† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2847|Trả lời: 0

Chức Vụ Chữa Lành - CÁC QUỶ TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 5-11-2011 08:22:36 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Chức Vụ Chữa Lành
Tác giả: C. Peter Wagner

CÁC QUỶ TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

Tôi biết rõ những nguy cơ bao hàm trong việc gộp một chương nói về ma quỷ vào trong cuốn sách này. Trước đây, tôi không viết nhiều về đề tài này, và một đôi lần khi thử làm điều đó, tôi đã bị đẩy vào một trong những sự phiền nhiễu rắc rối lớn nhất mà tôi có thể nhớ được với một số trong các đồng nghiệp quanh Chủng Viện Fuller.
Họ dán các bài viết của tôi lên Bảng Thông Báo trong Trường, tại đó, chúng trở thành vấn đề trọng tâm cho cuộc bàn cãi căng thẳng. Vị chủ tịch chủng viện mời tôi cùng với trưởng khoa của tôi đến văn phòng của ông ta để giải thích quan điểm của tôi. Thành thật mà nói, cho đến thời điểm đó tôi vẫn hoàn toàn ngây thơ về việc một số những vị lãnh đạo Cơ Đốc bực bội như thế nào về vấn đề này. Ngày nay, tôi đã được thông tin đầy đủ hơn.
Nhưng có một nguy cơ thậm chí có tiềm năng cao hơn nữa đó là việc trở thành mục tiêu tấn công của ma quỷ. Khi tôi viết điều này, những người cầu thay cho tôi đang ở trong một nhiệm vụ đặc biệt, tăng cường chức vụ cầu thay bình thường của họ cho tôi. Những người khác đã cảnh cáo chúng tôi về những nguy hiểm. Francis MacNutt, chẳng hạn, đề cập rằng ông đã xem xét việc bỏ đi một chương nói về sự giải cứu bởi vì nó gây tranh cãi quá sức.1 Michael Green nói quyển sách của ông I Believe in Satan’s Downfall (Tôi Tin Sự Sụp Đổ của Satan ) không phải là “một quyển sách dễ dàng hoặc vui thích để viết.”2
Khi tôi viết điều này , những người cầu thay cho tôi đang ở trong một nhiệm vụ đặc biệt , tăng cường chức vụ cầu nguyện bình thường của họ cho tôi
Ông cũng có nhắc đến việc C. S. Lewis được cho biết là đã cảm thấy rất giống như vậy khi viết cuốn sách kinh điển của ông là Screwtape Letters. Nếu họ mà còn bị như vậy thì huống chi là tôi.
SẴN SÀNG
Bất cứ ai muốn bắt đầu chức vụ chữa lành đều phải nhận thức rằng sớm hay muộn họ cũng sẽ có thể phải bị đối đầu với ma quỷ. Vì một lý do, bốn lãnh vực chính trong việc chữa lành nói chung bao gồm việc chữa lành tâm linh, việc chữa lành thuộc thể, việc chữa lành cảm xúc, và tất nhiên, tình trạng bị quỷ ám. Lý do còn lại là, mặc dù khi ai đó không trực tiếp xử lý với những người bị quỷ ám, nhưng làm những công việc khác của Cha mình, thì sự đối nghịch của Satan thường bị khuấy động.
Vì vậy mặc dầu đưa một chương nói về ma quỷ vào là một sự liều lĩnh, tôi cảm thấy đây thậm chí là một sự liều lĩnh lớn hơn nữa nếu để người ta đọc một quyển sách nói về làn sóng thứ ba, cầu nguyện cho người đau, mà vẫn không hề hay biết gì về những cuộc tấn công khả thi từ nơi kẻ thù là kẻ “đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (IPhi 1Pr 5:8). Phierơ nói rằng để tránh nguy hiểm, chúng ta phải “tiết độ, và tỉnh thức” (câu 8). Và phương cách được tiến cử để xử lý với kẻ thù là phải “chống cự hắn” (câu 9). Kinh Thánh không bao giờ nói rằng cách tốt nhất để xử lý ma quỷ là làm ngơ đối với hắn.
Tôi không có ý định bàn luận đến chủ đề ma quỷ và chiến trận thuộc linh thật thấu đáo. Điều đó đòi hỏi cả một quyển sách, chứ không phải chỉ một chương. Ngoài ra có một số sách rất tốt nói về đề tài này mà hiện nay đã có như là cuốn I Believe in Satan’s Downfall của Michael Green, cuốn The Adversary and Overcoming the Adversary của Mark Bubeck; Spiritual Warfare của Michael Harper, cuốn Demon Possession and the Christian của C. Fred Dickason và các tác phẩm khác. Tôi khuyên bạn hãy đọc nghiêm túc lãnh vực này, và tôi cũng khuyên bạn hãy tìm kiếm những người có chức vụ giải cứu và hãy học tập họ.
Mặc dầu tốt nhất là những người có kinh nghiệm phải được kêu gọi để xử lý với các vấn đề về ma quỷ, nhưng cũng tốt cho tất cả chúng ta để sẵn sàng mọi lúc, bởi vì nhiều nhân sự Cơ Đốc thình lình thấy mình ở trong một tình huống phải đối đầu với các quỷ một đối một, dầu họ có muốn hay không. Tôi nhớ lại đã nghe Paul Pierson, vị trưởng khoa Truyền Giáo Thế Giới ở tại Trường Fuller thuật lại kinh nghiệm của ông với tư cách một nhà truyền giáo Trưởng Lão trong các khu rừng rậm ở tại miền Tây Brazil khi ông bị đối mặt với một cô gái bị quỷ ám trong một nơi hoang vắng. Ông đã làm gì? Mặc dầu không có kinh nghiệm, ông thấy mình biết truyền lệnh cho ma quỷ phải lìa bỏ cô bé trong danh của Chúa Giê-xu và nó đã ra đi. Ông ta đã sẵn sàng. Tôi thật vui mừng bởi vì vợ tôi, Doris, đã sẵn sàng khi điều đó xảy ra vào một buổi chiều ở tại văn phòng hội thảo của tôi. Một phụ nữ có buổi hẹn cầu nguyện theo lệ thường, bởi vì bà ta bị đau nghiêm trọng nơi mắt cá. Cũng như thường lệ, song không phải là luôn luôn, tôi xin phép xức dầu cho bà. Vừa khi dầu chạm vào trán bà ta, ma quỷ đã thể hiện, hét lên nhưng tiếng lớn. Lập tức, tôi biết điều gì đang xảy ra, nhưng tôi chưa được chuẩn bị đầy đủ để xử lý nó. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là bảo ma quỷ phải im đi. Tôi đã làm điều này bằng một giọng hết sức lớn.
DORIS NẮM QUYỀN KIỂM SOÁT
Ngay vào giây phút ấy, Doris, người làm việc với tư cách thư ký của tôi ngay bên ngoài văn phòng chạy ào vào phòng và lập tức đảm nhận việc kiểm soát tình huống. Doris vừa kết thúc việc theo học một khóa bốn tuần lễ về Cứu Giúp Những Người Bị Quỷ Ám, được Carol Wimber và Gloria Thompson dạy ở tại Vineyard Christian Fellowship thuộc Anaheim. Tôi hoàn toàn kinh ngạc bởi mức độ năng lực của nàng, tư thế đỉnh đạc, khả năng tự kiềm chế hoàn toàn và uy quyền phi thường trong giọng nói của nàng. Tôi, tất nhiên không bao lâu đã nhận ra, đó chính là sự xức dầu của Đức Thánh Linh, bởi vì nàng đang làm và nói những điều mà tôi chưa bao giờ thấy nàng làm hoặc nói trước đó. Toàn bộ sự kiện kéo dài hơn một giờ đồng hồ. Tôi sớm phát hiện rằng tôi không dự phần vào công việc đó, vì vậy tôi chỉ đứng một bên ghi nhận và cầm giữ chiếc giỏ rác, là thứ tôi đưa vào dưới miệng người phụ nữ vào những lúc thích hợp.
Điều đầu tiên Doris phát hiện là có 10 con quỷ ở trong người phụ nữ này. Ngay khi nàng gọi được tên của mỗi con, nó liền xuất ra. Miệng người phụ nữ cứ cử động và sùi bọt, và khi Doris dịu dàng thuyết phục, tên này cuối cùng đã được nói ra. Thật dễ để phân biệt khi nào người đàn bà này nói và khi nào con quỷ nói. Mỗi tà linh xuất ra làm bà nghẹt thở và gầm lên một cách dữ tợn như thể đang mửa ra, và rồi bà nhổ ra một số chất nhờn.
Tà linh thứ nhất là tà linh tham dục. Thứ nhì là tà linh sợ hãi. Thứ ba là linh của sự chết, nó nói đã nhập vào người phụ nữ này khi bà 15 tuổi, năm mẹ bà qua đời. Nó nói với Doris nó to lớn và không thể ra đi được, vì nó không có chỗ nào để đi. Người phụ nữ đã khẳng định rằng bà đã bị đe dọa rất lâu và khủng khiếp về một con quái vật có bảy chân. Nhưng nó đã ra đi. Thứ tư tên là tà linh xấu xí và đã làm cho bà tin rằng hàm răng của bà xấu đến nỗi bà phải tránh đừng nhìn vào gương (hàm răng của bà bình thường). Con thứ năm là tà linh ngôn ngữ giả dối. Bà đã nhận được điều bà nghĩ là ân tứ tiếng lạ ba tháng trước, nhưng mỗi khi bà nói các thứ tiếng, điều gì đó thường đi từ bụng bà lên đến miệng và làm bà nghẹn thở. Ngay sau khi tà linh này xuất ra người phụ nữ bật lên hát một bài hát ngợi khen Chúa Giê-xu bằng tiếng Anh. Tà linh thứ sáu là tà linh thù ghét, đã nhập vào trong thời gian có khủng hoảng gia đình, năm bà 12 tuổi.
Cuộc chiến lớn nhất của Doris là với con thứ bảy, tà linh nóng giận. Nàng nói với nó: “Mày là một tà linh lớn phải không?” Và đúng như vậy. Tôi say mê quan sát Doris biết chính xác khi nào chúng nói dối, là điều chúng làm thường xuyên. Một vài tà linh khiến cho nàng phải biện luận khá nhiều, nhưng nàng luôn luôn thắng. Tà linh của sự nóng giận lắc giật đầu của người phụ nữ này dữ dội, rồi đến cổ, một cánh tay, một bàn chân, và sau đó là cả thân mình bà, rồi cổ bà rồi mắt của bà và cuối cùng là giọng nói của bà, trước khi nó miễn cưỡng xuất ra. Có nhiều tiếng ồn phát ra bởi tất cả điều này và chúng không phải là những tiếng ồn bình thường ra từ văn phòng giáo sư của chủng viện, nhưng một thư ký cảnh giác ở bên ngoài biết chính xác điều gì đang xảy ra và cô ta giữ cho mọi người bình tĩnh. Tà linh mệt mỏi đã xuất ra sau khi bày tỏ sức mạnh của nó bằng cách hầu như đẩy người phụ nữ vào giấc ngủ ngay lúc ấy tại đó. Tiếp theo là một tà linh của sự chối bỏ. Con cuối cùng là tà linh khuyết tật, đã không cho bà nhấc hai cánh tay lên trong một lúc cho đến khi nó xuất ra. Sau đó bà có thể nhấc hai cánh tay một cách bình thường.
Doris đã tư vấn giúp đỡ cho người phụ nữ này, cầu nguyện với bà, và bà tiếp tục bước tiến vui mừng. Đến lúc đó thì chúng tôi đã quên mất chỗ đau nơi mắt cá, có lẽ nó đã được chữa lành.
CHIẾN TRẬN THUỘC LINH
Một trong những lý do tôi kể câu chuyện đó là để xác quyết tôi có cho ma quỷ là thật hay không. Tôi nhất định tin có ma quỷ, và tôi còn tin rằng chúng ta đang ở trong chiến trận, mặc dù có nhiều Cơ Đốc nhân phủ nhận hoặc làm ngơ điều đó, là điều tai hại. Tôi đồng ý với câu nói mang tính tiên tri của John Wimber: “Chúng ta khoác lấy chiếc áo Cơ Đốc giáo chủ yếu là để ngưỡng mộ lẫn nhau - nghĩa là việc làm một Cơ Đốc nhân đã trở thành vui thú và hợp thời trang. Nhưng khi có ai đó bắt đầu nhắc nhở chúng ta rằng có một chiến trận thuộc linh đang diễn ra, chúng ta trở nên khó chịu - bởi vì thời gian yên lành hời hợt của chúng ta đã bị làm hỏng.” Đây chắc chắn là lý do khiến một số người phản ứng mạnh mẽ chống lại các bài viết hoặc các chương nói về ma quỷ, như chương này chẳng hạn. Nhưng, như Wimber nói: “Sự thật là dầu muốn hay không chúng ta cũng đang ở trong chiến trận giữa Đức Chúa Trời và Satan, là trận chiến đã được dấy lên từ thời Ađam và Êva.” 3
Chỉ cần nhìn quanh thế giới ngày nay cũng đủ để thuyết phục bất cứ ai và mọi người tin rằng chúng ta đang ở trong chiến trận thuộc linh. Tất nhiên, nhiều người sẽ nhìn xem, nhưng không thấy bởi vì như tôi đã nói nhiều lần, tin là thấy. Vì vậy, bước đầu tiên để hiểu được những gì chúng ta gọi là sự thực hữu của chiến trận thuộc linh là phải tin rằng ma quỷ có thật.
Cách đây không lâu lắm một đồng nghiệp của tôi, một nhà tâm lý học lâm sàng là Newton Malony, nghi ngờ không biết ma quỷ có thật hay không. Nhưng, là một giáo sư hàng đầu ở tại Trường Thần Học Fuller về môn Tâm Lý học, ông luôn hết sức quan tâm đến việc hòa nhập tâm lý học với các giáo lý, các giá trị và chức vụ Cơ Đốc. Ông là một nhà khoa học thận trọng, là người tra xét thấu đáo mọi bằng chứng có sẵn trước khi đi đến các kết luận, đặc biệt là khi chúng liên quan đến một sự chuyển đổi mô hình. Nhưng khi ông lắng nghe, và đôi khi trở nên tham gia vào, cuộc bàn thảo về các dấu kỳ và phép lạ ở tại Chủng Viện Fuller vào giữa thập niên 80, ông bắt đầu thay đổi suy nghĩ về ma quỷ.
Malony không hòa nhập với tư cách một người thuộc làn sóng thứ ba.
Việc nhận ra rằng ma quỷ đang tích cực hoạt động ngày nay ... là một điều quý giá trong việc thực hành chức vụ của nước Trời .
Nhưng bây giờ khi giảng thuyết, ông nói với các sinh viên rằng ma quỷ có thật và rằng khi chúng xuất hiện, chúng cần phải bị xử lý. Trong một bài nói chuyện gần đây ở tại Trường American Academy of Religion, ông liệt kê bốn sự lựa chọn để hiểu được tình trạng bệnh tật về tâm trí như là bệnh tật (loại bệnh điều trị), bị lừa dối (loại tâm lý), bị tước đoạt (loại pháp lý) và bị quỷ ám (loại tín ngưỡng), và khẳng định rằng không sự lựa chọn nào trong bốn điều trên được các nhà chuyên môn về sức khỏe tâm thần bỏ qua. Ông công nhận rằng nhiều người, thật vậy, đã bỏ qua khả năng của tình trạng quỷ ám, nhưng theo quan niệm của ông: “tình trạng quỷ ám không thể bị loại bỏ dễ dàng như vậy.” 4
Malony nhận diện các triệu chứng cụ thể của tình trạng quỷ ám bao gồm tình trạng tỉnh táo hay thay đổi, nhiều nhân cách, nói bằng giọng của cả hai phái, phạm thượng tôn giáo, những sự lừa dối có lôgíc chặt chẽ, sức mạnh lạ thường và thân thể có mùi ôi thiu. Ông cho rằng các nhà điều trị Cơ Đốc đã vượt lên trên sự miễn cưỡng của họ để thừa nhận tình trạng quỷ ám và nhìn vào ”khả năng hiện thực của việc đưa tình trạng quỷ ám vào giữa những giải thích khác nhau về bệnh tâm thần.” 5 Hiện nay Malony phụ giúp cho Giáo Sư Samuel Southard trong việc dạy giáo trình này CN571 Demonology and Mental Illness (Ma Quỷ Học và Bệnh Tâm Thần ).
Một số người dùng cụm từ quỷ ám, trong khi những người khác né tránh điều đó, cảm thấy rằng từ đó cường điệu tình huống. Từ của Kinh Thánh là daimonizomenoi (quỷ ám) đôi khi được dịch là “bị sở hữu bởi một quỷ,” như đã được định nghĩa, ví dụ, trong cuốn The New International Dictionary of New Testament Theology (Từ điển Quốc tế Mới về Thần học Tân ước ) của Colin Brown.6 Nhưng hầu hết những người tôi biết là có tham gia thường xuyên vào các chức vụ giải cứu thì thích cách dịch theo tiếng Hy lạp, dịch sang tiếng Anh là demonized (quỷ ám ) hơn. John Wimber, chẳng hạn, nói rằng: “Tôi không tin rằng các quỷ có thể sở hữu hoàn toàn con người trong khi họ vẫn còn sống trên đất; mặc dầu có một số quỷ đã dành được mức kiểm soát rất cao, con người vẫn có thể thực thi mức độ ý chí tự do nào đó có thể dẫn tới sự cứu rỗi và giải cứu.” 7 Tôi tin chắc rằng miễn là chúng ta nhận biết tình trạng này đến ở các mức độ khác nhau, cụm từ tình trạng quỷ ám là từ chính xác nhất được sử dụng, bởi vì nó chuyển đạt ý nghĩa chính xác nhất và nhạy bén nhất mang tính mục vụ.
MỘT PHÉP LẠ CỦA NƯỚC TRỜI
Trong chương 4, tôi cố gắng giải thích thế nào sự dạy dỗ của Kinh Thánh về Nước Đức Chúa Trời đã cho chúng ta một khung sườn để hiểu được các chức vụ thuộc loại làn sóng thứ ba hiện nay. Việc đuổi quỷ là một trong số các dấu kỳ cho thấy sự hiện diện của nước Đức Chúa Trời trong thế giới ngày nay. Chúa Giê-xu đã phán: “Nhưng nếu ta cậy ngón tay Đức Chúa Trời mà trừ quỷ thì nước Đức Chúa Trời đã đến nơi các ngươi rồi” (LuLc 11:20). Khi Chúa Giê-xu lần đầu tiên sai phái 12 sứ đồ, “Ngài đã ban cho họ quyền phép trừ tà ma” (Mat Mt 10:1). Sau đó, Ngài đã sai phái 70 môn đồ là những người đã trở về thưa rằng: “Lạy Chúa, vì danh Chúa, các quỷ cũng phục chúng tôi” (LuLc 10:17). Phần kết thúc dài hơn trong sách Mác thì chép như vầy: “Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ này: lấy danh ta mà trừ quỷ” (Mac Mc 16:17).
Việc nhận biết ma quỷ đang hoạt động tích cực ngày nay không những trong một số những người mắc bệnh tâm thần, mà còn trong nhiều lãnh vực khác của đời sống hàng ngày, là một thứ hiểu biết quý báu để thực hiện công tác của nước Trời. Nước Trời đã đến để hủy phá nước của Satan, và một số trong xung đột do hậu quả của điều đó là tình trạng hỗn độn. Ở nhiều nơi trên thế giới, như tôi đã vạch ra cách đây không lâu, người ta sống hết ngày này sang ngày khác trong mối liên hệ trực tiếp với các tà linh. Nhiều người trong chúng ta có lẽ có thế giới quan với “khoảng giữa bị loại trừ” nhưng họ thì không. Trong tâm trí của họ món quà quý nhất mà Chúa Giê-xu có thể đem đến cho họ là quyền năng để đánh bại các tà linh. Sự tha tội cũng quan trọng đối với họ, nhưng nằm bên dưới trong chương trình.
Trường Hợp của Brazil
Hãy lấy Brazil làm điển hình. Thông linh, vốn có nguyên lý chính của nó như là việc đưa người ta vào mối tiếp xúc trực tiếp với thế giới linh, là một thói quen của cả dân tộc. Người ta báo cáo rằng 70 phần trăm dân cư Brazil thường xuyên lui tới hơn 300.000 trung tâm duy linh.8 Trong các trận bóng đá, các đội ganh đua nhau hợp đồng với các nhà thông linh để bùa ếm lẫn nhau. Các thầy pháp tiến hành giải phẫu mà không gây mê, không gây đau đớn hoặc chảy máu. Các đám đông lên tới 250.000 người tụ tập ở các bờ biển thuộc Praia Grande để dự lễ hội hàng năm của nữ thần biển. Một số các quan chức chính phủ thường xuyên hỏi ý các thầy đồng trước khi có những quyết định quan trọng.
Tốc độ gia tăng của sự thờ cúng và thông linh của người Brazil thật đáng sợ. 70 phần trăm ngày nay tượng trưng cho một số lượng gia tăng từ chỉ 8 phần trăm cách đây 40 năm. Hệ thống Công Giáo Lamã đã suy yếu vô cùng. Khảo sát cho thấy chỉ có 2,5 phần trăm người Brazil tìm kiếm các linh mục hoặc các mục sư để tìm sự trợ giúp trong những ngày này bởi vì họ coi những người ấy là không có quyền để xử lý các tác hại của phù chú phép thuật.9 Chỉ có Hệ Thống Ngũ tuần là có thể theo kịp sự phát triển của thông linh, chủ yếu bởi vì những người Ngũ tuần nói chung hiểu được chiến trận thuộc linh và không lẫn tránh nó. Nhà truyền giáo Giám Lý Tự Do là C. Wesley King nói rằng: “Thực tế thì, thông linh và những người Ngũ tuần đều bị nhốt trong một chiến trận thuộc linh vì linh hồn của dân tộc này.” 10
Thật đáng buồn khi nghe một báo cáo từ Valdemar Kroker rằng ở tại Brazil đại đa số các nhóm Tin Lành giữ quan niệm “càng tránh tiếp xúc với giới thông linh chừng nào càng tốt.” Tôi đồng ý với Kroker, là người nói rằng “một thái độ chạy trốn như vậy khỏi thực tế là điều không thể khoan nhượng được trong thời buổi của chúng ta.” 11 Điều này chắc chắn sẽ không làm cho công việc truyền bá Tin Lành trên thế giới được thực hiện. Nhà lãnh đạo người Brazil là W. Robert McAlister nói rằng: “ Nếu một nhà truyền giáo không thể đuổi được ma quỷ, người ấy nên về nhà là hơn.” 12
Hoa Kỳ Cũng Vậy Ư?
Một số người Mỹ có lẽ tìm sự an ủi trong việc cho rằng Brazil đã đi quá xa. Nếu vậy, họ cần phải có một cái nhìn kỹ càng hơn về đất nước của chính mình. Một khảo sát tiếp thị gần đây đã cho biết trong một năm trung bình có khoảng 8 triệu người Mỹ mua các sách báo, tạp chí về tà thuật, các bùa ngãi, những sợi dây đeo và các thứ linh tinh khác về bùa chú. Cuốn Handbook of Supernatural Powers (Cẩm Nan Các Quyền Lực Siêu Nhiên ) đã bán được 529.521 quyển và cuốn Magic Power of Witchcraft (Pháp Thuật của Phù Thủy ) bán được 121.365 cuốn. Theo một báo cáo của Jim Ammerman thuộc Giới Tuyên Úy của Các Hội Thánh Tin Lành Trọn Vẹn thì Lực Lượng Không Quân đang xem xét việc thừa nhận những người thờ Satan vào chức vụ tuyên ý.
Kẻ giết người hàng loạt là Charles Manson đã xuất hiện trước tòa trong lời hứa danh dự mới đây nhất của hắn ta trước khi mãn hạn tù với một dấu chữ vạn của những người thờ Satan được sơn trên trán. Kẻ lẩn khuất trong ban đêm là Richard Ramirez đã phô trương một hình ngôi sao năm cạnh của những người thờ Satan được sơn trên lòng bàn tay của hắn và đã hô lớn: “Hoan hô Satan” khi ra trước tòa lần đầu. Một số các loại nhạc rock ầm ĩ chứa đựng những giai điệu tình tứ thẳng thừng trơ trẽn của những người thờ Satan, và việc trá hình xấu xa tinh vi hơn đã được phát hiện trên các đĩa nhạc rock khác. Các nhân viên thi hành luật đang tham dự các khóa hội thảo hướng dẫn họ cách phát hiện và xử lý việc lạm dụng tình dục trẻ em qua các nghi thức tế lễ và dâng sinh tế bằng người.
Nhiều người sẽ nhanh chóng khẳng quyết: “Không ai trong số các bạn bè hoặc bà con tôi tham gia vào loại công việc đó.” Điều đó có thể đúng, nhưng tôi nghĩ Michael Harper đã tỏ ra hết sức khôn ngoan khi ông nói: “Tôi tin chắc rằng nhiều người đang là những tù nhân của các loại quyền lực ma quỷ này và họ ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta về mặt thuộc thể, về mặt tình cảm và mặt tâm linh nhiều hơn điều hầu hết mọi người được chuẩn bị để thừa nhận.” 13 Không phải chúng ta đang “tìm kiếm một con quỷ đằng sau mỗi bụi cây,” như một số người nói. Nhưng chúng ta phải rõ ràng. Nếu có một con quỷ đằng sau một bụi cây của tôi, thì tôi cần phải đuổi nó đi. Và tôi tin bạn cũng vậy.
Ma Quỷ và Cơ Đốc Nhân
Khi có một người như Michael Harper đưa ra một tuyên bố về ảnh hưởng lan tràn của ma quỷ trong thế giới ngày nay, ông có loại trừ những Cơ Đốc nhân không? Hầu hết các Cơ Đốc nhân, kể cả chính tôi, đều ước gì điều đó là thật. Tức là ma quỷ không làm hại được các Cơ Đốc nhân. Một số người thậm chí đã biến những điều ước ao đó thành công thức và hình thành các quan điểm mang tính giáo lý. Một trong những điều ngạc nhiên lớn nhất mà tôi nhận được không lâu sau khi bắt đầu hoạt động trong làn sóng thứ ba, đó là, điều có thể được gọi là giáo lý về sự miễn trừ của người Cơ Đốc khỏi tình trạng quỷ ám.
Tôi hẳn sẽ không ngạc nhiên khi nghe những suy đoán như vậy từ giới những người Tin Lành của chính mình, nơi mà mức độ hiểu biết và thông thạo trong chiến trận thuộc linh may lắm thì ở mức độ nhỏ hơn. Nhưng sự ngạc nhiên đến khi tôi phát hiện rằng một số lượng đông đảo những người Ngũ tuần đã đồng ý với những người Tin Lành truyền thống về điểm này. Thật vậy, cách đây khá lâu một giáo phái Ngũ tuần đông đảo nhất trong tất cả là giáo phái Assemblies of God, đã cho ra đời một tuyên bố chính thức dài 15 trang nói về “Liệu những người tin Chúa đã được sanh lại có bị quỷ ám không?” Câu trả lời của họ là không. Sau khi làm việc qua những lập luận mang tính lịch sử và Kinh Thánh, tuyên bố này kết luận: “ Mưu chước tinh vi của ma quỷ là làm cho những con người chân thật kiện cáo các Cơ Đốc nhân ngày nay mắc một quỷ.” Tuyên bố này không phủ nhận ma quỷ là thật và có một số người bị quỷ ám, nhưng nó lập luận rằng chính việc một người bị quỷ ám là bằng chứng cho thấy người ấy không thể là một Cơ Đốc nhân chân chính. Bảng tuyên bố khẳng định: “Chỉ khi nào chúng ta bị cắt khỏi gốc nho và bị ném ra ngoài như là một nhánh chết thì Satan hoặc các quỷ sứ của nó mới nắm giữ chúng ta.” 14
Nếu tôi cảm thấy đây là một vấn đề thuộc tầm quan trọng thứ yếu, như Hội Thánh có thể làm báp tem bằng cách rảy nước không, hoặc chúng ta có thể phục vụ rượu thật ở tại tiệc thánh không, hoặc Chúa Giê-xu đến trước cơn đại nạn hay sau cơn đại nạn, thì tôi hẳn sẽ không đưa vấn đề này ra. Nhưng theo quan điểm của tôi đây là một vấn đề quan trọng trong chức vụ. Khi Chúa Giê-xu công bố chương trình của nước Trời ở tại nhà hội xứ Naxarét, một trong các chương trình của Ngài là “kẻ hà hiếp được tự do” (LuLc 4:19). Nếu những Cơ Đốc nhân ở giữa vòng những kẻ bị hà hiếp, họ phải được giải phóng. Tôi tin có một số người đang bị hà hiếp.
SỰ PHIỀN NHIỄU Ở TẠI FULLER
Sự phiền nhiễu mà tôi thấy mình bị lâm vào ở tại Chủng Viện Fuller, là điều tôi có nhắc đến ở đầu chương này, xoay quanh vấn đề này. Nhiều người trong số các đồng nghiệp của tôi, tôi nhanh chóng khám phá ra, đã đồng ý với Hội Assemblies of God. Một điều tôi đã học được qua toàn bộ vấn đề này đó là tôi cần phải nghiên cứu thấu đáo và chuẩn bị cho vấn đề này. Và tôi đã có. Kết quả cuối cùng đó là tôi vẫn cho rằng những Cơ Đốc nhân đã sanh lại có thể bị quỷ ám. Liệu tôi có sai lầm không? Có. Tôi sẽ là người đầu tiên thừa nhận rằng tôi đang lo lắng đối chọi quan điểm của mình với Hội Assemblies of God. Nhiều người trong số những bạn hữu tôi tôn trọng đã không đồng ý với tôi, và họ có lẽ là những người đúng. Vậy thì thế nào?
Mặc dù ma quỷ đã bị đánh bại ở tại thập tự giá , nó vẫn chưa bước vào hồ lửa , và trong lúc đó nó vẫn là một kẻ thù đáng gờm .
Như chúng ta đã thấy trước đây, ma quỷ đã bị đánh bại khi Chúa Giê-xu bước lên thập tự giá. Đức Thánh Linh, chứ không phải ma quỷ, cư trú trong mỗi người chúng ta là người đã tin Chúa. Phaolô viết rằng: “Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao?” (ICo1Cr 6:19). Kết quả là chúng ta có thể quả quyết với lượng đức tin lớn rằng “Đấng ở trong các con là lớn hơn kẻ ở trong thế gian” (IGi1Ga 4:4). Kết hợp mọi điều này lại với nhau, bạn có thể có cơ sở vững chắc để kết luận rằng Satan hoặc các quỷ sứ nó không có thể nào làm khổ một Cơ Đốc nhân.
Nhưng ngay cả những người đã lập luận như vậy cũng thường đưa điều này đến một cực đoan. Ví dụ, họ công nhận vai trò tích cực của Satan trong việc cám dỗ thậm chí những Cơ Đốc nhân để phạm tội. Một số cám dỗ đến từ thế gian và một số đến từ xác thịt, nhưng cũng có một số đến từ ma quỷ. Họ biết rằng Phierơ đang viết thư cho các Cơ Đốc nhân khi ông cảnh cáo họ phải chống cự ma quỷ, là kẻ như sư tử rống. Hằng ngày họ phải tìm cách mang lấy chiếc thuẫn đức tin “để anh em có thể dập tắt mọi tên lửa của kẻ dữ” (Eph Ep 6:16). Họ biết rằng, mặc dù ma quỷ đã bị đánh bại ở tại thập tự giá, nó vẫn chưa bắt đầu ở trong hồ lửa, vì vậy trong lúc này nó vẫn là một kẻ thù đáng gờm. Một số người, bao gồm cả Hội Assemblies of God, sẽ nói rằng mặc dầu Cơ Đốc nhân không thể bị quỷ ám, song họ có thể bị ức hiếp bởi ma quỷ. Với toàn bộ điều này, rốt lại có lẽ chúng ta cũng không ở quá xa nhau trong những quan niệm của mình.
Theo khảo sát của tôi, tôi đã lưu ý một số điều. Ví dụ, hầu hết những người mà chính mình họ tham gia tích cực vào một chức vụ đuổi quỷ hoặc giải cứu đều khẳng định rằng Cơ Đốc nhân có thể bị quỷ ám. Vì một lý do nữa, tôi đã từng khám phá rằng một số những lãnh đạo Cơ Đốc đã thay đổi quan niệm của họ về vấn đề này trong những năm gần đây. Nhưng những thay đổi mà tôi nhận xét tất cả đều ở về cùng một phía, tức là từ chỗ một lần không tin ma quỷ có thể làm hại các Cơ Đốc nhân đến chỗ hiện nay khẳng định rằng chúng có thể và làm được.
Ví dụ, mục sư nổi tiếng và là người viết sách Charles Swindoll đã nhắm vào câu hỏi này là liệu Cơ Đốc nhân có thể bị quỷ ám không bằng cách nói rằng: “Trong suốt một số năm, tôi đã thắc mắc vấn đề này, nhưng bây giờ tôi tin chắc rằng điều đó có thể xảy ra.” Trong chức vụ tư vấn của ông với các Cơ Đốc nhân, Swindoll nói: “Trong một vài trường hợp, tôi đã giúp đỡ họ trong tiến trình đau đớn để gỡ họ khỏi ma quỷ.” 15 Nhà truyền giáo Báptít ở miền Nam là James Robison cũng nói rằng có một thời gian ông không tin rằng Cơ Đốc nhân cần đến chức vụ giải cứu, cho đến khi ông đã được giải cứu khỏi một con quỷ mà đối với ông như là một móng vuốt trong đầu óc của ông.16
Edward Murphy thuộc Các Chiến Dịch Truyền Giáo Hải Ngoại đã làm chứng ông tưởng những Cơ Đốc nhân tự động được bảo vệ khỏi tình trạng quỷ ám, cho đến khi chức vụ của ông kinh nghiệm ở tại châu Mỹ Latinh và chức vụ tư vấn của ông với các sinh viên Cơ Đốc ở tại Trường Đại Học Biola đã đẩy ông đến việc tái xem xét lại quan điểm của mình.17
QUAN ĐIỂM CỦA FRED DICKASON
Tôi có thể dẫn chứng những người khác, như là Paul Yonggi Cho, Michael Green,Kurt Koch, Francis MacNutt, Jack Hayford, John Wimber, David du Plessis, Charles Kraff, Derek Prince hoặc bất cứ những nhân vật Cơ Đốc nổi bật khác đã từng học tập bằng kinh nghiệm rằng Cơ Đốc nhân có thể bị quỷ ám, nhưng trường hợp mạnh mẽ nhất mà tôi vừa chứng kiến hỗ trợ ý tưởng cho thấy Cơ Đốc nhân có thể bị quỷ ám không đến từ một người Ngũ tuần hoặc một người thuộc nhóm ân tứ mà là từ một người Tin Lành truyền thống, C. Fred Dickason. Dickason là chủ tịch của Ngành Thần Học ở tại Học Viện Kinh Thánh Moody. Cuốn sách của ông Demon Possession and the Christian (Tình Trạng Quỷ Ám và Cơ Đốc Nhân ) bao gồm 350 trang lý luận chi tiết cách thận trọng.
Dickason trước hết xem xét bằng chứng của Kinh Thánh. Ông chịu khó xem xét các đoạn văn trong Kinh Thánh đã từng được sử dụng qua nhiều năm để chứng minh rằng Cơ Đốc nhân không thể bị quỷ ám. Sau đó ông nghiên cứu tương tự với các đoạn Kinh Thánh đã được sử dụng cho sự lập luận ngược lại. Kết luận của ông là: Không bên nào thắng cả. Thực tế là, theo Dickason, chúng ta không thể tìm được bằng chứng dứt khoát theo Kinh Thánh hoặc ủng hộ hoặc chống lại việc người tin Chúa bị quỷ ám.
Ông tiếp tục làm tương tự với các luận chứng về thần học và đi đến cùng một quyết định. Ông nói: “Từ những khảo sát và phân tích dành cho những luận chứng bênh vực và chống đối, chúng ta kết luận rằng chúng ta không thể nói với sự chính xác hợp lý rằng quan điểm nào là đúng.” 18
Bước kế tiếp của Dickason là quay sang những bằng chứng lâm sàng. Khi thực hiện, ông sử dụng một phân tích hết sức sáng tỏ. Ông giả định rằng trước khi đi đến thắc mắc là liệu Cơ Đốc nhân có thể bị quỷ ám không, hẳn sẽ ích lợi trước hết để đưa ra câu hỏi: Liệu Cơ Đốc nhân có bị ung thư không?
Kinh Thánh nói gì về vấn đề này? Vâng, Kinh Thánh nói rằng bệnh tật là thật, và nó bắt đầu làm khổ dòng dõi loài người như là một hậu quả của tội lỗi, và rằng Cơ Đốc nhân và người không tin Chúa đều có thể mắc bệnh giống nhau. Nhưng không có đoạn nào trong Kinh Thánh nói đến vấn đề là Cơ Đốc nhân có mắc ung thư hay không.
Trong trường hợp đó, chúng ta được chứng minh là đúng trong việc quay sang kinh nghiệm của loài người và xem xét bằng chứng lâm sàng. Điều này không đặt kinh nghiệm con người vào một mức độ bằng với hoặc ở trên sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Khi Kinh Thánh cho chúng ta sự dạy dỗ rõ ràng về một vấn đề nhất định, thì chúng ta giải thích kinh nghiệm con người theo ánh sáng của sự mặc khải. Nhưng khi Kinh Thánh không nói rõ về một vấn đề nào đó, thì hợp lệ cho chúng ta để học tập và áp dụng điều chúng ta học tập từ kinh nghiệm con người, miễn là những kết luận của chúng ta không đi ngược lại với Kinh Thánh.
Bằng chứng lâm sàng cho thấy có nhiều người xưng nhận đã được sanh lại, là những thành viên tốt của Hội Thánh, là những người được kể là Cơ Đốc nhân bởi những người khác, thật sự cũng đã mắc ung thư. Vậy thì điều này bỏ chúng ta lại ở đâu? Nếu chúng ta đã quyết định trước thời điểm rằng Cơ Đốc nhân không thể mắc ung thư, thì rõ ràng là không ai mắc ung thư có thể là Cơ Đốc nhân cả, bất chấp điều người ấy suy nghĩ. Sự lập luận như vậy rõ ràng là lố bịch. Chỉ vì Kinh Thánh không nói trực tiếp rằng Cơ Đốc nhân có thể mắc ung thư thì chưa đủ bằng chứng để chối bỏ sự thật.
Nhưng, Fred Dickason chỉ ra sự lý luận tương tự được sử dụng để lập luận rằng Cơ Đốc nhân không thể bị quỷ ám. Thật thế, Kinh Thánh không nói trực tiếp rằng họ có thể bị. (mặc dầu có một số câu Kinh Thánh mạnh mẽ nghiêng về hướng ấy). Nhưng bằng chứng lâm sàng thật sự chứng tỏ rằng những người bởi sự nhất trí chung bày tỏ những dấu hiệu của một Cơ Đốc nhân đích thực đã từng bị và hiện nay vẫn bị quỷ ám.
Để bắt đầu, Dickason đã viện dẫn chính chức vụ của ông, ông nói: “Từ năm 1974 đến 1987 tôi đã đối đầu với ít nhất 400 trường hợp những người là Cơ Đốc nhân thực thụ cũng đã bị quỷ ám.” Mặc dầu ông thừa nhận mình không phải là người không mắc sai lầm, nhưng ông quả quyết: “Tôi biết các dấu hiệu của một Cơ Đốc nhân và các dấu hiệu của một người bị quỷ ám.” 19 Trong rất nhiều trường hợp sự chẩn đoán của chính ông đã được khẳng định bởi các mục sư, các nhà tâm lý, và những người điều trị bệnh tâm thần. Ông cung cấp nhiều bằng chứng ví dụ cụ thể xác thực bổ sung cho giá trị của cuốn sách tuyệt vời của ông.
Trước khi tiếp tục, tôi biết một số người sẽ nói: “Được thôi, Wagner không chứng minh được theo Kinh Thánh rằng những Cơ Đốc nhân có thể bị quỷ ám.” Về một mặt thì điều đó đúng, nhưng mặt khác thì không đúng. Mặc dầu không có đoạn Kinh Thánh nào bàn trực tiếp đến vấn đề này, nhưng một số trưng dẫn gián tiếp quan trọng không thể bị bỏ qua. Khi Phaolô, trong Eph Ep 6:1-24, cho chúng ta biết rằng không phải chúng ta chiến đấu với xác thịt và huyết, mà là cùng các thế lực, các chủ quyền và các thần dữ ở các nơi trên trời, chúng ta phải nhận biết rằng ông đang viết cho các Cơ Đốc nhân. Ông nói rằng chúng ta phải mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời (xem Eph Ep 6:13) và rằng những tên lửa của kẻ dữ đang bắn vào chúng ta (xem 6:16). Nói cách khác, ma quỷ có thật và Cơ Đốc nhân cần phải cẩn thận đặc biệt để bảo vệ chính họ. Nếu không, họ có thể bị làm hại. Thật khó mà hiểu đoạn Kinh Thánh này theo một cách khác.
Tương tự, Phierơ cũng cảnh cáo những anh em Cơ Đốc hãy tiết độ và tỉnh thức bởi vì “kẻ thù nghịch anh em là ma quỷ như sư tử rống đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (IPhi 1Pr 5:8). Tôi đã nói điều này rồi, nhưng tôi cảm thấy cần phải nhắc lại. Nói theo thần học, ma quỷ không toàn tại - duy có Đức Chúa Trời toàn tại. Ma quỷ không đích thân làm các công việc ác của nó mà giao cho vô số các quỷ sứ nó. Vì vậy, Phierơ tiếp tục nói với các Cơ Đốc nhân rằng chúng ta phải chống cự ma quỷ (xem 5:9), một kết luận hợp lý là ông đang muốn bảo chúng ta phải chống cự ma quỷ. Nếu như Cơ Đốc nhân không bị ma quỷ làm hại thì vì sao Kinh Thánh nhấn mạnh điều đó?
Tôi không nói điều này để làm cho Cơ Đốc nhân sợ, mà tôi nói ra để chúng ta được cảnh tỉnh. Nói về Satan, Martin Luther đã nói trong “Chúa vốn bức thành kiên cố” rằng “thúc thủ khi Christ phán một lời.” Lời ấy chính là Chúa Giê-xu, và quyền phép của Chúa Giê-xu, được thực hiện qua Đức Thánh Linh, là lớn hơn bất cứ điều gì ma quỷ có thể đối đầu.
CÁC LINH LÃNH THỔ
Việc biết rằng Cơ Đốc nhân có thể bị quỷ ám và rằng Đức Chúa Trời ban cho chúng ta uy quyền và quyền phép để giải phóng họ khỏi sự áp bức sẽ ích lợi rất nhiều khi chúng ta tìm cách áp dụng những sự hiểu biết đến từ làn sóng thứ ba vào chính Hội Thánh của mình. Nhưng còn về trọng tâm hướng ra bên ngoài của chức vụ chúng ta thì sao? Còn về việc giảng Tin Lành cho người hư mất? Việc đi vào thế gian để đem Tin Lành đến với những nhóm người chưa biết Chúa Giê-xu? Liệu làn sóng thứ ba có giúp được chúng ta ở những lãnh vực này không?
Tôi tin rằng được theo nhiều cách. Tất cả những gì tôi đã nói về việc truyền giáo bằng quyền phép là để áp dụng ở đây. Chúng ta đã thấy rằng các dấu kỳ và các phép lạ đang giúp đưa một số lớn người vào nước Trời khắp nơi trên thế giới. Ở nhiều nơi bí quyết để rao giảng Tin Lành chính là sự đối đầu bằng quyền phép. Nhưng có một loại đối đầu bằng quyền phép ngấm ngầm có tiềm năng lớn đối với việc tăng tốc công cuộc truyền giáo thế giới mà những nhà lãnh đạo Cơ Đốc dường như biết tương đối ít về nó. Tôi muốn nói đến việc bẻ gãy quyền lực của các tà linh lãnh thổ.
Chúng ta đọc thấy trong IICo 2Cr 4:4 rằng Satan có thể thành công trong việclàm mù tâm trí của những người không tin để họ không nhận được Tin Lành. Điều này chắc chắn ám chỉ đến những cá nhân, nhưng liệu đó có phải cũng ám chỉ đến những lãnh thổ không? Có thể điều này hàm ý các quốc gia chăng? Các tiểu bang chăng? Các thành phố chăng? Các nhóm văn hóa chăng? Các bộ tộc chăng? Các mạng lưới xã hội chăng? Trong ngụ ngôn về người gieo giống, Chúa Giê-xu đã phán rằng hạt giống của Lời Chúa rơi trên đất không đem lại kết quả, bởi vì “quỷ Satan đến, cướp lấy đạo đã gieo trong lòng họ đi” (Mac Mc 4:15). Lý thuyết về sự tăng trưởng Hội Thánh đã từ lâu nhận ra được hiện tượng của những con người chống đối. Có lẽ đây ít ra cũng là thuộc loại chống đối gây ra do sự làm việc trực tiếp của các thế lực ma quỷ không?
Chiến Trận Lớn Nhất của Sumrall
Để minh họa, chúng ta hãy xem xét một sự kiện đầy kịch tính xảy ra cách đây mấy năm ở tại Philippines dưới chức vụ của Lester Sumrall. Ông kể lại rằng ông đã tiếp tục sứ mạng truyền giáo mở rộng cho người Philippines, bởi vì ông cảm biết đã nghe được một lời trực tiếp từ Đức Chúa Trời bảo ông hãy đi và những việc lớn sẽ xảy ra. Nhưng sau 5 tháng truyền giảng, chỉ có năm người được cứu. Rõ ràng, có điều gì đó đã trục trặc.
Một buổi tối nọ, Sumrall nghe một chương trình phát thanh đề cập đến một người tên là Clarita Villanueva bị giữ trong Khám đường Bilibid. Một sinh vật nào đó mắt không thấy được dường như đang cắn bà, để lại những dấu răng sâu trên cổ, trên cánh tay và cẳng chân. Bà thường cư xử như một con thú, cắn xé, cào cấu và đấm đá các bác sĩ. Phương tiện truyền thông đã mô tả tình trạng của bà. Suốt trong giờ phát thanh đó, Sumrall cảm thấy Chúa đang kêu gọi mình hãy đi đến nhà tù này và đuổi quỷ cho bà ta. Ông đã cầu nguyện suốt đêm hôm đó, và sáng hôm sau ông đến xin phép thị trưởng. Vị thị trưởng nói rằng bà ta là một phù thủy và không ai được phép đến gần. Nhưng sau khi đã ký vào một giấy phép hợp pháp, ông được đưa đến phòng giam của bà.
Giây phút trông thấy bà, một trong các quỷ đã nói bằng tiếng Anh (mặc dầu người đàn bà này bản thân không hề nói tiếng Anh): “Ta không thích mày!” Nó rủa sả Sumrall, Đức Chúa Trời và huyết của Chúa Cứu Thế. Sumrall nói: “Tôi đã bước vào một chiến trận lớn nhất trong đời mình,” nhưng nhờ quyền phép của Đức Thánh Linh ông đã đuổi được các quỷ và dẫn bà đến với Chúa Cứu Thế. Sumrall kể lại rằng: “150.000 người đã kinh nghiệm sự cứu rỗi bởi phép lạ lớn lao này” và “kể từ ngày đó Philippines đã có phục hưng.” 20
Tôi không chắc liệu sự thật là có phải quyền lực của một hoặc nhiều tà linh lãnh thổ đã bị bẻ gãy vào thời điểm đó hay không. Nhưng trong những năm gần đây, mức độ phát triển Hội Thánh đã tăng tốc đáng kể ở tại Philippines. Tôi viện dẫn biến cố này bởi vì tôi tin nó là một loại chức vụ mà chúng ta cần phải xem xét nghiêm túc hơn là nhiều người trong chúng ta đã từng có trong quá khứ. Tôi phải cho việc sử dụng sự giải cứu của Clarita Villanueva như là một giả định để một số thay đổi phổ quát có thể xảy ra, sẽ là một con đường tìm kiếm đầy kết quả cho công cuộc truyền giáo và sự tăng trưởng của Hội Thánh.
Các Tà Linh Argentina
Trong số các bạn hữu của cá nhân tôi, người từng có kinh nghiệm nhiều nhất trong việc xử lý các tà linh lãnh thổ là một người Argentina, Omar Cabrera, mục sư của Hội Thánh Khải Tượng Tương Lai. Một nét độc đáo của Hội Thánh ông là nó không bị tập trung hóa, nhóm lại đồng thời trong hơn 40 thành phố khắp các khu vực trung ương của Argentina. Omar và vợ ông, là Marfa, đi 7.000 dặm một tháng, hầu hết là bằng xe gắn máy, dẫn dắt Hội Thánh, với số lượng thành viên vào khoảng 145.000 người. Làm thế nào mà ông đưa Hội Thánh mình vào một vị trí mới như vậy?
Công việc quan trọng bao quát của ông, sau khi một địa điểm có tiềm năng đã được chọn, là đăng ký một khách sạn và biệt riêng mình trong một căn phòng để cầu nguyện và kiêng ăn. Thường ông mất từ hai đến ba ngày đầu để Thánh Linh thanh tẩy chính mình, để giúp ông từ bỏ chính mình và hiệp một với Chúa Giê-xu. Ông cảm thấy ông “lìa khỏi thế gian” và ở trong một lãnh vực khác, nơi chiến trận thuộc linh diễn ra. Những cuộc tấn công của kẻ thù đôi khi trở nên ác liệt. Ông thậm chí thấy được một số tà linh trong hình dạng thuộc thể. Mục tiêu của ông là học biết tên của chúng và bẻ gãy quyền lực của chúng trên thành phố. Thường phải mất từ năm đến tám ngày, nhưng đôi khi nhiều hơn nữa. Một lần ông dành 45 ngày trong chiến trận. Nhưng khi đã kết thúc, những người tham dự các buổi nhóm thường xuyên được cứu và được chữa lành thậm chí trước khi ông rao giảng hoặc cầu nguyện cho họ.
Trở lại chương 3, tôi đã mô tả sự phát triển lớn lao của các Hội Thánh ở tại Argentina ngày nay và công cuộc truyền giảng bằng quyền phép đang cặp theo. Tôi đã nói chuyện hàng giờ với những người bạn như Omar Cabrera và Edgardo Silvoso, lắng nghe họ phân tích điều dường như nằm đằng sau sự hành động phi thường của Đức Chúa Trời trong quốc gia đó kể từ cuộc chiến tranh ở Quần Đảo Falkland vào năm 1982. Một giả định liên quan trực tiếp đến những loại tranh chiến vũ trụ mà tôi mô tả sau đây.
Vào thời Juan Peron cai trị quốc gia này, ông đã sử dụng một thầy phù thủy làm người tư vấn quan trọng của mình là Jose Lopez Rega, vốn là một thâỳ tế cấp cao của khuynh hướng thông linh Macumba. Silvoso thuật lại rằng Lopez Rega là quyền lực thống trị thật sự của chính phủ, xâm nhập vào phương tiện truyền thông đại chúng, giới doanh nghiệp và quân sự. Một làn sóng các hoạt động ma quỷ đã quét qua đất nước. Người ta làm chứng lại trên các chương trình ti vi quốc gia về cách họ đã được phù trợ bởi Macumba. Đáng buồn thay, cộng đồng Tin Lành không được trang bị để xử lý tất cả những vấn đề như vậy. Như Silvoso đã nói với tôi: “Chúng ta có giáo lý vững chắc, nhưng chúng ta đã không có quyền phép để đấu địch lại các thế lực ma quỷ.” Hội thánh đã không phát triển đáng kể trong nhiều thập kỷ.
Có lời đồn rằng khi Lopez Rega rời bỏ chính phủ, ông đã để một lời nguyền rủa trên Argentina dẫn đến tình trạng hung ác vô nhân đạo dưới quyền cai trị của quân đội từ năm 1976 đến 1981. Nhân quyền là điều không ai biết đến. Hàng ngàn người đã hoàn toàn biến mất, hiện nay mới được biết là đã bị cưỡng hiếp, hành hạ, giết chết dã man và bị ném vào những khu mồ chôn bí mật tập thể, hoặc bị ném xuống sông. Thế rồi, thay đổi đến vào năm 1982. Điều chính xác đã xảy ra trong lãnh vực vũ trụ vào năm 1982 chúng ta chưa biết. Nhưng hơn bất cứ nơi nào khác mà tôi biết, những nhà lãnh đạo Cơ Đốc nổi bật ở tại Argentina như là Omar Cabrera, Carlos Annacondia, Hector Gimenez và những người khác, công khai thách thức và rủa sả Satan cùng các thế lực ma quỷ của nó cả trong sự cầu nguyện riêng lẫn ở trên các tòa giảng trước công chúng. Toàn bộ quốc gia này rõ ràng đang tham gia vào một cuộc đối đầu bằng quyền phép mang tầm cỡ đứng đầu thế giới.
Các Tà Linh ở Những Vùng Đất Khác
Lần đầu tiên khi gặp Omar Cabrera cách đây mấy năm tôi băn khoăn không biết chức vụ bẻ gãy quyền lực tà linh lãnh thổ của ông là điều độc đáo hay là điều mà những người khác cũng có thể king nghiệm phần nào về quyền lực ấy. Kể từ đó, khảo sát của tôi đã tìm được một số những lời tường thuật từ các phần đất khác nhau trên thế giới dường như khẳng định tính thực tế của điều mà chúng ta đang nói đến. Ví dụ, Timothy Warner thuộc Trường Trinity Evangelical Divinity tin rằng những nhà truyền giáo tiên phong đặc biệt cần được chuẩn bị để bẻ gãy quyền lực của các tà linh đang thống trị các lãnh thổ. Ông kể lại những vụ việc từ những nhà truyền giáo ở Canada đi đến Ấn Độ và Papua Tân Guinea là nơi điều này thật sự đã được thực hiện. 21
Mục sư Cho Yonggi kể lại cuộc phỏng vấn với một vị giám mục Trưởng Lão người Hoa Kỳ, là người đã kinh nghiệm một chức vụ khô khan, không kết quả giữa vòng quân đội tại Đức, nhưng tại Triều Tiên “thình lình trời mở ra và Đức Thánh Linh tuôn đổ.” Mục sư Cho nói rằng ở tại Đức “các quyền lực trên trời không bị bẻ gãy bởi vì Hội Thánh Đức đã không cầu nguyện.” Còn ở Nam Triều Tiên “bầu không khí”lại khác, bởi vì các lực lượng tà linh trong vũ trụ đã bị bẻ gãy. Ông Cho nói ở tại Nam Triều Tiên: “Không có sự ô nhiễm lớn lao như vậy bởi vì chúng tôi là một Hội Thánh đang cầu nguyện.” Ông viện dẫn các buổi nhóm cầu nguyện sáng sớm, và các buổi nhóm cầu nguyện thâu đêm và những hòn núi cầu nguyện toàn bộ giữ một phần lớn trong đời sống của Hội Thánh người Triều Tiên. 22
Jack M. Chisholm, mục sư ở tại Glendale, California của Hội Thánh Trưởng Lão, đã thực hiện một chuyến đi khảo sát đến Triều Tiên. Trong số nhiều bài học về sự tăng trưởng và sự phục hưng mà ông đã học được là sự xác quyết mới phát hiện của ông đó là chúng ta cần phải có năng lực để “xử lý các thành lũy, đánh hạ các tường thành, và giải phóng con người.” Ông tin rằng làn sóng mới của quyền phép Đức Thánh Linh mà nhiều người trong chúng ta đang tìm kiếm “sẽ đánh gãy xương sống các tổ chức của ma quỷ đang trói buộc các dân tộc cũng như con người trong tình trạng nô lệ.” 23
Bill Jackson thuật lại trong tạp chí World Christian về một cặp vợ chồng người truyền giáo ở tại Thái Lan, đã không thấy kết quả trong nhiều năm cho đến khi họ quyết định dành ra một ngày trong tuần để đi vào rừng và giao chiến với các tà linh lãnh thổ trong chiến trận. Một làn sóng của những sự quy đạo đã theo sau. Jackson tin rằng hàng ngàn người chưa được nghe Tin Lành hiện nay đang ở dưới móng vuốt trực tiếp của Satan và “Tin Lành sẽ không tiến lên phía trước giữa vòng những người này cho đến khi chúng ta cột trói được những tà linh đang cột trói họ, các lực lượng lừa dối ấy dầu là Hồi Giáo, Ấn Độ Giáo hoặc bất cứ số đông vô số nào của các lực lượng khác.” 24
Trong những năm gần đây, các Hội Thánh đã và đang phát triển nhanh chóng ở tại Brazil, nhưng hết sức chậm chạp ở tại nước láng giềng Uruguay. Một nhà truyền giáo tôi gặp gỡ là Ralph Mahoney thuộc World MAP đã có một kinh nghiệm lạ lùng khi ông phát các truyền đạo đơn trong một thị trấn nhỏ thuộc biên giới giữa Brazil và Uruguay, nơi con đường chính phân chia hai quốc gia. Ông phát hiện rằng bên phía Uruguay, không ai chấp nhận các truyền đạo đơn, trong khi người ta chấp nhận với lòng biết ơn bên phía Brazil cũng thuộc con đường ấy. Và những người từ chối các sách truyền đạo đơn bên phía Uruguay sẽ thay đổi thái độ của họ và tiếp nhận chúng ở bên phía đường Brazil. Lời giải thích của nhà truyền giáo này đó là “khi băng qua đường họ đã thoát ra khỏi sự bao phủ của quyền lực tối tăm ở tại Uruguay để bước vào một đất nước mà đã kinh nghiệm phần lớn sự tháo gỡ của bức màn che phủ ấy.” 25
TÊN CHÚNG LÀ GÌ?
Mark I. Bubeck nhìn thấy Satan như là tên tổng tư lệnh trong các lực lượng của sự tối tăm, dẫn đầu một cơ cấu các tà linh có thứ bậc. Quyền lực mạnh nhất là các chủ quyền hoặc các vua. Bubeck hiểu rằng chúng có quyền lực lớn và một mức độ hành động độc lập nhất định nào đó. Dưới chúng là các thế lực “có lẽ là đông hơn và ở mức độ nào đó kém độc lập và kém sức mạnh hơn là vua chúa.” Kế đến là những kẻ cầm quyền sự tối tăm phục vụ như là các quan chức ở cấp độ thấp hơn. Cuối cùng là đến các thần dữ hoặc các quỷ sứ. 26
Các công tác về lãnh thổ được phân phối trong hệ thống thứ bậc này như thế nào cho đến nay vẫn chưa rõ. Có lẽ sự khảo sát sâu rộng hơn sẽ cung cấp một số câu trả lời. Đồng nghiệp của tôi là Charles Kraft đã làm việc với nhà tâm lý học người Costa Rica là Rita Cabezas de Krumm, người đã giữ chức vụ giải cứu rộng lớn trong một thời gian. Những báo cáo mà Kraft có được từ nơi bà cung cấp những chứng cứ bao quát nhất mà tôi từng thấy về đặc điểm của các tà linh thuộc loại hàng đầu.
Trong một cuộc chiến trận kéo dài hai tiếng đồng hồ với một con quỷ tên là Asmodeo, con quỷ đã tự nhận mình là một trong số sáu chúa quỷ phục vụ ngay dưới quyền Satan, kẻ chúng coi là vua. Mỗi con trong số sáu con quỷ này, hắn nói, trông nom một loại công việc nhất định, bản thân Asmodeo được giao cho các thói xấu, ma túy, đồng tính luyến ái, ngoại tình, hủy phá hôn nhân và chứng ăn vô độ. Trong những nơi khác, sáu chúa quỷ này có thể mang những tên khác nhau, nhưng những con kia có thể được nhận biết là Damian, Beelzebub, Nosferasteus, Arios và Menguelesh. Bởi vì các quỷ đều nói dối, người ta sẽ không biết chính xác phải tin bao nhiêu vào những thông tin này, nhưng tôi tin rằng nó đáng được khảo sát tiếp tục bởi vì đích thân bà Rita Cabezas đang tiến hành.
Paul Lehmann, một nhà truyền giáo cho Zaire với tổ chức Truyền Giáo Phúc âm Liên hiệp, mới đây đã phát hành một bảng danh sách tên các quỷ mà ông đã đuổi ra khỏi một thầy mo tên Tata Pembele. Chúng bao gồm Người Canh Gác Các Tổ Tiên, Linh Du Lịch, Người Nuôi Kẻ Chết, Người Giải Cứu khỏi Phù Phép, Tiếng Của Tử Thần, Kẻ Gieo Bệnh Tật, Tê Liệt, Kẻ Hủy Diệt Trong Nước, Kẻ Chữa Lành và nhiều tên khác. Qua chúng, thầy mo đã làm được phù phép lớn. 27
Các phù thủy ở tại khu vực Los Angeles tụng kinh với Isis, Astarte, Hecate, Demeter, Kali và Innana. Những người khác cúi đầu trước Cerridwen, Mẹ của Đất và Cernunnos, Cha của Rừng. Paul Kauffman đã nhận ra một tà linh đứng đầu Thái Lan là Narai. Những người Ấn Độ thuộc vùng Andes đã thừa nhận quyền lực của Pachamama, Inti và Viracocha. Một số người Mễ Tây Cơ cảm thấy vị thần chiến tranh Aztec là Huitzilopochtil vẫn còn thi hành quyền lực.
Tên của hai linh lãnh thổ rõ ràng đã được nhắc đến trong Đaniên đoạn 10. Ông nói đến một thiên sứ của Đức Chúa Trời đã đến để giúp đỡ ông, nhưng bị trì hoãn vì chiến trận thuộc linh với “vua chúa của nước Pherơsơ” (câu 13, cũng xem câu 20) và kẻ về sau mong đợi một cuộc chiến trận tương tự với “vua của nước Gờréc” (câu 20). Phaolô nhắc đến họ như là các chủ quyền và các thế lực và “các thần dữ ở các miền trên trời” (Eph Ep 6:12).
LINH CỦA MERIGILDO
Edgardo Silvoso là vị diễn giả ở tại một trong các kỳ dưỡng linh cầu nguyện mới đây của chúng tôi được tổ chức tại Hội Thánh Lake Avenue Congregational ở Pasadena, California. Một trong các chủ đề hàng đầu của ông là chiến trận thuộc linh. Ông thuật lại thể nào vào năm 1985 ông và một số bạn hữu đã lấy một cái bản đồ, vẽ một vòng tròn có bán kính 100 dặm xung quanh trung tâm huấn luyện lãnh đạo Harvest Evangelism của ông ở gần Rosario, Argentina, và khám phá trong 109 thị trấn bên trong vòng tròn không có thị trấn nào có nhà thờ Tin Lành cả. Sau đó, họ phát hiện rằng trong thị trấn Arroyo Seco, có một tay phù thủy tên là Merigildo đã thực hành các quyền lực lớn một thời gian lâu. Ông ta đã huấn luyện 12 đồ đệ, và khi chết, ông đã chuyển giao quyền lực cho một suối nước. Một khi điều này đã được phát hiện, các lãnh đạo Cơ Đốc trong khu vực, những người Ngũ tuần và phi Ngũ tuần. Đã nhóm lại với nhau trong một buổi nhóm cầu nguyện để tiến hành chiến trận thuộc linh. Silvoso tường thuật rằng đó là một buổi nhóm cầu nguyện mạnh mẽ nhất mà ông từng tham dự. Họ đã nhơn danh Chúa Giê-xu nắm lấy quyền tể trị trong khu vực.
Sáu người trong số họ sau đó đến sở chỉ huy của Merigildo thuộc Arroyo Seco, Silvoso cũng ở trong số này. Họ đã công bố cho mọi người rằng hắn ta đã bị đánh bại bởi huyết của Chúa Cứu Thế, hướng mũi xe của họ đến các khu nhà thuộc cơ quan đầu não, và nhơn danh Chúa Giê-xu hủy phá quyền lực kẻ ác.
Kết quả thế nào? Trong vòng chưa đầy ba năm sau khi quyền lực của Merigildo bị bẻ gãy, 82 trong số 109 thị trấn đã có một nhà thờ Tin Lành, và nhiều nhà thờ nữa đã được nhanh chóng thành lập.
Còn có nhiều điều nữa để học về việc chống cự ma quỷ. Chúng ta có nhiều thắc mắc và không đủ những câu trả lời. Nhưng một câu trả lời mà chúng ta thật sự có đó là Chúa Giê-xu đang xây dựng Hội Thánh của Ngài, và quyền phép của Đức Thánh Linh có dư để “khiến cho các cửa âm phủ không thắng được Hội Thánh” (Mat Mt 16:18).
Ghi chú
1. Francis MacNutt, Healing (Notre Dame, IN: Ave Maria Press, 1974), p. 208.
2. Michael Green, I Believe in Satan’s Down fall (Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans Pub. Co., 1981), p. 10.
3. John Wimber, “The Reality of Spiritual Warfare,” First Fruits, Nov. 1984, p. 3.
4. H. Newton Malony, “Diseased, Deluded, Depraved, Demonized: Options in diagnosis for religious mental health professionals,” paper presented at the annual meeting of the American Academy of Religion, Anaheim, CA, Nov. 1985, p. 135.
5. Trong cùng tác phẩm.
6. Colin Brown, editor, The New International Dictionary of New Testament Theology (Grand Rapids, MI: Zondervan Publishing House, 1975), Vol. 1, p. 453.
7. John Wimber with Kevin Springer, Power Healing (San Francisco: Harper and Row, 1987), p. 109.
8. Valdemar Kroker, “Spiritism in Brazil,” Mission Focus, Mar. 1987, p. 1.
9. Cùng tác phẩm, trang 5.
10. John Maust, “The Land Where Spirits Thrive,” Christianity Today, Dec. 13, 1985, p. 50.
11. Kroker, “Spiritism in Brazil,” p. 1.
12. Maust, “The Land,” p. 50.
13. Michael Harper, Spiritual Warfare (Downers Grove, IL: InterVarsity Press, 1986), p. 33.
14. General Presbytery of the Assemblies of God, “Can Born-Again Believers Be Demon Possessed?” Springfield, MO, May 1972, p. 15.
15. Charles R. Swindoll, Demonism (Portland, OR: Multnomah Press, 1981), pp. 18,19.
16. James Robison, “Set Free From Thoughts That Destroy,” People of Destiny, Mar./Apr. 1986, pp. 12-15.
17. Edward Murphy, “What is the Devil Doing to Believers?” Christian Life, Feb. 1983, pp. 52-55.
18. C. Fred Dickason, Demon Possession and the Christian, (Chicago: Moody Press, 1987), p. 147.
19. Cùng tác phẩm, trang 175.
20. Lester Sumrall, “Deliverance: Setting the Captives Free,” World Harvest, July./Aug. 1986, p. 7.
21. Timothy M. Warner, “Power Encounter with the Demonic,” Evangelism on the Cutting Edge, Robert E. Coleman, ed. (Old Tappan, NJ: Fleming H. Revell Co., 1986), pp. 98,99.
22. Paul Yonggi Cho and C. Peter Wagner, eds., Church Growth Manual No. 1, Seoul: Church Growth International, 1986, p. 41.
23. Jack M. Chisholm, “Go to Korea and Learn From Them,” The Foreunner, June 1984, p. 23.
24. Bill Jackson, “Waging War,” World Christian, Jan./Feb. 1985, p. 11.
25. Ralph Mahoney, “The Covering of Darkness,” World MAP Digest, Mar./Apr. 1983, p. 3.
26. Mark I. Bubeck, The Adversary (Chicago: Moody Press, 1975), pp. 72,73.
27. Paul Lehmann, “Invading Satan’s Territory,” The Alliance Witness, Mar. 18, 1987, p. 19.



Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 05:41 PM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách