha trôi chảy. Nói bằng âm điệu Argentina. Từ giờ phút đó anh bắt đầu nói tiếng Tây Ban Nha như một người bản xứ và viết đúng văn phạm, đánh vần và thậm chí là những dấu nhấn. Không những thế, nhưng gần đây hơn khi Đức Chúa Trời kêu gọi họ đến Guatamela, James phát hiện mình lập tức đang nói bằng một giọng Guatemala. Ông cũng đã chứng minh cho tôi thấy (tôi là người nói tiếng Tây Ban Nha trôi chảy) thể nào ông có thể nói được các thổ âm của người Honduras, Venezuela, và Mexico. Điều đó tương đương với việc tôi tùy ý chuyển giọng Anh miền California sang Kentucky sang New England, giọng Úc hoặc giọng Ái Nhĩ Lan.
Trong lúc đó, trước khi Ben Soto đến, Jaime đã học tiếng Tây Ban Nha thậm chí còn ít hơn chồng mình. Cô thuật lại cùng tôi rằng cô rất sợ khi phải đối mặt với ai đó mà cô không truyền thông được đến nỗi thậm chí có người gõ cửa cô cũng không biết phải làm thế nào. Nhưng sau lời cầu nguyện của Soto, một số phụ nữ bắt đầu hỏi cô các câu hỏi tiếng Tây Ban Nha và cô thấy mình trả lời họ dễ dàng và trôi chảy. Vì lý do nào đó, Đức Chúa Trời đã không cho cô giọng bản xứ, nhưng cô nói trôi chảy, mặc dầu với giọng Mỹ.
Tôi đang liên lạc thư từ với Stella Bosworth, nữ truyền giáo ở Phi Châu suốt 30 năm qua. Mẹ cô, Ethel Raath, một người Nam Phi, chỉ biết một vài từ Zulu trong công việc, nhưng thế là đủ. Năm 1935, cô và chồng cô được giao cho một công việc của chính phủ ở tại Transkei, một khu vực thuộc Zulu, khi họ đến nơi, một số Cơ Đốc nhân người Zulu yêu cầu họ bắt đầu tổ chức nhóm lại. Bà Raath cảm biết Đức Chúa Trời đang kêu gọi bà gây dựng và cầu nguyện bằng tiếng Zulu, vì vậy bà quyết định xin Ngài ngôn ngữ ấy. Bà nhóm hiệp các Cơ Đốc nhân Zulu lại, quỳ gối xuống, đặt cuốn Kinh Thánh Zulu trên đầu mình, và họ đã cầu nguyện cho bà để nói được tiếng Zulu. Từ lúc bà thôi quỳ gối và đứng lên, bà đã nói được, đọc được, và viết được tiếng Zulu trôi chảy. Bà đã trở thành người thông dịch chính cho chồng mình. Cũng giống như James Thomas, Đức Chúa Trời đã cho bà một giọng Zulu hoàn hảo đến nỗi họ đã gọi bà là “người Zulu da trắng.”
Tôi cũng đang liên lạc thư từ với Norman Bonner, một nhà truyền giáo Wesleyan đã hưu hạ ở tại Haiti, và sau đó, cũng làm việc giữa vòng những người Zulu. Trong lúc ở tại Haiti với tư cách là một nhà truyền giáo mới, ông đã nghiên cứu học tập tiếng Pháp, ông có ý định trì hoãn việc học tiếng Creole. Nhưng sau khi thấy mình ở vào một tình huống mà cần phải giảng bằng tiếng Creole, ngày nọ, ông đã đặc biệt xin Chúa cho mình thứ tiếng ấy. Từ đó trở đi ông đã có thể giảng bằng tiếng Creole trôi chảy và thông dịch cho các nhà truyền giáo ghé thăm. Một nhà truyền giáo đã từng nói: “Tôi bằng lòng mất mười ngàn đôla để có được ngôn ngữ Creole của ông.”
Jon và Cher Cadd, là những người bay với Hãng Hàng Không Truyền Giáo Fellowship ở tại Zimbabwe, thuật lại thể nào một thông dịch viên người Zimbabwe đã nhận được tiếng Vidoma. Trong tác phẩm Bruchoko, Bruce Olson mô tả thế nào, ở tại Columbia, những nhà truyền giáo Indian Motilone đã được ban cho thứ tiếng Yuko, một thổ ngữ hoàn toàn khác với thứ tiếng bản xứ của họ.3 Những người có liên quan vào hai trường hợp trên không biết có tiếp tục nói thứ tiếng mới này không tôi không biết.
Những câu chuyện như vậy làm nổi bật quyền phép của Đức Chúa Trời, nhưng đừng để chúng dẫn chúng ta đến chỗ tự phụ. Đôi khi Đức Chúa Trời hành động cách này, nhưng tôi cho rằng bây giờ lẫn trong tương lai khoảng 99,9 phần trăm các nhà truyền giáo mới vẫn sẽ phải học các ngôn ngữ như tôi và vợ tôi đã phải học tiếng Tây Ban Nha - theo kiểu cũ. Dầu vậy, chúng ta hãy cởi mở trước những sự lạ lùng của Đức Chúa Trời và chấp nhận chúng với thái độ biết ơn.
Các Phép Lạ Tự Nhiên
Chúa Giê-xu, theo như chúng ta biết, mặc dầu không bao giờ nói các thứ tiếng lạ mà Ngài không học, vẫn dẹp yên trận bão. Đức Chúa Cha đã ban cho Ngài uy quyền trên thiên nhiên vào thời điểm đó. Chúng ta không được cho biết có bao nhiêu trận bão khác Ngài đã dẹp yên. Tuy nhiên, thật an toàn khi cho rằng trong cuộc đời của Ngài, Ngài đã trải qua nhiều trận bão mà Ngài phải chịu đựng cũng như bất cứ người nào khác, bởi vì Cha Ngài không chọn lựa để dẹp yên chúng. Sứ đồ Phaolô cũng đã không làm yên được cơn bão mà vì nó ông đã bị đắm tàu. Thật ra, Đức Chúa Trời đã phán cùng ông rằng trận bão sẽ làm đắm con tàu nhưng sẽ không ai thiệt mạng (xem Cong Cv 27:9-44). Đôi khi Đức Chúa Trời để cho thiên nhiên xảy ra một cách tự nhiên theo tiến trình của nó; đôi khi Ngài can thiệp bằng phép lạ.
Liệu những Cơ Đốc nhân, nhờ sử dụng quyền phép đã được ban cho Chúa Giê-xu, mà ngày nay có quyền trên thiên nhiên không? Đôi khi có. Ví dụ, Hiệp Hội Lướt Ván Cơ Đốc là một nhóm các nhà truyền giáo làm chứng cho các tay đua lướt ván ở miền Nam California, phần lớn là qua việc tài trợ cho các kỳ thi lướt ván. Một kỳ thi đã được lên lịch gần đây dành cho Stone Steps gần San Diego, nhưng trước đó mấy tháng khu bờ biển ấy có sóng bạc đầu chấp nhận được cho kỳ thi, nhưng khi ngày thi đến gần thì quang cảnh thật ủ dột. Vì vậy, Mark Curtis, chủ tịch, và cả đội của ông đã nhóm lại buổi tối trước cuộc thi và xin Chúa ban loại sóng bạc đầu cho họ. Ngày hôm sau, đã có một số những đợt sóng đẹp nhất trong năm. Một người cứu đắm mà họ đang làm chứng cho đã nói rằng: “Các anh hẳn là có mối liên hệ với bề trên bởi vì nơi này suốt một năm nay không hề có sóng động.” 4
Ở tại Columbia, núi lửa Nevado de Ruiz đã bộc phát vào năm 1985 và hầu như quét sạch thị trấn Armero. Trong số 25.000 cư dân không có dưới 22.000 người đã chết hoặc mất tích. Nhưng Hội Thánh của Đức Chúa Trời (Cleveland, TN) báo cáo rằng không có một Hội Thánh nào trong số các Hội Thánh của họ bị tàn phá và cũng không có một tín hữu nào bị thương. Ở tại một trong các Hội Thánh Ngũ tuần, vợ mục sư và em bé ở nhà một mình, ngay trên đường chảy của dòng bùn đang chôn vùi thị trấn. Nhưng dòng bùn đã chia làm hai ngay trước khi đến nhà thờ và nhập lại ở phía bên kia nhà thờ như thể có một sức mạnh siêu nhiên nào đó đang bảo vệ họ.
Vào năm 1982, Kalimantan phải chịu một cơn hạn hán kéo dài 4 tháng. Những trận cháy rừng cây con khổng lồ bộc phát ngoài tầm kiểm soát. Nhà truyền giáo Fred Voightmann tường thuật rằng một trường Cơ Đốc nằm ngay trên đường đi của các ngọn lửa, bốc lên cao hơn các tòa nhà trường học khi chúng tiến đến. Toàn bộ khu nhà đều là chất dễ bắt lửa, một số làm bằng gỗ và một số làm bằng rơm. Các giáo viên và 47 em học sinh cấp hai đang tập hợp lại trong sân trường. Nắm tay thành một vòng tròn và cầu nguyện xin Đức Chúa Trời bảo vệ. Ngọn lửa gầm lên cách ngôi trường vài mét rồi nhảy qua khu trường học và thiêu rụi hàng trăm mẫu Anh rừng phía bên kia trường.
Tôi đã bắt đầu cầu nguyện những điều chung chung , nhưng không bao lâu sau tôi cảm thấy một sự hiện diện mạnh mẽ của Đức Thánh Linh , tôi nhận biết đó là một sự xức dầu đặc biệt .
Trong khi ra tranh cử chủ tịch, Pat Robertson thỉnh thoảng bị chỉ trích, thậm chí bị một số người chế nhạo, vì đã tuyên bố rằng năm 1985 lời cầu nguyện của ông đã giúp cho trận bão lốc Gloria chuyển hướng và ngăn nó không phá hủy các sở chỉ huy của ông ở tại bờ biển Virginia, thuộc bang Virginia. Lời tường thuật này đặc biệt thú vị đối với tôi bởi vì một năm trước đó tôi cũng đã tham gia vào một cuộc cầu nguyện tương tự.
Lúc ấy, tháng 9 năm 1984 tôi đang ở tại Stuttgart, Đức Quốc trong một buổi nhóm họp của Ủy ban Lausann về Công Cuộc Truyền Giáo Thế Giới (L.C.W.E). Tin tức được phát đi qua Mạng Lưới Đài Phát Thanh tiếng Anh của Armed Forces cho biết rằng một cơn bão lốc nghiêm trọng nhất trong mùa, tên là Diana, đang tiến vào vùng bờ biển phía Bắc Carolina, sẽ di chuyển vào lục địa nhanh chóng với sức hủy diệt mạnh mẽ nhanh chóng. Leighton Ford, chủ tịch của L.C.W.E, có một ngôi nhà nằm ngay trên đường đi của trận bão. Ông và vợ là bà Jean, đang có mặt trong buổi nhóm bày tỏ nỗi lo sợ của họ, họ có thể phải mất hết mọi thứ.
Khi tôi nhớ lại, chúng tôi đã hay được tin cơn bão Diana sắp sửa quét ngang qua bờ biển ở Cape Fear, Bắc Calorina, khoảng 10:30 sáng giờ Stuttgart. Toàn bộ ủy ban trong buổi họp này đang ở dưới sự điều khiển của Kirsti Mosvold người Na Uy. Bà ngưng cuộc họp, thông báo tin tức về trận bão và đề nghị chúng tôi tạm dừng để cầu nguyện. Bà nói: “Peter Wagner, ông sẽ hướng dẫn buổi cầu nguyện của chúng ta chứ?”
Tôi từ từ đứng lên bởi vì tôi chưa chuẩn bị cho một sự kiện như vậy. Tôi đã bắt đầu cầu nguyện chung chung, nhưng ngay sau đó tôi cảm thấy một sự hiện diện mạnh mẽ của Đức Thánh Linh, tôi nhận ra đó là một sự xức dầu đặc biệt. Tôi biết rằng Đức Chúa Trời muốn bảo tôi hãy dẹp yên cơn bão. Tầm lớn của sự rủi ro vụt nhanh qua tâm trí tôi. Ở đây có khoảng 100 người lãnh đạo Tin Lành hàng đầu trên khắp hành tinh. Không dưới năm hoặc sáu giám mục ở giữa vòng họ. Họ đang lắng nghe tôi một cách chăm chú. Điều gì xảy ra nếu như tôi bảo trận bão phải ngừng mà điều đó không xảy ra? Điều gì xảy ra nếu đây không phải đúng là Chúa đang phán với tôi?
Nhưng tôi đã quyết định. Tôi thấy chính mình đang cầu nguyện lớn tiếng với uy quyền không phải là đặc trưng của tôi. Tôi trưng dẫn quyền phép đã lưu xuất qua Chúa Giê-xu để làm dừng cơn bão ở tại hồ Galilê. Tôi thưa rằng nếu xưa kia Chúa Giê-xu đã làm được việc đó, thì bây giờ chúng tôi cũng làm được. Tôi phán trực tiếp với Cơn Bão Lốc Diana, nắm lấy uy quyền trên nó, và bảo nó hãy dừng lại trong danh Chúa Giê-xu. Tôi xin Đức Chúa Trời bảo vệ tài sản của Leighton Ford để không bị hư hại gì. Sau đó, tôi ngồi xuống và buổi họp được tiếp tục.
Ngay sau giờ ăn trưa, tôi mở đài theo dõi tin tức phát đi lúc 1:00 của Armed Forces. Tin hàng đầu là Cơn Bão Lốc Diana đã thình lình ngừng lại và không vượt quá bờ biển. Một cuộc phỏng vấn ngay sau đó với Robert C. Sheets thuộc Trung Tâm Bão Lốc Quốc Gia ở tại Miami cho thấy rằng vào thời điểm có buổi cầu nguyện, cơn bão lốc này đã biến thành một cơn bão “cấp 3,” một sự thay đổi quyết liệt đã xảy ra, và nó bị giáng xuống “cấp 1” trước khi cuối cùng nó đã di chuyển ra ngoài bờ biển. Tài sản của Leighton Ford không bị tổn hại gì cả.
Tôi sẽ là người đầu tiên thừa nhận những thay đổi lạ lùng trong những sự kiện như kỳ thi lướt ván, núi lửa hay trận hỏa hoạn hoặc bão lốc. . . là những điều có thể được quy gán cho những sự trùng hợp không thể giải thích được của thiên nhiên. Nhưng đối với người có lòng tin, chúng cũng có thể được quy cho lời cầu nguyện mạnh mẽ (không những của riêng tôi, mà chắc chắn là của những người khác nữa) và sự can thiệp trực tiếp của bàn tay Đức Chúa Trời. Tôi muốn là một người có lòng tin.
Trám Răng
Trong chương 3 tôi đã tường thuật sự phát triển lớn lao của các Hội Thánh tại Argentina qua sự truyền giáo bằng quyền phép và tôi đã đề cập rằng việc trám răng bằng phép lạ là điều bình thường ở tại đó. Tôi phải thú nhận rằng khi lần đầu tiên họ thuật cho tôi về điều này thì tôi còn hơn cả một kẻ hoài nghi. Vì một lý do lạ lùng nào đó, tôi cảm thấy dễ chịu hơn nhiều trong việc Chúa chữa lành bệnh ung thư hơn là việc trám răng. Tôi đang nghe những câu chuyện về những trường hợp trám răng bằng vàng, bằng bạc và bằng một chất màu trắng. Một số câu chuyện được tường thuật là có cả hình thập tự được in trên chiếc răng. Một số người đã nhổ ra những chất trám cũ trong khi những người khác thì được thay đổi hoàn toàn hình thức của những chiếc răng. Có những lời kể rằng các cầu răng giả rơi ra và được thay thế bằng nhửng chiếc răng, cũng có những chiếc răng mới đã mọc lên thay chỗ mà trước kia chúng đã bị nhổ đi.
Tôi không biết Chúa có làm điều này ở các nơi khác ngoài Argentina hay không cho đến khi tôi tình cờ đọc được hai câu chuyện khác có liên quan đến hiện tượng này. Cảm nhận an ủi đầu tiên của tôi đã đến khi cả hai tác giả đều thú nhận, cũng giống như tôi, một cảm giác hoài nghi.
Trong tác phẩm kinh điển Healing (Chữa Lành ), Francis MacNutt đã để dành một câu chuyện cho phần kết bởi vì ông sợ rằng câu chuyện đó sẽ là quá nhiều đối với các độc giả trung bình để tin và ông không muốn mất các độc giả trước khi họ đọc xong quyển sách. Ông gọi đó là “Câu Chuyện của Ba Người Ấn Độ,” và kêu gọi các độc giả hãy thử nghiệm sự cả tin của họ. Tôi xin kể ngắn gọn, Lucy Keeble, một người Sioux nghe con trai mình rên rĩ vì chiếc răng đau. Ông gợi ý họ hãy đến một buổi nhóm chữa lành gần đó. Kết quả là bảy chiếc răng của nó đều được trám. Trường hợp kia là một người Sioux trẻ tuổi tên Nancy. Cô ta không phải là một Cơ Đốc nhân cũng không muốn được cầu nguyện cho mình mặc dầu cô bị hư răng nặng và không đến gặp nha sĩ. Dầu vậy, vị mục sư đã cầu nguyện cho cô; các răng trên của cô được trám bằng vàng và răng dưới được trám bằng bạc. Toàn bộ điều này xảy ra ở Minneapolis, không phải ở tại Buenos Aires.5
Rex Gardner, vị bác sĩ người Anh, đưa nguyên một chương vào trong cuốn sách nổi tiếng của ông là Healing Miracles (Các Phép Lạ Chữa Lành ) là điều ông gọi là “Những Công Việc Lạ Lùng của Đức Chúa Trời.” Phần lớn chương này nói đến việc trám răng. Trong phần mở đầu chương, ông thú nhận rằng một số trong những bạn hữu đáng tôn trọng của ông mạnh mẽ khuyên ông hãy bỏ chương ấy đi. Nhưng ông tự trách mình vì hay cảm thấy “bối rối khi Đức Chúa Trời làm quá điều mình suy tưởng.” 6
Gardner thuật lại câu chuyện của MacNutt, sau đó mô tả một số khảo sát ông đã thực hiện về những bài tường thuật tương tự ở tại Chilê. Bài báo này bắt đầu bằng một bài viết trên tạp chí Crusade xuất bản năm 1976 bởi John Pridemore, người vừa viếng thăm Chilê. Ông tường thuật việc nhìn vào một số các chiếc miệng bằng đèn bấm sau một buổi nhóm chữa lành và nói: “Tôi biết điều tôi thấy là một phép lạ ..., những chiếc răng này đã được trám. Và chất trám đã hình thành thập tự bằng bạc đặt trong mỗi hốc răng.” 7 Gardner đã theo dõi điều này với sự tiếp xúc mở rộng cùng ba con người mà theo lời ông nói không phải là những “nhân chứng ngờ nghệch hồ hởi:” Bill Maxwell là một bác sĩ, vợ của ông: một y tá được huấn luyện và Kath Clark, một nhà truyền giáo Anh quốc. Những xem xét trực tiếp do ba người đã khẳng định rằng các chiếc răng đã được trám mà không có sự trợ giúp của một nha sĩ. Đó có phải là những câu chuyện đáng tin không? Gardner nói: “Với tinh chân thật của họ, tôi không còn nghi ngờ.” 8
Mặc dầu trước đây tôi hoài nghi về các phép lạ trám răng, nhưng bây giờ tôi không còn nghi ngờ nữa. Thật ra tôi phải thú nhận rằng lần mới đây nhất khi đến Argentina tôi đã ấp ủ một ao ước thầm kín rằng một số các chiếc răng của tôi, mặc dầu được sửa chữa khá tốt ngoài bề mặt, vẫn là một tai họa nằm ở bên dưới, hẳn sẽ được thay thế. Nhưng điều đó đã không xảy ra.
Sự Vận Chuyển Thuộc Linh
Luca thuật lại câu chuyện một đám đông phẫn nộ ở tại Naxarét đã quyết định tìm giết Chúa Giê-xu bằng cách đẩy Ngài xuống bờ vực. Nhưng Ngài đã thoát khỏi bởi “qua giữa bọn họ và đi khỏi” (LuLc 4:30). Chúng ta không được cho biết Ngài đã qua giữa họ bằng cách nào, nhưng có thể Đức Chúa Trời đã bỏ qua những giới hạn bình thường về thời gian và không gian và vận chuyển thân thể của Chúa Giê-xu đến một nơi khác bằng quyền phép siêu nhiên. Điều này không vượt quá khả năng khả thi bởi vì dường như đây chính xác là điều đã xảy ra cho Philíp sau khi ông làm báp tem cho vị hoạn quan người Êthiôpi: “Thánh Linh của Chúa đem Philíp đi, hoạn quan chẳng thấy người nữa” (Cong Cv 8:39).
Phải thú nhận rằng, khảo sát của tôi chưa khám phá nhiều ví dụ đương thời về sự vận chuyển thuộc linh. Tôi thật sự có một giai thoại đáng lưu ý về ông trùm dầu hỏa Oklahoma là Al Wheeler người tuyên bố đã được vận chuyển từ Tulsa đến Uganda và trở về. Ở tại Uganda, ông đã làm chứng cho một thầy pháp lớn tuổi và gia đình ông ta. Kinh nghiệm này theo lời tường thuật đã được khẳng định bởi một loại bùn đặc quánh nơi đôi giày của ông, là thứ bùn ông đã cho phân tích ở tại một phòng thí nghiệm về đất bùn. Loại bùn này không có ở nơi nào thuộc Trung Mỹ, nhưng là đặc trưng của vùng Đông Phi. Về sau ở tại Hoa Kỳ, ông đã gặp lại con trai thầy pháp, họ nhận ra nhau ngay lập tức, và người thanh niên Phi Châu này đã kêu lên rằng anh ta đã từng gặp Wheeler trong ngôi làng mình ở tại Uganda. Tôi hiện đang trao đổi thư từ với vợ của Wheeler, là Marilyn, bà ta quả quyết với tôi người chồng quá cố của bà là một con người đáng tin cậy, tương đối ít xúc cảm, là người hoạt động tự do trong các giới doanh nghiệp cao cấp và chính phủ nơi mà tính nhẹ dạ cả tin của ông ta không phải là một vấn đề cần bàn cãi.
Một lời tường thuật được công chúng biết đến rộng rãi hơn đến từ bài làm chứng cá nhân của David du Plessis là người đã quá cố được cả thế giới biết đến như là Ông Ngũ tuần, (Mr. Pentecost) và trung tâm DuPlessis thuộc Chủng Viện Fuller dành ra để nghiên cứu các vấn đề thuộc linh Cơ Đốc đã được đặt theo tên của ông. Biến cố này, theo DuPlessis đã là “quá quyền phép và quá xa lạ với các nếp sống tự nhiên của chúng ta” đến nỗi ông kềm giữ không nói đến nó suốt nhiều năm kẻo e bị hiểu lầm. 9
Ông đang học lời Chúa với hai người nam ở tại Ladybrand, Nam Phi thì có lời của Chúa đến với ông rằng ông phải lập tức đến căn nhà của một anh em đang bị quỷ ám. Ông bảo với hai người kia rằng ông sẽ chạy trước còn họ sẽ đến sau. Căn nhà cách đó chừng một cây số rưỡi. Thế rồi “toàn bộ sự việc đã xảy ra trong hai hoặc ba giây.” DuPlessis đã đi qua cổng, nghe một tiếng tách đàng sau mình, và “đó là tất cả những gì tôi nhớ được. Khi tôi nhấc chân lên để chạy, và tôi đặt chân xuống ngay trước nhà người anh em đó.” 10
DuPlessis đã đuổi quỷ và đang giúp đỡ cho người anh em này. Hai người bạn của ông xuất hiện sau đó 20 phút và thật kinh ngạc khi khám phá rằng DuPlessis đã có mặt ở đó 20 phút rồi. DuPlessis nói: “Chính lúc đó tôi đã nhận ra rằng tôi hẳn đã được vận chuyển bởi Đức Thánh Linh.” 11
Sau khi kể câu chuyện của chính mình, DuPlessis đã liên hệ đến một trường hợp khác về một người đàn ông Basuto, người đã được vận chuyển hơn 20 cây số từ một đỉnh núi này đến đỉnh núi kia cũng để đuổi một số quỷ. Sau đó, ông ta đã được đưa trở về. 12
Gia Thêm Thức Ăn
Chúa Giê-xu đã nuôi 5.000 người bằng năm ổ bánh và hai con cá trong một dịp nọ. (xem Mat Mt 14:15-21). Một trường hợp khác Ngài đã cho 4.000 người ăn với bảy ổ bánh và một vài con cá (xem 15:32-39). Mặc dầu có lẽ không nhiều người biết đến những trường hợp vận chuyển bởi Thánh Linh, các trường hợp về thức ăn được thêm nhiều lên thì khá phổ biến.
Ví dụ, Rebecca Chao, tường thuật rằng trong các chuyến đi thăm viếng các Hội Thánh nhóm tại nhà ở Trung Hoa, bà thường nghe các câu chuyện về việc thức ăn được gia thêm. Những chi tiết thì rất khác nhau, bà nói: “Nhưng trong mỗi trường hợp, Đức Chúa Trời không để cho những người tin Ngài phải bị đói.” 13 Bạn của tôi là Paul Landrey thuật lại câu chuyện về một kỳ hội nghị Cơ Đốc ông đã tham dự ở tại Ấn Độ nơi các quả chuối đã được nhân bội. Kurt Koch chứng minh bằng tài liệu việc gia thêm thịt, gạo, và chuối ở tại Inđônêsia. Ông thuật lại câu chuyện của một đội truyền giáo gồm 15 người được trao cho 9 quả chuối. Họ đã mang các quả chuối đi một quãng đường, và khi họ dừng lại để ăn, thì mỗi thành viên đều có một quả. 14
Sự gia thêm thức ăn không chỉ là một hiện tượng lạ lùng trong thời buổi ngày nay. Rex Gardner trích dẫn một trường hợp về bột cũng được gia tăng ở trong một trại mồ côi tại Pháp vào thế kỷ thứ 19. 15 Herbert Thurston, S. J. cũng làm một nghiên cứu khách quan về những việc gia thêm thức ăn trong tác phẩm của ông The Physical Phenomena of Mysticism, và kết luận: “Sẽ là một công việc bất tận nếu cố gắng biên soạn một danh sách những con người sùng kính trong cuộc đời của họ những trường hợp thức ăn gia thêm được ký thuật.” 16 Những khảo sát về sự chúc phước của nhiều người trong số các thánh đồ Công Giáo Lamã thường xuyên phát hiện những câu chuyện như thế.
Vì cớ tính công khai khá rộng rãi và sự thường xuyên của sự kiện, việc gia thêm thức ăn dưới chức vụ của Đức Cha Richard “Rick” Thomas ở tại El Paso là một trong những ví dụ nổi tiếng nhất ở tại Hoa Kỳ. Bắt đầu vào mùa Giáng sinh năm 1972. Trong một buổi học Kinh Thánh ở tại trung tâm thanh niên, ông Rick Thomas được Đức Chúa Trời thúc giục phải phục vụ một bữa tối Giáng sinh ở tại khu đổ rác ở Juarez, Mexico. Thực khách phải là những người nghèo nhất trong số những người nghèo - là những người sống nhờ vào bãi rác. Họ chuẩn bị 120 miếng bánh nướng có cuốn một lát thịt ướp hầm kiểu Mexico, một miếng dăm bông, sữa sôcôla và một số trái cây. Thức ăn có thể cũng đủ nếu số người lên đến 150, nhưng 300 người đã có mặt. Kỳ lạ thay, không những thức ăn đủ, mà mọi người còn được một lát thịt đùi dày bằng bàn tay họ. Thomas tường thuật rằng: “Mọi người đã ăn no và nhiều người đã mang các túi thức ăn về nhà. Vậy mà vẫn còn dư thức ăn.” 17 Thật vậy, trên đường về nhà, họ đã để thức ăn lại ở ba nhà trẻ mồ côi.
Trong một cuốn sách nghiên cứu dài về chức vụ của Thomas ở tại El Paso, Rene Laurentin đã cần cù sắp xếp theo thứ tự thời gian một loạt những sự gia thêm về lương thực: gia thêm bột, 12.1975; gia thêm nho, 7.1977; phân phát bơ trái và bánh nướng, 12. 1977; phân phát sữa hộp, 1.1978; phân phát nho, 7.1979; các túi bí đầy lạ lùng vào 4.1980. 18
Thậm chí gần hơn với quê nhà, một số lượng giăm bông đã được tăng thêm qua một trong các thành viên của lớp học Trường Chúa Nhật Thông Công 120 người ở tại Hội Thánh của tôi Lake Avenue Congregational. Lớp học của chúng tôi thường cung cấp các bữa ăn cho những người vô gia cư ở tại các khu nhà tình thương địa phương. Trong trường hợp này, Celeste Coleman, người điều phối chức vụ này cho chúng tôi, đã mời một thành viên khác trong lớp để phân phối dăm bông đủ cho 86 người trong Nhà Cư Trú Fair Oaks Family. Nhưng các tín hiệu bằng cách nào đó đã bị trục trặc và khi Celeste đến nơi để chuẩn bị phục vụ bữa ăn, cô khám phá chỉ có một hộp thịt dăm bông nặng 4 kílô được giao đến. Cô đã đặt tay trên hộp dăm bông và xin Chúa chúc phước để đủ cho tất cả những người có mặt ở đó. Cô không biết trong lúc cắt thịt hoặc trong lúc phục vụ bữa ăn hoặc cả trong hai lúc, nhưng tất cả 86 người đều đã ăn giăm bông no và vẫn còn thừa lại.
Việc Tạo Các Cơ Quan Mới
Tôi không nhớ bất cứ câu chuyện phép lạ nào trong Tân Ước cụ thể nhắc đến một số các cơ quan mới hoặc các chi thể mới trong cơ thể được tạo dựng. Có lẽ những ngón tay ngón chân của một số người phung được sạch đã được phục hồi, nhưng các chi tiết không được nhắc đến. Người đàn ông bị mù từ lúc sinh ra có lẽ đã nhận được một đôi mắt mới hoặc các dây thần kinh thị giác mới. Chúa Giê-xu đã chữa lành lỗ tai mà Phierơ đã chém đứt, nhưng chúng ta không biết là Ngài gắn chiếc tai cũ vào hoặc Ngài đã tạo nên một cái tai mới (xem LuLc 22:50, 51). Dầu thế nào, có một số trường hợp về các cơ quan mới đã được tạo dựng ngày nay.
Lần đầu tiên tôi nghe về những việc như vầy xảy ra là qua người bạn của tôi Omar Cabrera người Argentina. Ông thuật lại chuyện một bé gái sáu tuổi có một lá phổi bị cắt bỏ bởi phẫu thuật và lá phổi này sau đó đã được tái tạo nhờ lời cầu nguyện. Trong một trường hợp khác, một bé trai sinh ra không có hai tai được cho biết đã đột ngột có cả hai tai với một tiếng nghe kêu tách, giống như bong bóng kẹo gum nổ, vào một trong các buổi nhóm của Cabrera. Tôi nhớ lại rằng John Wimber đã gọi điện cho tôi một ngày sau khi họ kết thúc một kỳ hội đồng có các dấu kỳ và phép lạ ở tại Seattle để kể cho tôi nghe rằng có một số các bác sĩ đã chứng kiến ngón chân của một phụ nữ mọc ra.
Mọi điều đó thật thú vị đối với tôi, nhưng còn thú vị hơn nữa vào 2.1987. Người con trai và con dâu của vị tu viện trưởng Hiệp Hội Truyền Giáo Thế Giới của trường chúng tôi là Paul Pierson, có một buổi hẹn với tôi để cầu nguyện cho con trai họ. Cặp vợ chồng trẻ tuổi là Steve và Sara Pierson, đã trải qua một khoảng thời gian làm công tác xã hội ở tại Guatemala, tại đó họ đã nhận nuôi một bé trai người Guatemala tên là Christian. Cậu bé sinh ra không có hai lỗ tai. Cậu đã được lắp đặt một thiết bị nghe kỹ thuật cao trông giống như cặp headphone của hãng Sony Walkman, và với thiết bị đó cậu bé có thể nghe một ít và có thể học nói. Nhưng khi đến văn phòng hội thảo của tôi cậu chỉ có hai núm tai ở hai bên đầu mà không có các ống tai. Cậu cũng bị mù một phần ở mắt trái.
Tình trạng của cháu trông tuyệt vọng đến nỗi tôi phải thú nhận rằng tôi đã có rất ít đức tin khi đặt tay trên đầu và trên mắt trái của cháu để cầu nguyện xin Chúa chữa lành cháu trong danh Chúa Giê-xu. Không có bằng chứng bất cứ điều gì đang xảy ra, vì vậy tôi cố gắng hết lòng khích lệ Chris và bố mẹ cháu, sau đó họ ra về. Khoảng nửa giờ sau, khi đang chuẩn bị bước vào nhà hàng Marie Callender, Sara nói với Steve: “Anh có trông thấy điều em thấy không?” Ông nhìn nhận rằng ông đã thấy điều đó rồi, nhưng không định nói gì cả. Hai tai đã bắt đầu mọc lên.
Sáng hôm sau, khi đang lái xe xuống phố thì Chris nói: “Mẹ ơi, chữ b-a-k-e-r-y đọc làm sao?” Sara bảo: “Con không thể thấy bảng hiệu đó đâu, con không mang contact lens cơ mà.” Nhưng cậu bé đã thật sự thấy dòng chữ ấy. Cậu nói: “Từ khi tiến sĩ Wagner cầu nguyện cho mắt trái của con, nó đã nóng cháy, và bây giờ con nhìn rõ hơn.”
Tai của Chris chưa hoàn hảo. Nhưng đã có một cái tai nhỏ ở mỗi bên, hoàn tất bởi các ống tai. Cháu vẫn cần sự giúp đỡ của các thiết bị nghe, nhưng các hoạch định nhằm cho cháu vào một trường khuyết tật bây giờ đã thay đổi.
Bốn tháng sau đó, lớp kem trên mặt bánh đã được bổ sung khi Steve và Sara đem Chris đến một buổi cầu nguyện khác. Và Sara đề cập đến việc những phụ nữ ở cả hai bên trong gia đình cô đều có khuyết tật với phần cột sống phía trên, khiến họ phải ngã người về trước. Cô đang lo lắng bởi vì điều này ngày càng làm cho cô khó thở hơn, cô bị đau lưng mãn tính, và hơn nữa bệnh ấy khiến cô trông không được đẹp. Sara đã từng là một hoa khôi trong thị trấn của mình tại Fresno, California. Liệu tôi có cần cầu nguyện cho điều đó nữa không?
Tôi đã vui mừng để cầu nguyện. George Eckart, người điều phối đội cầu nguyện chữa lành trong lớp học Thông công Trường chúa nhật 120 người đã cùng với tôi cầu nguyện như một tổ. Chúng tôi phát hiện có một chân ngắn, và chiếc chân này đáp ứng lập tức với lời cầu nguyện. Sau đó, khi chúng tôi bắt đầu cầu nguyện cho xương lưng của cô, Đức Thánh Linh đã đến trên cô một cách hiển hiện. Cô rơi vào một trạng thái gần như hôn mê và bắt đầu run rẩy, mặc dầu cô đã đứng suốt một giờ. George và tôi cảm nhận được các xương và cơ bắp ở lưng và vai cô đang chuyển động bên dưới tay chúng tôi và xương sống của cô trở nên thẳng hoàn toàn. Điều này đáng lưu ý đến nỗi một người hàng xóm nhìn thấy cô ngày hôm sau đã hỏi có phải cô đã bắt đầu dùng một loại nịt lưng mới hay không. Cô đã cao thêm được 2 phân. Về sau, cô viết: “Đây là một sự thay đổi lạ lùng cả diện mạo thuộc thể lẫn đời sống tâm linh của tôi.”
Nhưng đó không phải là tất cả. Trong khi Đức Thánh Linh đáp đậu trên Sara, Steve đang ngồi ở dãy bên kia của phòng nhóm. Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã hành động trên anh một cách lạ thường và thúc đẩy anh cầu nguyện cho Sara để cô mang thai và có một đứa con. Trong nhiều năm, họ đã ao ước một đứa con ruột, nhưng nay họ đã bắt đầu thất vọng. Như dự kiến, điều này xảy ra hầu như lập tức. Khi tôi đang viết điều này thì tình trạng mang thai của cô đang diễn tiến tốt đẹp và mọi sự đều bình thường.
Khiến Sống Kẻ Chết
Nhiều người coi việc Chúa Giê-xu gọi Laxarơ sống lại từ kẻ chết sau bốn ngày là phép lạ tuyệt vời nhất của Chúa Giê-xu. Vì vậy, có thể đoán trước rằng những người nghi ngờ liệu những công việc Chúa Giê-xu đã làm ngày xưa có được làm ra ngày nay hay không thì cuối cùng, như Rex Gardner nói: “sẽ chơi con bài cuối cùng của họ” và bảo rằng: “Nếu những lời hứa lạ lùng vẫn còn ứng nghiệm ngày nay như bạn nói, thì việc khiến sống kẻ chết ở đâu nào?” 19
Cách đây không lâu, tôi cảm nhận là đã có được một cuộc thảo luận khá tích cực về vấn đề chữa lành với một nhà thần học được tôn trọng ở cấp độ thế giới cho đến khi đề tài khiến kẻ chết sống lại xuất hiện. Ông ra về mà không nghi ngờ gì về quan điểm của mình. Ông nói: “Chính đó - là chỗ mà tôi muốn nhấn mạnh. Chữa lành ư? Được thôi. Đuổi quỷ ư ? Có thể. Tôi sẵn sàng nói về những điều đó, nhưng khiến sống kẻ chết thì không. Đó là một thái cực mà tôi không thể khoan nhượng.”
Có lẽ tôi không phải là một người hay nói thẳng thừng, nhưng mãi đến gần đây tôi vẫn có những nghi ngờ về khả năng người chết thật sự sống lại ngày nay. Giả định trước của tôi cho rằng sự chết là một quá trình không thể đảo ngược và bất cứ sự sống lại của kẻ chết nào thì hẳn phải được giải thích bởi sự kiện người ấy chưa hề chết thật sự, mà có lẽ chỉ ở trong tình trạng hôn mê và ngừng các hoạt động của thân thể.
Một biến cố đầy kịch tính trong Hội thánh Lake Avenue Congregational của chính tôi đã giúp tôi xem xét lại sự giả định trước này. Sara Cadenhead, một bà mẹ trẻ nhóm lại ở Hội Thánh chúng tôi. Trước ngày Lễ Cảm Tạ vào năm 1982, bà đi ra sân sau nhà, chợt bà lưu ý bé trai 12 tháng tuổi của mình là John Eric, đã biến mất một khoảng thời gian. Nỗi lo sợ tồi tệ nhất của bà đã đến khi bà phát hiện cháu nằm úp mặt và đang nổi trên bể bơi trong nhà. Kéo cháu ra, bà kinh hoàng vì thấy cháu đã ngừng thở và biến sắc xanh. Bà gọi những người phụ giúp y tế khám xét cho cháu, nhưng đã quá trễ. Nhân viên y tế là Mark Nelson đã công bố cậu bé “chết lâm sàng.” 20 Trong lúc đó, một chiếc xe cảnh sát chạy ngang và những nhân viên tình nguyện đưa cậu bé đến Bệnh Viện Huntington. Vì vậy, Sara đưa cậu đi và cùng vào phòng cấp cứu.
Tình cờ, hai bác sĩ nhi khoa đảm đương ca cấp cứu này, là Richard Johnson và William Sears, đều là các thành viên trong Hội Thánh Lake Avenue Congregational. Vợ của tôi, Dorris, quan tâm đặc biệt đến trường hợp này. Cô phỏng vấn các bác sĩ khoa nhi. Và được phép của Sara Cadenhead để xem xét những báo cáo y tế này. Với các tài liệu mà cô tập hợp được, cô đã viết câu chuyện này trên tạp chí Cơ Đốc Christian Life (9.1983).
Như mọi người đều biết, John Eric đã không còn dấu hiệu của sự sống trong ít nhất là 40 phút, và có thể hơn nữa. Thuốc men đã làm hồi phục một số các phản xạ của hoạt động tim, nhưng nó giả tạo đến nỗi các bác sĩ đã viết ở trên bảng chỉ dẫn điều trị là: “Không hồi phục.”
May mắn cho Sara và John Eric, Đức Chúa Trời đã không quan tâm đến lời ấy. Một cú điện thoại đã đến với phòng thu hình của chương trình truyền hình Cơ Đốc địa phương, Trinity Broadcasting Network (TBN) và một buổi cầu nguyện đặc biệt đã được tiến hành. Vào khuya hôm đó, Sara trở lại bệnh viện để vâng theo một mạng lệnh từ nơi Chúa, bồng đứa bé trong tay mình, cô bắt đầu chà xát cháu bằng một loại dầu của bệnh viện. Sau mấy giờ đồng hồ, sự nhận biết đã bắt đầu trở lại với cơ thể cháu bé, và không bao lâu sau đó, John Eric mở đôi mắt ra và kéo cặp kính của một y tá.
Các nhà thần kinh học tiên đoán sự tổn hại của bộ não 100 phần trăm, và bảo rằng John Eric có thể sẽ sống như một loại thực vật. Nhưng trong một tuần lễ sau, cậu bé đã được xuất viện và chẳng bao lâu đã hoàn toàn bình thường trong mọi hoạt động. Nhân viên y tế ở tại bệnh viện đã đặt cho cháu cái tên là Em Bé Laxarơ. Tờ nhật báo địa phương là Pasadena Star News đã tường thuật câu chuyện, và kết thúc bằng các bức tranh, trên trang bìa dưới một hàng tít lớn: “PHÉP LẠ.” 24 Sara và John Eric đã tham dự lớp học Trường Chúa Nhật của tôi một thời gian, vì vậy tôi biết họ rất rõ.
Các sự kiện đã được chứng minh đầy đủ bằng tài liệu. Nhưng lời giải thích các sự kiện còn phụ thuộc vào thế giới quan của người quan sát. Tin là thấy. Đối với những người đã quyết định rằng chết là một quá trình không thể đảo ngược được, thì điều gì đó hơn cả phép lạ khiến sống kẻ chết đã xảy ra với John Eric.
CUỘC PHỤC HƯNG Ở TẠI INĐÔNÊSIA
Các vấn đề này đã được bàn cãi trong và sau cuộc phục hưng nổi tiếng ở tại Inđônêsia, bắt đầu vào năm 1965 và kéo dài cho đến đầu thập niên 70. Rất nhiều câu chuyện về các dấu kỳ và các phép lạ ở mức độ Tân Ước đã xuất hiện ở tại Inđônêsia vào những ngày đó, bao gồm cả một số việc người chết được sống lại.
Tin tức phấn khích đến nỗi có nhiều lãnh đạo Cơ Đốc đã bay đến Inđônêsia để đích thân chứng kiến. Một trong số họ là nhà truyền giáo học George W. Peters thuộc Chủng Viện Thần Học Dallas. Chúng ta biết nhiều hơn về chuyến thăm của Peters so với một số những người khác bởi vì ông tường thuật những điều ông phát hiện được trong cuốn sách của mình Cuộc Phục Hưng Inđônêsia (Indonesian Revival). Trong quyển sách đó, ông mạnh mẽ khẳng định lòng tin của ông đặt nơi một Đức Chúa Trời tối thượng, làm các phép lạ. Ông quả quyết nếu Đức Chúa Trời quyết định làm điều đó, thì ngày nay Ngài có thể thực hiện các phép lạ như Ngài đã làm trong thời kỳ Tân Ước.
George Peters cũng khẳng định rằng chúng ta phải thử các thần, vì vậy, ông đã quyết định đưa các câu chuyện của người Inđônêsia vào thử nghiệm. Ông đọc rất nhiều, đi du lịch khắp nơi và thực hiện vô số các cuộc phỏng vấn. Kết luận của ông là: “Tôi không nghi ngờ ngày nay Đức Chúa Trời có thể khiến kẻ chết sống lại nhưng tôi thắc mắc một cách nghiêm túc rằng vì sao Ngài đã làm điều đó ở tại Timor. Thật vậy, tôi bị thuyết phục rằng điều đó đã không xảy ra.” Sau đó, ông tiếp tục giải thích rằng: “Theo cách họ sử dụng từ ngữ sự chết, và khái niệm của họ về sự chết, họ đã kinh nghiệm sự hồi phục.” Nhưng “Theo quan niệm của tôi về sự chết thì không có những phép lạ như vậy xảy ra.” 22
Khái niệm của người Inđônêsia về cái chết là gì? Khái niệm đó có thật sự xa rời khái niệm của chúng ta không?
Một trong những người lãnh đạo cuộc phục hưng Inđônêsia tên là Mel Tari, người cũng đã ghi nhận quan sát của mình trong tác phẩm Like a Mighty Wind (Như Tiếng Gió Thổi Ào Ào) trong đó chúng ta đọc thấy đội chức vụ nhỏ bé của Tari đã được kêu gọi đến một đám tang ở tại một ngôi làng của Amfoang để an ủi gia đình đang đau buồn. Người đàn ông này đã chết hai ngày không được tẩm ướp và đang phân hủy nhanh chóng. Tari nói: “Trong đất nước nhiệt đới của chúng tôi, khi bạn qua đời được sáu giờ, thi thể sẽ bắt đầu bị phân hủy. Nhưng sau hai ngày - ô, tôi xin nói với bạn, bạn không thể đứng 30 mét cách xa người ấy. Bạn ngửi thấy mùi ấy! thật kinh khủng.” 23 Tôi phải thú nhận những nền văn hóa khác nhau nhìn sự chết theo những cách khác nhau, nhưng nếu lời mô tả của Tari là chính xác, thì điều đó nghe giống như là một ví dụ đáng tin mang tính xuyên văn hóa về sự chết.
Giữa tang lễ, Đức Chúa Trời bảo Tari và tổ nhóm của ông đứng xung quanh tử thi và hát các bài hát cho đến khi người ấy sống lại từ kẻ chết. Vì vậy, mặc dầu mùi hôi thối khiến họ phát nôn, họ đã vâng lời, đến bài hát thứ sáu thì người chết bắt đầu động đậy các ngón chân, và đến cuối bài thứ tám thì người ấy sống lại và mỉm cười. Điều này đã dẫn đến sự truyền giảng bằng quyền phép lạ lùng, và cuối cùng, Tari tường thuật, 21.000 người trong khu vực đã đến chỗ nhìn biết Chúa Cứu Thế Giê-xu qua lời làm chứng của người đàn ông này.
Nhưng bởi vì tin là thấy, một số người thậm chí vẫn không bị thuyết phục bởi trường hợp này. Những người khác thì có. Kurt Koch cũng đã đi đến Inđônêsia để khảo sát. Ông nói: “Tôi cũng vậy, đã nghi ngờ những lời tường thuật đến từ khu vực có phục hưng.” Nhưng sau khi chính mắt ông đã chứng kiến, ông nói: “Ngày nay tôi không thể nào nghi ngờ nữa từ khi đã đích thân nói chuyện với những người lãnh đạo cuộc phục hưng.” 24 Sau đó, ông tiếp tục chứng minh bằng các tài liệu một số trường hợp người chết được sống lại. Vào khoảng cùng thời gian đó Don Crawford được Ken Taylor thuộc Tyndale House sai phái để tường thuật về cuộc phục hưng này. Ông khẳng quyết trong tác phẩm của mình rằng: “Sự chữa lành bằng đức tin, việc trừ quỷ, và sự sống lại của kẻ chết, tất cả là một phần của sự kiện tôn giáo phi thường ở tại Inđônêsia.” 25
Từ khi trở thành một thành viên thuộc làn sóng thứ ba, khi đi đây đó nhiều nơi trên thế giới, tôi tập trung vào việc điều tra hỏi han về việc người chết được sống lại, và tôi đã nghe một số những lời tường thuật trực tiếp cũng như nhiều lời gián tiếp khác. Những con người tôi tôn kính như là Daisy Osborne ở Tulsa, Oklahoma và Benson Idahosa ở thành phố Benin, Nigeria và Ki Dong Kim ở Seoul thuộc Triều Tiên và những người khác mà chính họ đã được Chúa dùng để khiến người chết sống lại. Bạn thân của tôi, Paul Yonggi Cho, cách đây không lâu đã ngồi trong chính phòng khách của tôi và kể lại cho một nhóm các nhà truyền giáo học thể nào Chúa đã dùng ông để khiến chính con trai của ông là Samuel sống lại từ kẻ chết.
Có phải ý muốn của Đức Chúa Trời luôn luôn là khiến kẻ chết sống lại không? Tất nhiên là không. Tôi thích câu trả lời của một lãnh đạo Inđônêsia, người đã được Chúa dùng để khiến 12 người chết sống lại trước câu hỏi mà Lester Sumrall đặt ra: “Anh khiến họ sống lại như thế nào?” Ông nói: “Tôi chỉ nói một lời cầu nguyện đơn giản: ‘Lạy Chúa, người này đã sống hết số ngày mà Ngài định cho họ chưa?’ .... Nếu Đức Chúa Trời nói rồi, chúng tôi chôn cất người chết. Nếu Đức Chúa Trời nói chưa, chúng tôi nói: ‘chúng ta sẽ ngừng lại ngay bây giờ. Hỡi sự chết, hãy nghe chúng ta. Chúng ta phán với ngươi trong danh của Con Đức Chúa Trời vinh hiển, là Đấng đã sống lại từ kẻ chết. Hỡi sự chết, ngươi hãy lìa người ấy ngay bây giờ.’ Sự sống người ấy bèn hoàn lại.” 26
Điều này đưa chúng ta trở lại với nguyên tắc chỉ đạo cơ bản của mình: Nếu chúng ta làm những công việc mà Chúa Giê-xu đã làm, thì chúng ta, giống như Chúa Giê-xu, chỉ sẽ làm những gì chúng ta thấy Cha làm. Chính mình chúng ta không khiến người chết sống lại hoặc gia thêm thức ăn hoặc trám răng hoặc tạo những bộ phận mới trong cơ thể. Chính Đức Chúa Cha làm. Nhưng chúng ta có thể làm những ống dẫn cho Đức Chúa Cha thực hiện những điều đó, theo ý muốn Ngài, bởi quyền phép của Đức Thánh Linh.
Đó là điều mà làn sóng thứ ba hàm ý.

Ghi chú
1. Colin Brown, That You May Believe (Grand Rapids, MI: Wm B. Eerdmans Pub. Co., 1985), pp. 198,199.
2. Alban Butler, The Lives of the Fathers, Martyrs, and Other Principal Saints (New Yoric D. & Co., n.d.). Vol. ll, p. 33.
3. Bruce Olson, Bruchko (Carol Stream, IL: Creation House, 1978), pp. 159-161.
4. Eric Balley, “Christian Surfers Rely on Power of Waves to Spread the Gospel,” Los Angeles Times, Jan. 17, 1987, ll:4.
5. Francis MacNutt, Healing (Notre Dame, IN: Ave Maria Press, 1974), pp. 327-333.
6. Rex Gardner, Healing Miracles (London: Darton, Longman and Todd, 1986), p. 175.
7. Cùng tác phẩm, tr. 178.
8. Cùng tác phẩm, tr. 181.
9. David du Plessis, A Man Called Mr. Pentecost (Plainfield, NJ: Logos International, 1977), p. 82.
10. Cùng tác phẩm, tr. 84.
11. Cùng tác phẩm. tr. 86.
12. Cùng tác phẩm, tr. 86,87.
13. Rebecca Chao, “Can Miracles Ever Become Commonplace?” China and the Church Today, 1981, p. 20.
14. Kurt Koch, The Revival in Indonesia (Grand Rapids, MI: Kregal Publications, 1972). p. 134.
15. Cardner, Healing Miracles, p. 13.
16. Herbert Thurston, S.J., The Physical Phenomena of Mysticism (Chicago: Henry Regnery Co., 1952), p. 394. Reference from Rene Laurentin, Miracles in El Paso? (Ann Arbor, MI: Servant Books, 1982), p. 100.
17. Rick Thomas, “Christmas at the Dump,” Charisma, Dec. 1985, p. 55.
18. Laurentin, Miracles in El Paso? pp. 96,97.
19. Gardner, Healing Miracles, p. 137.
20. Brandon Bailey, “Miracle: One can happen-ask Buzzy’s Mom” Pasadena Star News, Pasadena, CA, Dec. 12, 1982, p. 1.
21. Trong cùng tác phẩm.
22. George W. Peters, Indonesia Revival (Grand Rapids, MI: Zondervan Publishing House, 1973), pp. 80,83.
23. Mel Tari, Like a Mighty Wind (Carol Stream, IL: Creation House, 1971), p. 66.
24. Koch, Revival in Indonesia, p. 130.
25. Don Crawford, Miracles in Indonesia (Wheaton, IL: Tyndale House, 1972), p. 84.
26. Lester Sumrall, Faith to Change the World (Tulsa, OK: Harrison House, 1984), p. 69.




Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 07:29 PM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách