† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2305|Trả lời: 0

Chức Vụ Chữa Lành - CÁC CÂU HỎI QUAN TRỌNG

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 5-11-2011 08:26:08 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Chức Vụ Chữa Lành
Tác giả: C. Peter Wagner

CÁC CÂU HỎI QUAN TRỌNG CHUNG QUANH CHỨC VỤ CHỮA LÀNH


Khi bạn bắt đầu chức vụ chữa lành trong Hội Thánh mình, kinh nghiệm cho thấy một nhóm các câu hỏi tiêu chuẩn thường nổi lên. Suốt quyển sách này tôi đã cố gắng để thiết lập một khung sườn cho lối nghĩ về sự chữa lành của Chúa theo quan điểm của Cơ Đốc giáo Tin Lành. Mặc dầu quan điểm này nhằm ý định không mang tính Ngũ tuần và ân tứ, song vẫn: (1) mạnh mẽ khẳng định công việc của Đức Chúa Trời trong các phong trào này, (2) đã học tập và được ích lợi rất nhiều từ hai phong trào kể trên, và (3) trùng lặp với hai phong trào trên một cách đáng kể trong nhiều lãnh vực. Tôi tin rằng khung sườn ấy đã cho chúng ta những cơ sở đúng Kinh Thánh, đúng thần học và dựa trên thực nghiệm hoặc lâm sàng để trả lời cho nhiều câu hỏi trong số những thắc mắc thường nổi lên. Tôi hi vọng rằng những người đã chịu khó đọc và nắm vững tài liệu này sẽ được giải đáp nhiều thắc mắc.
Như tôi đã mô tả khá chi tiết trong chương 2, phạm vi thực hành chức vụ chữa lành của tôi từ trước đến nay là lớp học Trường Chúa Nhật Thông Công 120 Người ở tại Hội Thánh Lake Avenue. Trong nhiều năm, chúng tôi đã cầu nguyện cho người đau trong cơ cấu của một Hội Thánh Tin Lành truyền thống, thật may mắn đã không làm cho Hội Thánh bị dội. Trong suốt nửa năm đó, chúng tôi đã học tập rất nhiều và đã đến chỗ có thể ghi chép lại các chủ trương chức vụ của mình liên quan đến việc chữa lành của Đức Chúa Trời.
George Eckart, một người tốt nghiệp Chủng Viện Fuller, đã đem đến vai trò lãnh đạo trong quá trình này với tư cách là người điều hành buổi cầu nguyện của lớp hoặc đội chữa lành. Ông đã viết lại chủ trương chữa lành của lớp học dưới dạng câu hỏi và trả lời, nằm trong phần phụ lục của quyển sách này. Mặc dầu tôi nhận biết rằng mỗi Hội Thánh cần phải tự may đo - nghĩa là thực hiện các chủ trương chức vụ của riêng mình cho phù hợp với các nhu cầu riêng biệt của mình, tôi nhiệt liệt giới thiệu tài liệu của George Eckart như là một điểm khởi đầu, đặc biệt dành cho các Hội Thánh chính hệ và Tin Lành truyền thống. Hãy xem tài liệu ấy, và nếu bạn thấy ích lợi, hãy sử dụng nó.
Trong khi đó, tôi đã chọn sáu trong số các câu hỏi quan trọng nổi lên liên quan đến các chức vụ chữa lành cho chương này.
Trước đây, tôi cũng đã đề cập khái quát về một số vấn đề này. Một số có xuất hiện trên bảng danh sách của George Eckart và một số thì không. Mỗi câu hỏi như vậy cũng như các câu hỏi khác tương tự đáng phải được thảo luận cả một chương, tuy nhiên, tôi chỉ sẽ đề cập sơ đến chúng. Mối quan tâm của tôi cũng không phải để tranh cãi và ra sức chỉ trích gay gắt những người mà tôi có thể bất đồng. Những con người khác mà tôi hết sức tôn trọng trả lời những câu hỏi này theo những cách khác nhau, và tôi không cảm thấy cần phải chứng minh là họ sai để tôi đúng hơn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tôi không tin quan điểm của mình là quan điểm đúng. Nếu tôi thấy nó sai, thì tôi đã thay đổi lập tức.
SỰ CHỮA LÀNH CÓ THẬT KHÔNG?
Liệu những người chúng ta cầu nguyện có thật sự được chữa lành do chúng ta đã cầu nguyện cho họ không? Chúng ta có thể chứng minh một mối liên hệ nhân quả không?
Câu trả lời đối với các câu hỏi này đưa chúng ta trở lại với vấn đề thế giới quan. Tin là thấy. Nếu bạn đã quyết định rằng Đức Chúa Trời ngày nay không còn chữa lành, thì không thể nào để chứng minh cho bạn bất cứ ai đã được chữa lành bởi sự cầu nguyện. Ví dụ, ngày nay có khoảng 1.500 thành viên của Hiệp Hội Quốc Tế Trái Đất Hình Dẹp (International Flat Earth Society), là những người tin quả quyết rằng trái đất hình dẹp, quy cho lý thuyết quả đất hình tròn là của Satan. Không có một số lượng bằng chứng khoa học nào rằng trái đất hình tròn thuyết phục họ tin khác hơn. Tương tự như vậy, không có một số lượng các trường hợp được ghi nhận bằng tài liệu y học nào về sự chữa lành thiên thượng thuyết phục được những người ấy, là kẻ đã quyết định không tin điều đó khả thi.
Rex Gardner xử lý vấn đề này một cách khá bao quát. Ông là một bác sĩ dày dạn kinh nghiệm biết rõ nghề y. Với tư cách là một Cơ Đốc nhân, ông quả quyết Đức Chúa Trời đã chữa lành trực tiếp qua lời cầu nguyện. Nhưng, là một bác sĩ, bản thân ông phải chịu đựng những nguyên tắc cư xử trong nghề y và ông nói rằng “thậm chí trong những trường hợp tài liệu ghi nhận rõ ràng, các bệnh nhân và các bác sĩ đều có sẵn đó cho việc chất vấn, và hồ sơ bệnh lý có thể được khám xét, thì bằng chứng của sự chữa lành phép lạ vẫn là điều không thể xảy ra được.” 1 Điều này thật đáng buồn, nhưng là sự thật. Bởi vì y học hiện đại được đặt cơ sở trên chủ nghĩa duy lý khoa học, mà qua định nghĩa, loại trừ sự can thiệp của Đức Chúa Trời, chúng ta không nên ngạc nhiên rằng bởi vì hầu hết các bác sĩ không tin vào phép lạ, nên họ không thấy phép lạ.
Rất nhiều rắc rối do những người hoài nghi về số lượng thấp các phép lạ được xác minh một cách chính thức ở tại Lourdes gây ra. Nhưng một trong các chuyên gia hàng đầu của Lourdes, là Đức Cha Rene Laurentin, đồng ý rằng một lần nữa đây lại là vấn đề của thế giới quan. Ông phát hiện rằng một số các nhân viên y tế trong ủy ban xác minh Lourdes đã bỏ phiếu chống lại việc xác minh “bởi vì họ cần có thêm một thử nghiệm nữa. Và nếu như đã có được một thử nghiệm, tôi nghĩ họ sẽ đòi một thử nghiệm nữa, không bao giờ kết thúc.” Họ làm việc dựa trên cơ sở giả định rằng mọi sự trong thiên nhiên đều có thể được giải thích liên quan đến thiên nhiên. Vì vậy, “Về nguyên tắc, chủ nghĩa duy lý luôn luôn tìm được một cách thoát ra.” 2 Như Chúa Giê-xu đã nói rõ, ra sức chứng minh công việc của Đức Chúa Trời cho một kẻ hoài nghi không tin là một ngõ cụt.
Tôi có cả một tập tin gồm các lời làm chứng của các bác sĩ y khoa, là những người khẳng định các trường hợp được Chúa chữa lành. Trước kia tôi vẫn thường tìm cách để sưu tập thêm và xin các bức phim chụp quang tuyến X, đơn sơ tin rằng nếu như tôi chỉ cần đưa ra đủ những bằng chứng lạ lùng thật sự này, thì tôi có thể thuyết phục mọi người, kể cả những nhà thần học mà tôi đã từng trao đổi. Nhưng không bao lâu sau, tôi đã phát hiện rằng những người được thuyết phục dầu là các bác sĩ hay là các nhà thần học, đều là những người đã tin hoặc là những người có ý muốn tin. Một số những người hoài nghi, sẽ được ghi nhận, rất cởi mở để xem xét những bằng chứng có thể khiến họ thay đổi suy nghĩ, như sứ đồ Thôma. Những người khác thì cương quyết nhất định vẫn không tin, và không điều gì khiến họ thay đổi, cũng như những người Pharisi trong thời Chúa Giê-xu, việc cố gắng thuyết phục những người vô tín ấy, tôi đã khám phá ra rằng không kết quả hơn việc ra sức thuyết phục các thành viên của Hiệp Hội Trái Đất Hình Dẹp rằng trái đất hình tròn.
Những người hoài nghi năng nỗ thường nhắc đến cuốn Chữa lành: Một Bác sĩ trong Việc khảo sát Phép lạ của William A. Nolen. Trong đó, bác sĩ Nolen, đã kiểm tra một số những lời tuyên bố được chữa lành kể cả trong chức vụ của bà Kathryn Kuhlman, và kết luận rằng những người chữa lành bằng đức tin không thể chữa lành những bệnh có liên quan đến các cơ quan, mà chỉ các bác sĩ mới chữa được. Tôi đề cập đến điều này để làm tương phản những phát hiện của Nolen với những phát hiện của Michael Cassidy. Trong tác phẩm của mình Bursting the Wineskins, Cassidy, người sáng lập tổ chức African Enterprise đã chứng minh rằng bước ngoặt trong linh trình của ông đến chỗ tin rằng Đức Chúa Trời thật sự sử dụng những người chữa lành bằng đức tin để chữa trị các căn bệnh thuộc về cơ quan chính là một buổi nhóm của bà Kathryn Kuhlman. Ông đã đến đó, theo lời ông, với một tinh thần hoài nghi và một “ ý định sẽ phát hiện ra những việc giả mạo.” Nhưng ông đã thấy một cậu bé trai bảy tuổi với hai chân bị biến dạng không hề đi được trong suốt cuộc đời của mình đã quăng đi cặp nạng sau khi cầu nguyện và chạy đi chạy lại ở trên tòa giảng. Cassidy rõ ràng đã cởi mở đủ để thấy những sự việc trong chức vụ của bà Kathryn Kuhlman mà Nolen không nhìn thấy. Cassidy nói: “Điều đó chính là lý do vì sao tôi tin rằng ngày nay Đức Chúa Trời vẫn còn chữa lành.”
Một số khảo sát được phát họa mang tính khoa học có lẽ sát gần với một số khảo sát mang tính thuyết phục. Ví dụ, một bài báo được xuất bản trong các bản lưu của Hiệp Hội Bệnh Tim Hoa Kỳ mô tả một khảo sát của bác sĩ khoa tim Randolph C. Byrd ở tại Bệnh Viện Đa Khoa thuộc San Francisco. Ông chia khoảng 400 bệnh nhân thành hai nhóm, sau đó ông xin các nhóm cầu nguyện tại nhà cầu nguyện cho các bệnh nhân trong nhóm này mà không cầu nguyện cho nhóm kia. Không một bệnh nhân nào, kể cả nhân viên bệnh viện biết là họ thuộc vào nhóm nào. Nhóm người đã được cầu nguyện thì ít bị biến chứng và ít người chết hơn.4 Có bao nhiêu bác sĩ sẽ được thuyết phục bởi kết quả này là điều vẫn còn phải xem xét, bởi vì các bác sĩ thường bất đồng với nhau, chưa nói đến những bất đồng của họ với các chuyên gia y tế thế tục khác.
CÂU HỎI ĐÍCH THỰC
Theo tôi thấy, câu hỏi cần hỏi không phải là một trường hợp nào đó về việc chữa lành của Chúa có thể được chứng minh vượt trên tất cả những nghi ngờ khoa học hay không. Câu hỏi ở đây là lời ký thuật này có được hậu thuẫn bởi loại bằng chứng cho thấy rằng việc chấp nhận nó là xác thực có phải là một câu trả lời hợp lý đối với người cho nó là điều khả thi hay không.
Nếu đó là trường hợp này, và tôi tin như vậy, thì tại sao không chấp nhận những lời làm chứng, như chúng ta chấp nhận đối với sự cứu rỗi cá nhân? Cách chấp nhận phổ biến nhất được chấp nhận về những sự quy đạo được chứng minh là qua những lời làm chứng. Ví dụ, trước khi được cứu tôi là một người say sưa, và Đức Chúa Trời đã thay đổi đời sống tôi qua sự tái sanh. Bạn còn cần bao nhiêu sự xác minh nữa để thật sự tin tôi? Liệu tôi có cần phải lấy lời báo cáo của những người làm công tác xã hội không? Tôi có cần được phân tích về tâm thần không? Tôi có phải trải qua cuộc thử nghiệm của máy phát hiện lời nói dối không? Làm thế nào tôi biết mục sư của mình đã thật sự được cứu? Hay là vợ tôi thật sự đã được cứu? Vâng, chúng ta mong chờ nhìn thấy những kết quả của sự ăn năn trong đời sống, nhưng trong các trường hợp về y khoa, chúng ta cũng trông mong nhìn thấy các triệu chứng bộc lộ. Giả sử, có một người khác bảo tôi rằng răng của họ bị hỏng, và có người đã cầu nguyện cho chúng, Chúa đã trám những chiếc răng ấy trực tiếp, tôi nhìn xem, và thật rõ ràng, những chiếc răng đã được trám. Vậy tôi có thật sự cần lời xác nhận của nha sĩ không? Khi những người hoài nghi chất vấn người mù việc Chúa Giê-xu đã chữa lành cho anh ta, anh mù đã trả lời: “Tôi chỉ biết một điều, là tôi đã mù mà bây giờ lại sáng” (GiGa 9:25). Đó là một câu trả lời thích hợp vào lúc ấy, và cũng thích hợp hiện nay.
Quan điểm hiện tại của tôi đó là trừ phi tôi có lý do đặc biệt để không tin (như là lời làm chứng của một người phụ nữ Phi Châu bảo rằng bà đã mang thai sáu tháng và Chúa đã cho bà sinh hai đứa con sinh đôi qua lời cầu nguyện), tôi tiếp nhận lời làm chứng của những con người chân thành sáng suốt theo giá trị bề mặt. Tôi không muốn bị mắc lừa, nhưng tôi thật sự muốn làm gương thái độ được sứ đồ Phaolô ủng hộ: đó là tình yêu thương “tin mọi sự” (ICo1Cr 13:7). Khi phải có một lựa chọn, tôi nghĩ tốt hơn là hãy làm một người tin hơn là một người hoài nghi. Tôi thà giữ theo nguyên tắc của Chúa Giê-xu còn hơn là nguyên tắc của Thôma. Chúa Giê-xu đã nói về Thôma, con người hoài nghi: “Vì ngươi đã thấy ta, nên người tin.” Nguyên tắc của Chúa Giê-xu là: “Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy” (GiGa 20:29).
Sự Khai Trình
Dầu vậy, tôi tin nơi sự khai trình. Tôi là một người cũng có tính khoa học đủ để muốn kiểm tra tính hiệu quả của mình. Tôi cầu nguyện cho người đau, nhưng tôi có là một người thành công không? Có bao nhiêu người sẽ được chữa lành để gọi là một chức vụ chữa lành thành công? Chúa Giê-xu có lẽ đã hướng đến 100 phần trăm. Trước khi tôi tham dự vào làn sóng thứ ba này, tôi đang xem xét điều gì đó gần với zero phần trăm hơn, vì vậy có thể tôi quan tâm trong việc xem nó cao hơn zero phần trăm của tôi bao nhiêu hơn là thấp hơn 100 phần trăm bao nhiêu.
Chưa kể đến vấn đề so sánh, tôi thật sự phải đau khổ để đưa một bảng báo cáo cho mỗi người mà tôi đã cầu nguyện cho họ. Tờ báo cáo này nằm trong một bì thư có sẵn địa chỉ trả lại, và tôi xin họ gởi nó trở lại khi có đủ thời gian trôi qua để biết có điều gì đã xảy ra hay không. Tờ báo cáo có những chỗ để kiểm tra không cải thiện, có cải thiện ít, cải thiện đáng kể, và hoàn toàn khỏe mạnh. Một số những câu hỏi khác được điền vào dữ kiện nền tảng.
Tôi đã bắt đầu tiến trình này vào mùa thu năm 1986. Trong hai năm 1986 và 1987, tôi đã nhận được 114 tờ. Kết toán có được như sau:
Không cải thiện 18%
Cải thiện ít 28%
Cải thiện đáng kể 25%
Hoàn toàn khỏe mạnh 29%
Điều này có thể được gọi là thành công hay không, tôi không biết nhưng thật là đáng phấn khởi. Tất nhiên, tôi không biết tỉ lệ phần trăm của những bức thư không trả lại. Nhưng trong số các thư trả lại, tôi biết rằng 82 phần trăm những người tôi đã cầu nguyện cho đã cảm thấy khá hơn sau đó. Thật là một điều phấn khởi. Và 29 phần trăm hoàn toàn khỏe mạnh thì sao? Tôi vô cùng vui mừng vì đã cầu nguyện và họ cũng vậy. Hi vọng của tôi là 29 phần trăm này mỗi năm sẽ cao hơn nữa khi tôi cứ tiếp tục.
Theo tôi, những cá nhân, những nhóm hoặc những Hội Thánh nào đã dành được danh tiếng tốt đối với chức vụ chữa lành đức tin thì sẽ làm tốt việc theo sát các kết quả của họ và chia sẻ thông tin này cho mọi người. Một trong những chức vụ chữa lành mang trọng trách mục vụ cao nhất và có tổ chức tốt nhất mà tôi biết là buổi nhóm dầm thắm trong sự cầu nguyện của Small Ministry Teams (Các Tổ Chức vụ Nhỏ) thuộc Hiệp Hội Thông Công Cơ Đốc Vineyard ở tại Anaheim, California. Bill McReynolds, một trong những mục sư phụ tá của John Wimber, giám sát không dưới 325 tín hữu được huấn luyện là những người đã hình thành 80 tổ cầu nguyện. Dưới những điều kiện lâm sàng được giám sát một cách chặt chẽ, mỗi tổ kết ước với một cá nhân trong sáu buổi liệu pháp cầu nguyện kéo dài một giờ mỗi tuần.
Năm 1987, họ giúp cho trên 600 người với những kết quả sau đây:
Không cải thiện 19%
Một vài cải thiện hoặc cải thiện đáng kể 58%
Hoàn toàn khỏe mạnh 26%
Tôi thấy điều này thật đáng kể bởi vì tỉ lệ của Vineyard và của tôi hóa ra là gần giống nhau. Họ sẽ so sánh thế nào với các kết quả của các bác sĩ y khoa hoặc các nhà điều trị y khoa tôi không biết, bởi vì những số liệu này thật hiếm khi nào được mọi người biết.
Liệu Sự Chữa Lành Có Bị Giả Mạo Không?
Thế giới lúc nào cũng có những thứ giả mạo. Thậm chí vào thời Chúa Giê-xu cũng đã có những người nói tiên tri, đuổi quỷ và nhơn danh Chúa Giê-xu làm phép lạ, song Ngài đã phán rằng Ngài không biết họ (xem Mat Mt 7:22, 23). Sứ đồ Phaolô đã cảnh cáo Timôthê về các thần giả và đạo dối của các quỷ dữ (xem ITi1Tm 4:1). Trong sách Khải huyền chúng ta đã thấy con thú cũng đã làm các dấu lạ lớn (xem 13:13-14) và tà linh của các quỷ cũng đã làm các dấu lạ (xem 16:14) và các tiên tri giả cũng làm các dấu kỳ (xem 19:20). Rõ ràng là hiện nay có các thế lực siêu nhiên không thuộc về Đức Chúa Trời.
Thế lực này được sử dụng để giả mạo các phép lạ thật của Đức Chúa Trời. Timothy Warner đã nói: “Các phép lạ giả mạo này có tầm rộng khắp từ các bông trái giả đến các ân tứ Thánh Linh giả cho đến những việc chữa lành và những việc lạ lùng giả dối khác nữa.” 5 Chúng ta thấy những giả mạo ở trong tà giáo voodoo của người Haitian, thuật thông linh của người Brazil, trong các tôn giáo truyền thống Phi Châu, trong tà giáo ở tại đây, Hoa Kỳ, và ở bất cứ nơi nào, phù phép, ma thuật và thuật chiêm tinh đang có mặt. Ở tại Thái Lan “Thầy Noi” ba tuổi đã chữa lành cho hàng ngàn người bằng phù phép vỏ cây. Ở tại Ấn Độ, người Hinđu đâm vào thân thể họ bằng những chiếc móc và đi chân không trên than đỏ, mà không thấy đau đớn gì.
Quyền lực này của Satan nhiều lúc đối đầu với quyền phép của Đức Chúa Trời. Đó là trường hợp của Môise khi dẫn dân Ysơraên ra khỏi Ai Cập. Chỉ sau cuộc đối đầu hàng loạt về quyền phép, cuối cùng Pharaon mới cho dân sự Đức Chúa Trời ra đi. Các thuật sĩ của Pharaôn đã có thể làm những thứ phép lạ giả mạo - nhưng chỉ ở mức nào đó mà thôi. Chúng trông thật sự tồi tệ. Họ đã đánh mất nguồn khởi động khi cây gậy của Arôn đã nuốt hai cây gậy của các thuật sĩ. Họ cũng đã làm lại hai tai vạ đầu tiên để biến nước thành máu và các loài ếch nhái. Nhưng sau đó họ đã cạn kiện quyền lực và không thể nhái theo tám tai vạ kia. Đức Chúa Trời đã thắng dứt khoát hoàn toàn trong cuộc đối đầu đó, nhưng các thuật sĩ cũng đã chứng minh rằng họ có thể làm được một số những việc giả mạo, nhờ vào quyền phép của kẻ thù (xem XuXh 7:11, 22; 8:7).
Thậm chí những người được xem là Cơ Đốc nhân cũng kẹt trong những vụ lừa dối này.
Jim Jones có thể giả mạo chữa bệnh ung thư bằng cách kéo ... gan gà và các cơ quan khác từ cổ họng của những người mà ông cầu nguyện cho. Peter Popoff đã nhận được “những lời tri thức” trong các buổi nhóm chữa lành, mà sau này hóa ra là các sứ điệp từ nơi vợ ông đã được truyền đi qua một thiết bị điện tử kỹ thuật cao. Không có gì đáng ngạc nhiên, Dave Hunt đã bối rối và đã viết cuốn sách bán chạy nhất của ông là The Seduction of Christianity (Sự Lôi cuốn Của Cơ Đốc giáo ). Không may, trong khi đưa ra các câu hỏi thích hợp, Hunt có khuynh hướng đi đến các thái cực với những câu trả lời của ông, dán nhãn “người quyến rũ” không những lên những người của Jim Jones và của Peter Popoff mà còn cả những người của John Wimber và Robert Wise cũng như những người của Richard Foster và những người của Paul Yonggi Cho. Tôi đồng ý với Richard Lovelace là người khẳng định rằng Thân Thể Đấng Christ thật sự cần một hệ thống báo động qua hình thức của những kẻ chỉ trích, là những người mà giống như các bạch huyết cầu, phát hiện và tấn công các loại vi trùng. “Nhưng,” Lovelace nói rằng: “Một hệ thống miễn nhiễm quá tích cực sẽ đề kháng các phần có cần trong thân thể, như điều thường xảy ra trong trường hợp cấy ghép các cơ quan, bởi vì nó phát hiện sai lầm rằng những cơ quan này là thù địch.” 6
Làm Sao để Phân Biệt sự Khác Nhau
Như vậy thì chúng ta có thể phân biệt được giữa đúng và giả mạo không? Tôi tin rằng có ba cách:
Trước hết, chúng ta sử dụng những lẽ thường đã được công nhận. Kinh Thánh mô tả những Cơ Đốc nhân trưởng thành là những kẻ “hay dụng tâm tư luyện tập mà phân biệt điều lành và điều dữ” (HeDt 5:14). Khi chúng ta đã đến chỗ hiểu biết Chúa Giê-xu rõ ràng hơn, chúng ta nhạy cảm hơn với những điều gì không thuộc về Đức Chúa Trời. Ví dụ, một mục quảng cáo trên tờ Globe nói rằng: “Ta là Andreika, ta có thể làm thay đổi vận mệnh. Hãy trả tiền, thì ta sẽ niệm phù chú cho bạn.” Giá bao nhiêu? 13 đô rưỡi. Lẽ thường của người Cơ Đốc sẽ cho chúng ta biết điều này xuất phát từ điều ác, chứ không phải điều thiện. Mặc dầu nó hứa đem đến sức khỏe và hạnh phúc.
Thứ hai, chúng ta sử dụng ân tứ phân biệt. Trong ICo1Cr 12:10, chúng ta thấy “ơn phân biệt cách linh” là một trong những liệt kê chính về các ân tứ thuộc linh. Theo sự hiểu biết của tôi thì đây là khả năng đặc biệt mà Chúa ban cho những người nhất định trong thân thể của Đấng Christ để biết chắc hành vi nhất định nào đó trong thực tế được tỏ ra là của Chúa, của loài người hoặc của Satan.7 Mặc dầu tôi không có được ân tứ này, nhưng nhiều người trong số các bạn của tôi thì có. Chẳng hạn như Michael Green, ông nói: “Tôi phát hiện ra rằng tôi sở hữu ân tứ này mặc dầu tôi không tìm kiếm, và ân tứ này hết sức hữu ích trong các tình huống mục vụ khó khăn.” 8 Một số thành viên trong lớp học Trường Chúa Nhật Thông Công 120 Người của tôi cũng có ân tứ này, và tôi phải gọi đến họ khi cần có sự phân biệt đặc biệt.
Thứ ba, chúng ta tìm các ân tứ của Thánh Linh. Những kết quả cuối cùng của việc chữa lành hoặc các phép lạ là gì? Giacơ cho chúng ta một số những dấu hiệu rất tốt để biết “sự khôn ngoan từ trên mà xuống,” khác với sự khôn ngoan “thuộc về đất, về xác thịt, và về ma quỷ.” Sự khôn ngoan của Satan sinh ra những bông trái ganh tị, vị kỷ, khoe mình, và nói dối. Còn sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời thì “thanh sạch, hòa thuận, tiết độ, nhu mì, đầy dẫy lòng thương xót và bông trái lành. Không có sự hai lòng và giả hình” (Gia Gc 3:17). Michael Harper tỏ rõ rằng “Giữa vòng các tôn giáo của thế giới, duy chỉ có Cơ Đốc giáo xưng nhận bởi ân điển của Đức Chúa Trời và quyền phép của Đức Thánh Linh sở hữu năng lực chữa lành người bệnh và làm các phép lạ.” 9
Tôi thích cách đánh giá của Barton Stone, nhà lãnh đạo lớn của các Hội Thánh thuộc phong trào Đấng Christ trong thế kỷ vừa qua về một số những hiện tượng phục hưng mới mẻ mà ông chưa hiểu được. Sau khi khảo sát những gì đã xảy ra, ông thừa nhận rằng ma quỷ luôn luôn tìm cách bắt chước các công việc của Đức Chúa Trời và làm cho các công việc ấy bị mang tiếng xấu. Nhưng hiện tượng mà ông đã thấy “không thể là công việc của Satan được,” bởi vì “những công việc đó đã đưa con người đến sự xưng nhận hạ mình và từ bỏ tội lỗi - đến sự cầu nguyện nghiêm trang, sự ngợi khen Chúa sốt sắng và lòng cảm tạ biết ơn, đến chỗ kêu gọi các tội nhân yêu thương chân thành để ăn năn và đến với Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế.” 10
Đó là những dấu hiệu tốt lành. Cũng là bảng danh sách của Paul Hiebert. Như là những chỉ dẫn để phân biệt những sự tỏ ra của Thánh Linh Đức Chúa Trời trái với những bộc lộ của kẻ thù, Hiebert liệt kê sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, quyền tể trị của Đấng phước, sự hòa hợp với lời Kinh Thánh, bông trái của Đức Thánh Linh, sự trưởng thành thuộc linh, sự quân bình trong việc trình bày toàn bộ Tin Lành, sự hiệp một của thân thể Đấng Christ và sự toàn vẹn. 11 Đây là một bảng danh sách kiểm tra mà tôi thấy rất hữu ích trong việc tiếp tục công tác phân biệt giữa điều giả với điều thật.
Chúng ta đừng rơi vào chiếc bẫy phản ứng quá mấu khi biết rằng Satan có thể và thường giả mạo công việc của Đức Chúa Trời. Chúng ta đừng khước từ quyền phép Chúa dựa trên cơ sở ấy. Timothy Warner nói rằng điều này sẽ giống như “từ chối không xài đồng 20 đôla bởi vì bạn được biết có những đồng đôla giả đang lưu hành.” 12
CHÚNG TA CÓ THỂ ĐIỀU KHIỂN ĐỨC CHÚA TRỜI KHÔNG?
Cốt lõi của phù phép đó là người hành nghề, hoặc là một ông đồng, bà cốt, phù thủy, người cầu vong, thầy tư tế, thầy bói, thầy pháp, hoặc bất cứ điều gì sở hữu bạn, thực hành phù phép để điều khiển các thế lực siêu nhiên làm bất cứ điều gì họ yêu cầu. Thông qua các phù phép, họ có thể khiến cho người ta chết, bệnh, khỏe, thu hút người khác về mặt tình dục, tìm một người bạn đời, hoặc phá đổ một cuộc hôn nhân, gây mất mùa, chiến thắng trong các trận đấu, và vô số chuyện khác.
Đó không phải là cách của người Cơ Đốc. Cơ Đốc giáo và phù phép bất tương hợp như hai cực dương của hai thanh nam châm. Đó là lý do vì sao khi bắt đầu một chức vụ chữa lành trong các Hội Thánh của mình, chúng ta phải quan tâm ý thức đến mối nguy hiểm luôn luôn có mặt của việc thực hành phù phép với một lớp vỏ Cơ Đốc. Tuy nhiên, sự nguy hiểm này không được ngăn trở chúng ta để không có một chức vụ của các phép lạ đầy quyền phép. Sẽ không nguy hiểm nếu chúng ta luôn giữ hai nguyên tắc cơ bản quan trọng trong đầu mình: (1) Chúng ta phải tránh sự điều khiển, và (2) chúng ta phải tránh sự đầu hàng.
Khi bắt đầu một chức vụ chữa lành trong các Hội Thánh của mình , chúng ta phải quan tâm ý thức đến mối nguy hiểm luôn luôn có mặt của việc thực hành phù phép với một lớp vỏ Cơ Đốc .
Thứ nhất, chúng ta phải tránh điều khiển Đức Chúa Trời. Điều này không dễ làm, bởi vì Ngài là Cha của chúng ta. Những người đã nuôi dạy con cái trong chúng ta biết khuynh hướng bẩm sinh của con cái là ra sức điều khiển bố mẹ chúng. Nhưng là cha mẹ, chúng ta thường xử lý dễ dàng vấn đề này để nó không làm hỏng mối quan hệ yêu thương căn bản của chúng ta đối với nhau. Thậm chí đôi khi, chúng ta còn cho con cái mình thoát khỏi bị phạt, nhưng không phải hết sức thường xuyên. Tôi nghĩ Đức Chúa Trời cũng giải quyết dễ dàng khuynh hướng bẩm sinh thích điều khiển Chúa của chúng ta và Ngài có những biện pháp để cho chúng ta biết khi nào thì mình đã đi quá giới hạn.
NĂM CHỈ DẪN
Dầu vậy, tốt hơn là chúng ta hãy giữ cả năm bước ý thức mà chúng ta có thể làm để tránh, thậm chí là, biểu hiện việc chúng ta đang thực hành phù phép. Tôi đã có nhắc đến một số những bước này ở các chương trước, nhưng dưới đây là năm chỉ dẫn giúp chúng ta tránh tình trạng điều khiển Chúa:
1. Đừng cố gắng ra lệnh cho Chúa hoặc lên kế hoạch cho Ngài. Trước đây, khi tôi bắt đầu cầu nguyện cho người đau, tôi thường bộc lộ những dự đoán trong tương lai về sự kiện nổi tiếng này hoặc là người ấy khi được chữa lành sẽ làm đảo lộn cả thế giới cho Chúa Giê-xu. Điều đó cũng giống như bảo rằng: “Chúa này, con có một ý tưởng tuyệt vời cho Ngài. Ngài có bao giờ nghĩ đến sự kiện này không?” Tôi nhanh chóng hiểu ra rằng Ngài đã không quan tâm.
2. Đừng sử dụng các công thức hoặc các kỹ thuật trong việc chữa lành. Tôi nhận ra rằng một số các nhóm nghiêng về nghi thức đã viết lại các nghi thức chữa lành và các lời cầu nguyện chữa lành theo nghi thức, và họ thường rất hiệu quả. Nhưng chúng ta đừng rơi vào chiếc bẫy để nghĩ rằng điều khiến cho sự chữa lành xảy ra là do nói đúng các từ ngữ, tạo được các bầu không khí cảm xúc thích hợp, ở trong một bầu không khí phù hợp, gọi tên và xưng nhận nó một cách đúng đắn, sử dụng loại dầu thích hợp hoặc đặt tay đúng cách trong khi cầu nguyện. Tất cả những điều kể trên có thể ích lợi nhiều khi, nhưng không điều nào dẫn đến sự chữa lành cả. Thậm chí danh của Chúa Giê-xu tự nó cũng không phải là một công thức hiệu quả trong chính nó, như bảy con trai của Sceva đã nhanh chóng phát hiện (xem Cong Cv 19:13-16).
3. Hãy luôn tìm kiếm ý muốn Đức Chúa Trời trong việc chữa lành. Sứ đồ Giăng nói rằng Đức Chúa Trời nghe lời cầu nguyện của chúng ta “nếu chúng ta cầu xin theo ý muốn Ngài” (IGi1Ga 5:14).
4. Hãy tuân theo gương mẫu của Chúa Giê-xu trong việc làm một ống dẫn khai mở cho Đức Chúa Trời làm điều Ngài muốn làm qua bạn. Chương 5 nói tỉ mỉ về sự chỉ dẫn này.
5. Đừng quy gán kết quả sự cầu nguyện cho người đau dầu tích cực hay tiêu cực, cho mức độ đức tin hoặc thái độ của người bệnh. Tôi sẽ khai triển điều này sau này.
VIỆC ĐẦU HÀNG TRƯỚC HIỆN TRẠNG
Nguyên tắc quan trọng thứ hai để xử lý phù phép là hãy tránh việc đầu hàng trước hiện trạng. Một số người đã hình thành một loại sợ hãi phù phép đáng tiếc hầu như làm tê liệt họ và là một vật cản đối với chức vụ chữa lành hiệu quả. Dưới đây là năm chỉ dẫn khác nhằm giúp cho con lắc không bung quá xa vào hướng ngược lại:
1. Hãy trình dâng lên Cha chúng ta những lời thỉnh cầu. Kinh Thánh mời gọi chúng ta hãy thực hiện điều này lặp đi lặp lại. Chúng ta hãy mạnh dạng cầu xin: “Xin cho chúng con hôm nay đồ ăn đủ dùng.” Điều này không bị coi là điều khiển Chúa.
2. Hãy cầu xin Đức Chúa Cha trong danh Chúa Giê-xu. Trong khi bảy con trai của Sêva đã sử dụng danh Chúa Giê-xu cách bất kỉnh, chúng ta sử dụng danh này một cách thích đáng. “Nếu các ngươi nhơn danh ta xin bất cứ điều chi, ta sẽ làm cho” (GiGa 14:14).
3. Hãy sử dụng các chất liệu vật chất như dầu khi bạn cảm thấy được dẫn dắt. Giacơ khuyên hãy xức dầu (xem Gia Gc 5:14). Các môn đồ cũng đã chữa lành cho nhiều người bằng cách xức dầu cho họ (IGi1Ga 6:13).
4. Hãy nghênh tiếp việc chữa lành qua các hình thức nghi lễ kể cả báp tem và tiệc thánh. Một người bạn thân của tôi là Fred Luthy đã từng được gọi đến bệnh viện chủ yếu để giúp vào các nghi thức cuối cùng cho một phụ nữ sắp chết vì chứng phí thủng và đang trong tình trạng hôn mê. Các bác sĩ đều đã lắc đầu và gia đình bà đều đã được mời vào. Bà chưa được làm báp tem, và gia đình biết đó là điều mà bà ao ước, vì vậy, ông Fred đã cảm thấy được Chúa dẫn dắt làm báp tem cho bà trong buổi tối hôm đó. Ngày hôm sau, bà tỉnh lại, ngồi lên trên giường với đôi mắt sáng và ra dấu xin một tờ giấy để viết bởi vì miệng và cổ họng của bà đầy các ống dây nhợ, bà không thể nói được. Bà viết xuống dòng chữ: “Tôi đói!”
5. Hãy tiếp nhận và thi hành uy quyền mà Đức Chúa Trời ban cho bạn để chữa lành kẻ đau và đuổi các quỷ. Chúa Giê-xu đã phán cùng 70 người được sai đi rằng: “Hãy chữa kẻ bệnh ở đó” (LuLc 10:9). Mặc dầu, chúng ta biết rằng cuối cùng chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng chữa lành bệnh, Kinh Thánh không ngần ngại nhiều lần để nói những điều như: “Êtiên được đầy ơn và quyền làm dấu kỳ phép lạ rất lớn trong dân” (Cong Cv 6:8). Điều này không bị xem là phản ánh việc sử dụng phù phép của một Cơ Đốc nhân.
CẦN PHẢI CÓ LƯỢNG ĐỨC TIN BAO NHIÊU?
Mặc dầu nhiều khi Đức Chúa Trời thi hành những công việc lạ lùng một cách tối thượng và trực tiếp như Ngài đã làm với Saulơ trên đường Đamách, đó là một ngoại lệ. Nguyên tắc mà chúng ta tìm thấy cả trong Kinh Thánh lẫn trong kinh nghiệm thực tế là Ngài thường sử dụng những tác nhân con người, và một phần quan trọng của sự liên kết để có quyền phép Đức Chúa Trời tuôn chảy qua tác nhân con người chính là đức tin. Nhưng vai trò mà đức tin nắm giữ thường bị hiểu lầm. Chúng ta cần phải rõ ràng trong hai lãnh vực quan trọng: tác nhân đức tin và lượng đức tin.
Tác nhân đức tin dấy lên câu hỏi : ai cần đức tin để sự chữa lành xảy ra ? Kinh Thánh cho chúng ta những minh họa riêng rẽ về tác nhân đức tin là người bệnh , những người trung gian và người chữa lành .
Đức tin của người bệnh đôi khi được liên kết với việc chữa lành. Hai người mù xuất hiện trước mặt Chúa Giê-xu để xin được chữa lành, Ngài phán: “Hai ngươi tin ta làm được điều hai ngươi ao ước sao?” Khi họ trả lời được Chúa Giê-xu đã phán: “Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy.” Mắt hai người liền mở (xem Mat Mt 9:28-31).
Nhưng không phải luôn luôn là như vậy. Người tôi tớ của thầy đội đã được chữa lành khỏi bệnh bại mà thậm chí không biết Chúa Giê-xu là Đấng chữa lành cho anh, theo như chúng ta được biết. Trong trường hợp này, một người trung gian, là thầy đội, đã có đức tin. Chúa Giê-xu đã phán: “Ta chưa hề thấy ai trong dân Ysơraên có đức tin lớn dường ấy!” (8:10).
Khi Phierơ và Giăng tiếp cận với người què ở tại cổng đền thờ, ông ta thậm chí cũng không mong được chữa lành, cũng chẳng có người trung gian nào ở đó cả. Phierơ, trong trường hợp này chính là nhân tố đức tin khi ông nói: “Ta chẳng có vàng bạc chi hết, song điều ta có thì ta cho ngươi: nhơn danh Đức Chúa Giê-xu Christ ở Naxarét, hãy bước đi” (Cong Cv 3:6).
Những minh họa cho từng trường hợp một thuộc ba thành phần này có thể rất nhiều, nhưng vấn đề đã rõ ràng. Trong các trường hợp khác nhau, Đức Chúa Trời sẽ dùng các tác nhân đức tin khác nhau. Một trong những lỗi lầm phổ biến nhất thường bị vấp phải, liên quan đến vấn đề này là nói như vầy với người bệnh không được lành bởi sự cầu nguyện: “Nếu như anh có đủ đức tin, anh sẽ được lành.” Điều này không những không đúng Kinh Thánh mà còn không nhân đạo, bởi vì nó chất thêm nỗi đau không cần thiết vào nỗi khổ mà họ đã có rồi.
Số lượng đức tin là lãnh vực thứ hai. Cần phải có bao nhiêu đức tin để làm cho việc chữa lành xảy ra? Câu trả lời là điều này không có câu trả lời. Tất nhiên là càng có nhiều đức tin càng tốt. Êtiên đã làm nhiều phép lạ bởi vì ông là người “đầy dẫy đức tin và quyền phép” (6:8). Nhưng có rất nhiều trường hợp khác việc chỉ có đức tin bằng hột cải là thấy được những việc lạ lùng xảy ra. Ở phần trước tôi có nhắc đến việc tôi đã có đức tin ít ỏi thể nào khi tôi chứng kiến hai lỗ tai mọc ra trên hai bên đầu của một cậu bé sinh ra không có hai tai.
Tôi thích câu chuyện mà Kate Semmerling thuật lại về kinh nghiệm của cô khi là một y tá thực tập ở tại bệnh viện Haiti. Một người đàn bà ẵm một cậu bé trai với hai chân què quặt. Cậu bé không thể đứng hoặc đi được. Cô cố gắng giải thích rằng cô không làm được điều gì cả nhưng vì muốn cho người đàn bà này mang con về nên cô bảo: “Tôi thở dài và đề nghị cầu nguyện cho bà ta - một loại cầu nguyện xin Chúa ban phước cho người đàn bà này để bà ta chóng ra về.” Nhưng đã có một hạt cải đức tin bảo với cô rằng Chúa có thể chữa lành, mặc dầu cô đã không trông mong gì cả. Cô đặt hai tay lên đôi chân què quặt của đứa bé và thưa: “Lạy Chúa, xin hãy đến và làm công việc của Ngài ở đây.”
Như thế là đủ đức tin trong trường hợp đó. Năm phút sau, đôi chân của đứa bé phồng lên như thể chúng là những trái banh nhỏ đầy các bắp thịt mới. Kate nói: “Tôi ngỡ như mình đang ở trên mây. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy điều gì giống như vậy xảy ra trước đây.” Đôi chân cậu bé trở nên bình thường, cậu bé đứng lên và bước đi. Câu trả lời của Kate là: “Ôi, lạy Chúa, hãy nhìn xem!”13 Đó có phải là thái độ bày tỏ đức tin mạnh mẽ đâu.
SỰ CHỊU KHỔ CÓ THỂ LÀ ĐIỀU ÍCH LỢI CHĂNG?
Đau khổ là một vấn đề cực kỳ phức tạp, cả về mặt Kinh Thánh lẫn về mặt thần học. Nó nổi lên những câu hỏi mà thật sự không những cần phải có một chương mà đến cả một quyển sách để nói. Nhiều sách đã viết về vấn đề này, và sẽ còn nhiều sách được viết về sự chịu khổ nữa.
Vì nhận biết điều đó, tôi đã chọn trong phần ngắn ngủi này để xem xét một số những vấn đề có liên quan trực tiếp nhất đến chức vụ của chúng ta khi cầu nguyện cho người đau.
Một trong các vấn đề này thường có liên quan đến sự chịu khổ có tính cứu rỗi. Ý tưởng nằm đằng sau nó là: sự chịu khổ là điều ích lợi, và qua nó, mối quan hệ của chúng ta với Chúa sẽ được tăng cường.
Không ai nói về vấn đề này tốt hơn là Ken Blue. Ông ta cảm thấy rằng “quan niệm cho bệnh tật chủ yếu vì ích lợi cho chúng ta” và rằng “nó đưa chúng ta đến chỗ thanh tẩy linh hồn và gây dựng tâm tánh” hình thành một trong những vật cản lớn nhất cho các chức vụ chữa lành hiệu quả ngày nay. Vì ý tưởng này, nhiều người tin rằng chúng ta giống Chúa khi chịu đựng bệnh tật hơn là khi được chữa lành. Thật vậy, việc tìm kiếm sự chữa lành bị xem là ích kỷ. 14 Một số người nói rằng nếu chúng ta tin Chúa chữa lành cho mình thì tỏ ra thái độ lệ thuộc vào lối sống hay đòi hỏi quyền lợi.
Francis MacNutt bổ sung: “Khi chúng ta nói rằng Đức Chúa Trời đem bệnh tật đến hoặc Đức Chúa Trời bảo chúng ta phải chịu đựng bệnh tật, là chúng ta đang tạo ra một hình ảnh về Đức Chúa Trời mà nhiều người cuối cùng phải từ chối. Người làm mẹ hoặc người làm cha sẽ chọn điều gì? Bệnh ung thư cho con gái họ để thuần phục tánh kiêu ngạo của nó chăng?” 15 MacNutt chọn Mỹ Latinh để minh họa như là nơi đang thịnh hành kiểu dạy dỗ như thế. Ông nói rằng bởi vì “Đức Chúa Trời bằng cách nào đó được mô tả như là một Đấng khó hiểu muốn con người phải chịu khổ qua phương cách cứu rỗi,” nhiều người Mỹ Latinh cảm thấy rằng khi bệnh tật đến, đó là ý muốn của Đức Chúa Trời. Vì vậy, để có được sức khỏe, rõ ràng là họ không đi đến với Chúa nhưng tìm một thầy mo. Điều này, MacNutt lập luận, là một sự đảo ngược đáng buồn về mặt thần học. “Con người đối xử với Đức Chúa Trời như thể Ngài là một vị thần ngoại giáo được xoa dịu bởi nỗi đau khổ, còn để được chữa lành, họ quay sang thế giới các tà linh và ma quỷ.” 16
Không điều nào bên trên hàm ý rằng việc chịu khổ chẳng đem lại ích lợi gì. Tôi đã nhấn mạnh điều này ở chương 4. Tại đó tôi đã đề cập thế nào Phaolô cuối cùng đã được ích lợi từ “chiếc giằm xóc trong xác thịt của ông” (xem IICo 2Cr 12:7-10). Một số việc chịu khổ mang tính cứu rỗi. Giacơ đã bảo chúng ta là hãy “coi mọi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn” (1:2), bởi vì thử thách sẽ đem lại sự nhịn nhục và sự nhịn nhục làm chúng ta trưởng thành. Hêbơrơ chép rằng sự sửa phạt từ Cha sinh ra “bông trái công bình và bình an” (12:11). Dầu đây là một phần của toàn thể bức tranh, nhưng Đức Chúa Trời vẫn thường xuyên được nhìn theo đúng Kinh Thánh, là Đấng giải cứu khỏi sự chịu khổ chứ không phải là Đấng đem đến những khổ nạn.
BỆNH TẬT VÀ SỰ CHỊU KHỔ
Thật ích lợi khi chúng ta không nhầm lẫn tật bệnh nói riêng với sự chịu khổ nói chung. Trừ những ngoại lệ hiếm hoi, các câu Kinh Thánh trong Tân Ước nói về sự chịu khổ có liên quan đến những tấn công của ma quỷ, sự bắt bớ vì cớ Tin Lành hoặc sự phán xét của Đức Chúa Trời chứ không phải tật bệnh của con người. Một nghiên cứu để cho thông tin về vấn đề này đã được thực hiện bởi Peter H. Davids. Ông tìm thấy rằng trong nhóm từ chịu khổ (tiếng Hy lạp là thlipsis), 54 lần xuất hiện trong Tân Ước ám chỉ đến sự bắt bớ, sự chống nghịch, sự đói kém hoặc sự phán xét trong ngày tận thế. Chỉ có một từ khác là ám chỉ đến nỗi đau đớn sinh nở (xem GiGa 16:21). Nhóm từ đau khổ (tiếng Hy lạp, pascho) xuất hiện 65 lần. Chỉ có 1 trong số đó có liên quan đến tật bệnh và từ ấy được quy cụ thể cho sự tấn công của ma quỷ (xem Mat Mt 17:15). Thật thú vị thay, trong một từ khác, nỗi đau khổ của người đàn bà mắc bệnh không áp dụng cho tình trạng tật bệnh của bà mà là cho sự điều trị bà nhận được từ các thầy thuốc (Mac Mc 5:26). 17
Những đáp ứng thích hợp của người Cơ Đốc đối với việc chịu khổ ở một mặt và với bệnh tật về mặt kia được gợi ý trong Gia Gc 5:13-15. “Trong anh em có ai chịu khổ chăng?” Câu trả lời: “Người ấy hãy cầu nguyện.” Và rồi: “Trong anh em có ai đau ốm chăng?” Câu trả lời: “Hãy mời các trưởng lão Hội Thánh đến, sau khi nhân danh Chúa xức dầu cho người bệnh đoạn, thì các trưởng lão hãy cầu nguyện cho người... Chúa sẽ đỡ kẻ ấy dậy.”
Thật kỳ lạ, một số người nhấn mạnh đến những ích lợi mang tính cứu rỗi của tật bệnh chứ không phải khao khát xin Chúa chữa lành cho mình dường như không nhất quán khi họ hoặc những người thân yêu của họ bị đau ốm. Tôi thích câu trả lời của tiến sĩ A. B. Simpson: “Được rồi, nếu những người khuyên giục và khẳng định thực hành lời đề nghị này thật sự chấp nhận tật bệnh của họ, và nằm thụ động mà chịu đựng bệnh tật, thì ít ra họ cũng đã nhất quán. Nhưng bộ họ không đi mời một bác sĩ, hoặc làm hết sức mình để thoát khỏi ‘ý muốn ngọt ngào này của Đức Chúa Trời sao’?” 18 Tất nhiên là họ làm. Nhà thần học gì hoặc nhà đạo đức gì mà lại khuyên vợ hay chồng mình đang bị đau răng kinh khủng cứ ở nhà để tìm kiếm ích lợi của sự cứu rỗi mà không đến gặp nha sĩ? Ai cũng biết trong thực tế gốc rễ của vấn đề không phải là bệnh tật có nên được chữa lành hay không, mà ai là người phải chữa lành bệnh tật. Bác sĩ hay nha sĩ thì được, nhưng dường như lại là ngạo mạn khi xin Chúa trực tiếp làm điều đó.
VÌ SAO CÓ MỘT SỐ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC CHỮA LÀNH?
Thực tế, trong đời sống, có một số Cơ Đốc nhân đã tuân theo chính xác huấn thị của Gia Gc 5:1-20 và đã mời các trưởng lão đến xức dầu cho họ, cầu nguyện cho họ, và cũng tìm kiếm những cách chữa trị y học tốt nhất đang có sẵn, song họ vẫn mang bệnh. Joni Eareckson Tada là một trong những ví dụ sống nổi tiếng nhất. Không hề thiếu đức tin về phần bà, về phần những người trung gian, hoặc về phần những người đã đặt tay và xức dầu cho bà, tứ chi bà vẫn bất toại và ngồi liệt trong xe lăn.
Vì sao vậy?
Khi tôi nói đến nếp sống của nước trời ở chương 4, tôi đã nói rằng không ai thật sự biết được câu trả lời của vấn đề này, và nếu như có người biết được, thì hẳn họ sẽ được giải thưởng Nô-ben về mặt thần học, nhưng có lẽ cũng chẳng ai cần giải thưởng ấy. Có lẽ Robert Wise đã đúng khi ông khuyên chúng ta đừng hỏi thậm chí vì sao, bởi vì “Việc biết rằng Đức Chúa Trời ở bên tôi có nghĩa là tôi thật sự không phải có một câu trả lời cho tất cả những câu hỏi tại sao đầy bí ẩn của cuộc đời tôi.” Ông khuyên chúng ta hãy đổi câu hỏi tại sao thành một câu tốt hơn: Điều gì? Điều này có ý nghĩa gì đối với tôi và Đức Chúa Trời có thể sử dụng hoàn cảnh của tôi như thế nào? 19
Tôi luôn đối diện với vấn đề này. Mặc dầu một tỉ lệ phần trăm lớn đã được cải thiện ở mức độ này hoặc mức độ kia, dầu vậy, 71 phần trăm của những người tôi đã cầu nguyện cho họ hai năm qua vẫn đau ốm ở một mức độ nào đó sau khi đã được cầu nguyện. Chỉ có 29 phần trăm là hoàn toàn được lành, tôi không nghĩ điều này là lạ, nhưng tôi không có được các tỉ lệ phần trăm đối chiếu nơi những người khác, là những người cũng có ân tứ hoặc chức vụ chữa lành để kiểm tra. Tôi đã từng nghe John Wimber nói một lần nọ: “Trong số những người tôi cầu nguyện cho, những người không lành nhiều hơn những người được lành.” Nhưng, như tôi đã đề cập ở phần trước, hầu như tất cả những người đã nhận được sự cầu nguyện chữa lành đều được nâng đỡ bằng cách này hoặc các khác. Trong bảng phân tích cuối cùng, trích lời của Charles Kraft, việc gây dựng thậm chí còn quan trọng hơn việc chữa lành.
CHỜ ĐỢI PHÉP LẠ
Ở trong phần Phụ lục của George Eckart, bạn sẽ thấy một câu hỏi: Loại danh sách mục vụ gì được dành cho những người không nhận được sự chữa lành? Ông nói rằng ao ước của đội ngũ của ông là “phản ánh tình yêu thương, sự quan tâm, ân điển, và sự cam kết của Chúa Giê-xu đến một mức độ khiến cho bối cảnh chức vụ đem lại sự dịu dàng khỏe khoắn, thậm chí nếu như lời cầu xin cụ thể vẫn chưa được trả lời.” Bạn hãy để ý cụm từ chưa được. Việc đúng thời điểm là điều quan trọng, và những người chúng ta cầu nguyện cần phải biết rằng phép lạ có thể còn ở phía trước.
Tôi đã học được điều này cách đây ba năm, khi John Wimber cầu nguyện cho các nang mang bệnh khớp dịch nhờn ở cả hai vai bị sưng tấy mà tôi đã phải chịu đựng. Trong suốt ba năm, tôi không thể nhấc hai cùi chỏ lên cao bằng vai được. Tuy nhiên, khi ông cầu nguyện, chẳng có gì xảy ra cả. Nhưng một người phụ nữ ở đó đã nhận được một lời tri thức bảo rằng tôi hãy vươn hai vai đến chỗ đau mỗi ngày mỗi ít. Tôi đã làm, và trong ba tuần cơn đau kể từ đó đã hoàn toàn biến mất.
Robert Wise khuyên rằng trong khi bạn đang chờ đợi phép lạ, hãy cố gắng giữ một vị trí trung lập với một chân trong sự chờ đợi phép lạ sẽ xảy ra và chân kia đặt trong phép lạ sẽ không xảy ra. Ông nói: “Đừng ngần ngại khi phải nhìn thẳng vào chính mình” và bạn phải đối diện với những nỗi sợ hãi, bất an và tức giận của mình.20 Sau đó ông nói thêm những mẫu lời khuyên thực tiễn: Trước hết đừng thực hành sự suy nghĩ đầy mong ước. Đừng giống như đứa trẻ cầu nguyện rằng Chúa sẽ thay đổi cây bố xôi trở thành cây cà rem. Thứ hai, đừng cố gắng làm rối loạn tinh thần của chính mình. Việc chữa lành của bạn không lệ thuộc vào khuôn mẫu của tâm trí. Và thứ ba, đừng mặc cả với Đức Chúa Trời. Nếu bạn làm thế, bạn đang hậu thuẫn cho phù phép mà chúng ta đã nói ở phần trước.21
Chúng ta phải chờ đợi phép lạ xảy ra trong bao lâu? Vâng, Chúa đã hứa với Ápraham và Sara một đứa con, và họ đã phải chờ đợi 25 năm điều đó mới xảy ra. Họ đã phạm phải những lỗi lầm nhỏ mà họ không muốn lặp lại đang khi chờ đợi. Sứ đồ Phaolô đã cầu nguyện ba lần để chiếc giằm xóc trong xác thịt ông được cất khỏi. Sau đó, ông không cầu nguyện nữa, mà chấp nhận điều đó. Vì sao ông thôi cầu nguyện? Bởi vì Đức Chúa Trời đã phán cùng ông: “Ân điển ta đủ cho ngươi rồi” (IICo 2Cr 12:9). Lời khuyên của tôi dành cho những người không được chữa lành lập tức đó là họ hãy tiếp tục cầu nguyện cầu xin, hoặc 3 lần hoặc 33 lần, cho đến khi Chúa phán với họ hãy thôi cầu xin, như Ngài đã làm với sứ đồ Phaolô.
Tôi không biết có người nào hoặc nhóm người nào tham gia vào các chức vụ chữa lành mà không thích nhìn thấy tính hiệu quả của mình được cải thiện không. Một số người như Francis MacNutt đã nhận ra những lý do cụ thể vì sao một số người không được lành bệnh. Ông liệt kê việc thiếu đức tin, sự chịu khổ mang tính cứu rỗi, một giá trị sai gắn liền với sự đau khổ, tội lỗi, chưa cầu nguyện cụ thể, chẩn đoán sai, từ chối nhìn nhận thuốc men là một phương cách để Chúa chữa lành, không sử dụng những phương cách giữ gìn sức khỏe tự nhiên, chưa đúng thời điểm, một người khác phải là công cụ cho việc chữa lành, và một bầu môi trường xã hội đã ngăn cản sự chữa lành không xảy ra.22 Tôi có thể kết hợp với ông trong việc đưa ra các minh họa từ chức vụ của chính tôi dành cho mỗi điểm của ông.
Nếu chúng ta làm theo lời đề nghị biến những câu hỏi tại sao thành những câu hỏi điều gì, chúng ta đang đi đúng đường, nói theo cách mục vụ, Joni Eareckson Tada đã đi đầu trong việc chấp nhận sự thật đó là “Chúa Cứu Thế là Đấng luôn đầy lòng thương xót, công bình, thanh sạch và thánh khiết đã và luôn luôn sẽ đối xử với các con cái Ngài theo những cách khác biệt, cá nhân và luôn thay đổi. Ngài vẫn không đổi, nhưng cách xử lý của Ngài với những người nam và những người nữ thì luôn luôn thay đổi. Chỉ vì Ngài chữa lành một lần thì không có nghĩa là Ngài bị bắt buộc phải luôn luôn chữa lành.” Vì vậy, khi bà đã bị giới hạn trong chiếc xe lăn tay và đối mặt với câu hỏi: “Liệu tôi sẽ bỏ phí thì giờ của mình hay sẽ sử dụng bất cứ điều gì tôi còn lại cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời?” Bà đã có một quyết định tốt và đã lựa chọn sử dụng thì giờ cho Chúa.23
Ít ai suy gẫm câu hỏi mà chúng ta đang thảo luận nhiều hơn Joni: Tại sao có một số người không được chữa lành? Kết luận của bà thật khôn ngoan và hợp lý. Trước hết, bà khẳng định: “ Ngày nay, Đức Chúa Trời nhất định có thể và nhiều lúc đã chữa lành con người một cách lạ lùng.” Sau đó, bà nói thêm: “Nhưng Kinh Thánh không dạy rằng Ngài sẽ luôn chữa lành những người đến cùng Ngài bằng đức tin. Bởi quyền phép tối thượng, Ngài có quyền để chữa lành hoặc không chữa lành tùy theo ý Ngài thấy phù hợp.” 24
Joni cũng sống trong hi vọng của thiên đàng khi bà sẽ được nghênh tiếp về nhà và sẽ có một thân thể mới. Bà nói: “Chính tôi sẽ có thể chạy đến với các bạn và ôm chầm lấy họ lần đầu tiên, tôi sẽ đưa bàn tay mới của mình lên trước các thiên sứ của thiên đàng - la lớn cho mọi người trong tầm nghe: “Chiên Con đã bị giết đáng nhận được ơn phước và sự tôn trọng. Bởi vì Ngài đã giải cứu linh hồn tôi khỏi sự cầm giữ của tội lỗi và sự chết, và bây giờ Ngài đã giải cứu tôi khỏi thân thể nữa!” 25
Đó là niềm hi vọng của Joni, của tôi và của mỗi một Cơ Đốc nhân mà tôi biết. Đó là lý do quan trọng vì sao mặc dù vẫn có những lúc, không gì quan trọng hơn trong đời này là việc chia sẻ Tin Lành cứu rỗi của Chúa Cứu Thế Giê-xu với những người chưa tin. Như Chúa Giê-xu đã phán cùng các môn đồ, sự vui mừng lớn nhất của chúng ta sẽ đến khi biết rằng tên của chúng ta được ghi trên thiên đàng (xem LuLc 10:20). Chúng ta có thể được chữa lành hiện nay; nhưng chúng ta sẽ được chữa lành vào lúc bấy giờ.
Ghi chú
1. Rex Gardner: “Các Phép lạ chữa lành bệnh ở tại Northumbria của ngươì Xen-tơ gốc Anh được ghi nhận bởi Venerable Bede và những người đồng thời với ông: Việc Đánh giá Lại Trong Ánh Sáng Kinh nghiệm của Thế kỷ Thứ Hai mươi,” Tờ Báo Y Khoa Anh quốc (British Medical Journal), số tháng 12, 1983, trang 6. Cũng xin xem Healing Miracles của Gardner (London: Darton, Longman and Todd, 1986), chương 1 and 2.
2. Rene Laurentin, Miracles in El Paso? (Ann Arbor, MI: Servant Books 1982), p. 91.
3. Michael Cassidy, Bursting the Wineskins (Wheaton, IL: Harold Shaw Publishers, 1983), pp. 43-45. Thật thú vị, hành trình thuộc linh của Michael Harper tiến đến chức vụ chữa lành cũng đã được sự giúp đỡ tuyệt vời qua một buổi nhóm của bà Kathryn Kulman khi ông chứng kiến một thanh niên trẻ tuổi được chữa khỏi chứng khí thũng. Xem The Healings of Jesus (Downers Grove, IL: InterVarsity Press, 1986), trang 13,14.
4. Byrd, Randolph C.: “Những Tác Dụng Điều Trị Tốt của Sự Cầu Nguyện Cầu Thay trong một Đơn Vị Điều Trị Nhóm Những Người Bị Chứng Nghẽn Động Mạch Vành.” Circulation, Part II, Vol. 70, No. 4, Oct. 1984, Abstract số 845, trang 211 -212. Cuốn Abstract viết như sau:
Sự cầu thay, (IP), một trong những hình thức chữa bệnh xưa cũ nhất, ít được lưu ý trong các tài liệu y khoa. Để đánh giá các kết quả của liệu pháp cầu nguyện (IP) trong một đơn vị chăm sóc chứng ngẽn động mạch vành (CCU)
Tuân theo một nghi thức lựa chọn ngẫu nhiên mà bệnh nhân lẫn người điều trị đều không được cho biết. Qua một khoảng thời gian là 10 tháng, 393 bệnh nhân CCU đã được tiến hành,sau khi ký tên đồng ý với một nhóm cầu thay (IPG), 192 bệnh nhân (pts), hoặc với một nhóm không cầu thay (NPG), 201 bệnh nhân. Nhóm IPG, trong lúc nằm viện, nhận sự cầu thay của các Cơ Đốc nhân tham gia cầu nguyện bên ngoài bệnh viện; còn nhóm NPG thì không. Khi đăng ký theo dõi, không có sự khác biệt nào về mặt thống kê giữa hai nhóm về bất cứ 34 trường hợp biến thiên nào. Phân tích chi tiết không phân biệt được hai nhóm dựa trên những biến thiên vào lúc đăng ký. Nhưng sau đó, nhóm được cầu thay được thống kê là ít bị phù các động mạch phổi, 6 bệnh nhân so với 18 (p ……. . . 0,03); ít bị đặt các ống thở hơn, 0 so với 12 bệnh nhân pts (p ... 0,002), và ít phải dùng kháng sinh hơn, 3 so với 16 bệnh nhân (p ... 0,007). Kết luận là, liệu pháp cầu nguyện dường như có tác động bổ ích trên các bệnh nhân trong một đơn vị điều trị các bệnh nhân bị nghẽn động mạch.
5. Timothy M. Warner, “A Response to Wagner,” Trinity World Forum, Spring 1986, p. 5.
6. Richard Lovelace, “Countering the Devil’s Tactics,” Charisma, Dec. 1984, p. 10.
7. C. Peter Wagner, Your Spiritual Gifts Can Help Your Church Grow (Ventura, CA: Regal Books, Div. of Gospel Light Publications, 1979), p. 261.
8. Michael Green, I Believe in Satan’s Downfall (Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans Pub. Co., 1981), p. 133.
9. Harper, Healings, P. 130.
10. Cited in Vinson Synan, The Twentieth-Century Pentecostal Explosion (Altamonte Springs, Fuller: Creation House, 1987), p. 57.
11. Paul G. Hiebert, “Discerning the Work of God,” Charismatic Experiences in History, Cecil M. Robeck, Jr., ed. (Peabody, MA: Henderson, 1985), pp. 151-159.
12. Warner, “A Response to Wagner,” p. 5.
13. Kate Semmerling with Andres Tapla, “Haiti,” U magazine, Feb. 1987, p. 13.
14. Ken Blue, Authority to Heal (Downers Grove, IL: InterVarsity Press, 1987). pp. 21-22.
15. Francis MacNutt, The Power to Heal (Notre Dame, IN: Ave Maria Press 1977), p. 139.
16. Francis MacNutt, Healing (Notre Dame, IN: Ave Maria Press, 1974), pp. 106-107.
17. Peter H. Davids, “Suffering: Endurance and Relief,” Frist Fruits, July/Aug. 1986, pp. 8,9.
18. A. B. Simpson, The Gospel of Healing (Harrisburg, PA: Christian Publications, 1915 rev.), pp. 57,58.
19. Robert L. Wise, When There Is No Miracle (Ventura, CA: Regal Books, Div. of Gospel Light Publications, 1977), p. 99.
20. Cùng tác phẩm, trang 151.
21. Cùng tác phẩm, trang 153.
22. MacNutt, Healing, pp. 249-260.
23. Joni Eareckson Tada, “His Strength Made Perfect,” Christian Life, July 1986, pp. 17,18.
24. Joni Eareckson Tada and Steve Estes, A Step Further (Grand Rapids, MI: Zondervan Publishing House, 1978), p. 127.
25. Cùng tác phẩm, trang 184,185.


Phần Phụ Lục
Những Câu Hỏi Phổ Thông Liên Quan Đến Chức Vụ Chữa Lành trong Hội Thông Công 120 Người của Hội Thánh Hội Chúng Lake Avenue Pasadena, California.
George W. Eckart
Bạn hiểu thế nào về bệnh tật?
Chúng ta tin rằng tật bệnh là sự vận động sai chức năng về mặt thuộc thể hoặc tình cảm của một cá nhân. Những trường hợp cụ thể về bệnh tật có thể do bất cứ một hoặc một sự kết hợp nào về những rối loạn hoặc tổn thương về cơ quan, về tâm lý hoặc về tâm linh gây ra. Chúng tôi tin rằng một chức vụ chữa lành hiệu quả cần phải có một cái nhìn bao quát về những nguyên nhân cũng như sự chữa trị bệnh tật.
Ngày nay, Hội Thánh của Chúa Cứu Thế Giê-xu có nên có chức vụ chữa lành không?
Nên! Chúng tôi tin rằng ngày nay Hội Thánh của Chúa Cứu Thế Giê-xu phải thi hành chức vụ chữa lành. Các ân tứ của việc chữa lành không bao giờ bị rút khỏi Hội Thánh. Vì vậy, cùng với những nỗ lực tốt nhất của chúng ta trong việc khích lệ sự chăm sóc thuốc men thích đáng, sự cầu nguyện hi vọng thay cho người bệnh phải là một yếu tố quan trọng trong chức vụ của Hội Thánh đối với những người có cần.
Chức vụ chữa lành có liên quan thế nào với các chức vụ khác trong Hội Thánh?
Chúng ta tin rằng việc rao giảng Tin Lành cho người hư mất, chữa lành kẻ đau, đuổi các quỷ, chăm sóc người nghèo và đeo đuổi sự công bình, tất cả đều là những phương diện của chức vụ mà Chúa Cứu Thế Giê-xu đã chuyển giao cho Hội Thánh Ngài. Chúng tôi tin rằng mỗi chức vụ đều chứng tỏ sự thâm nhập của các quyền phép nước trời đối với một thế giới sa ngã đang cần sự cứu chuộc trong mọi phạm vi hoạt động.
Có phải bất cứ Cơ Đốc nhân nào cũng có thể cầu nguyện cho người bệnh và trông mong người bệnh được lành không?
Đúng! Chúng tôi tin rằng bất cứ người Cơ Đốc nào cũng có thể cầu nguyện cho người bệnh và ít nhất là đôi khi chứng kiến người bệnh được lành.
Theo sứ đồ Phaolô, không phải tất cả các Cơ Đốc nhân đều có cùng một ân tứ như nhau. Nếu mỗi Cơ Đốc nhân không có ân tứ chữa lành, thì làm thế nào mà mọi Cơ Đốc nhân đều có thể cầu nguyện cho người đau và hi vọng người ấy được lành?
Không phải mọi Cơ Đốc nhân đều có ân tứ chữa lành. Tuy nhiên chúng tôi không tin rằng một Cơ Đốc nhân cần có ân tứ chữa lành mới chứng kiến người đau được khỏe. Chúng ta phân biệt giữa các ân tứ và các vai trò. Chúng tôi tin rằng mọi ân tứ thuộc linh đều có một vai trò tương ứng. Cũng như một người không cần có ân tứ truyền giáo để đưa dắt người khác đến với Chúa, chúng tôi cũng tin rằng một người không cần có ân tứ chữa lành để cầu nguyện hiệu quả cho người bệnh. Người gây dựng trong ân tứ sẽ nhất định hiệu quả hơn trong lãnh vực cụ thể của sự phục vụ so với người phục vụ chỉ vì vai trò là một Cơ Đốc nhân. Tuy nhiên, tôi tin rằng hoặc người có ân tứ chữa lành hoặc người chỉ cầu nguyện là vì vai trò của mình với tư cách Cơ Đốc nhân đều có thể hữu hiệu trong việc chứng kiến kẻ đau được lành.
Có cần thiết để người ấy phải nói tiếng lạ thì mới có hiệu quả trong việc cầu nguyện cho người đau không?
Không! Mặc dầu chúng tôi tin rằng tiếng lạ là một ân tứ hiện thời của Đức Thánh Linh, chúng tôi không công nhận nó như là bằng chứng đầu tiên của cái gọi là “Báp tem bằng Thánh Linh.” Chúng tôi cũng không tin rằng việc nói các thứ tiếng là điều cốt lõi để được hiệu quả trong việc cầu nguyện cho người bệnh.
Đức Chúa Trời có luôn chữa lành người bệnh khi chúng ta cầu xin Ngài không?
Chúng tôi không tin rằng Chúa luôn chữa lành mọi lúc chúng ta xin Ngài. Chúng tôi cũng không tin rằng Kinh Thánh dẫn chúng ta đến chỗ mong đợi Ngài ban sự chữa lành mỗi khi chúng ta cầu xin. Kinh Thánh khẳng định rằng trong thời kỳ hầu đến, Chúa sẽ lau ráo mọi nước mắt khỏi mắt chúng ta. Tất cả sự chữa lành sẽ được trọn vẹn và bền vững. “Sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi” (KhKh 21:4). Mặc dầu chúng ta đã nếm biết quyền phép của thời kỳ hầu đến, sự nhận biết trọn vẹn của các ơn phước của thời kỳ hầu đến vẫn thuộc về cõi tương lai. Chỉ lúc đó chúng ta mới quả quyết sự chữa lành trọn vẹn và cuối cùng chứ không phải bây giờ.
Quyền phép chữa lành nằm ở đâu?
Quyền phép để chữa lành ở với một mình Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu chỉ làm điều Cha Ngài làm (xem GiGa 5:19-21) và chỉ nói điều Cha ban cho Ngài nói (xem 12:49, 50). Kết quả là, đã có những phước hạnh và ích lợi nơi lời nói và việc làm của Ngài. Cũng như Chúa Giê-xu, chúng ta tin rằng trách nhiệm của chúng ta là phải nuôi dưỡng một sự lệ thuộc thân mật vào Đức Thánh Linh cũng như phải sẵn sàng để bước đi trong những việc tốt lành mà Đức Chúa Trời “đã chuẩn bị trước.” Tất cả những gì chúng ta có thể làm là cầu nguyện. Chính trách nhiệm của Đức Chúa Trời là chữa lành.
“Phải có đức tin để chữa lành” hàm ý gì?
Bằng “đức tin”, chúng ta hàm ý một sự sẵn lòng để đến trước mặt Chúa Giê-xu và cầu xin Ngài với tấm lòng mong đợi sự chữa lành của Ngài rờ đụng trong khi gieo mình vào trong sự chăm sóc yêu thương của Ngài, tin cậy Ngài làm điều tốt nhất cho chúng ta. Chúng tôi không tin rằng đức tin là một công cụ để buộc Đức Chúa Trời phải chữa lành. Đó cũng không phải là mức độ cả tin được gia thêm bởi xúc cảm quá mấu, là điều tìm cách phủ nhận thực tế của các triệu chứng.
Mối liên hệ giữa việc chữa lành và đức tin là gì?
Nói chung, chúng ta tin rằng đức tin cần phải có để việc chữa lành xảy ra (xem Mac Mc 6:1-6). Nói một cách lý tưởng, đức tin phải có mặt trong người đang cầu nguyện. Tuy nhiên, chúng ta tin rằng “đức tin chữa lành” cũng có thể có mặt cách hiệu quả nơi người đang cầu nguyện hoặc ở trong cộng đồng vây quanh chức vụ.
Liệu Cơ Đốc nhân có cần phải “tuyên bố” sự chữa lành của họ và không màng đến các triệu chứng có thể vẫn còn sau khi được cầu nguyện không?
Mặc dầu có thể Đức Chúa Trời thỉnh thoảng truyền cho một cá nhân phải “tuyên bố” sự chữa lành trước khi thật sự nhận được điều đó, điều này không phải là “sự vâng lời của đức tin” chúng tôi khuyến khích giữa vòng những người cầu xin cho người bệnh. Đức Chúa Giê-xu không bao giờ yêu cầu bất cứ ai “tuyên bố” sự chữa lành của họ trong chính chức vụ của Ngài trên đất. Vì vậy, chúng ta tin rằng không khôn ngoan khi tập một thói quen làm như vậy giữa vòng chúng ta.
Người được cầu nguyện chữa bệnh có nên ngưng dùng thuốc đã được chỉ định như là một bước đức tin hay không?
Bác sĩ điều trị là người duy nhất có thẩm quyền để thay đổi lượng thuốc chỉ định cho một bệnh nhân. Những người tin rằng mình đã nhận được sự chữa lành đang trong điều kiện phải dùng thuốc phải kiểm tra với bác sĩ của họ trước khi thay đổi cách điều trị đã được chỉ định.
Một người đã được cầu nguyện để chữa lành mà vẫn còn tìm kiếm những sự trợ giúp của bác sĩ hoặc những việc tương tự có phải rõ ràng là thiếu đức tin không?
Chúng ta tin rằng thuốc men hiện đại (kể cả liệu pháp tâm lý) là một trong những phương cách Đức Chúa Trời sử dụng để giúp cho sự chữa lành của những người có cần. Chúng ta không tin rằng việc tìm kiếm sự cầu nguyện chữa lành và tìm kiếm sự chăm sóc của các bác sĩ y tế là loại trừ lẫn nhau hoặc mâu thuẫn nhau. Đã có lần Chúa Giê-xu ám chỉ chính mình Ngài là một thầy thuốc (xem 2:17) và dường như Ngài có khuynh hướng ủng hộ đối với sự phục vụ mà họ cung ứng (xem Mat Mt 9:12).
Như vậy tại sao bạn không điều động “các buổi nhóm chữa lành” ưu tiên cầu nguyện cho những cá nhân một cách riêng tư qua việc sử dụng các tổ chức vụ nhỏ hơn?
Chúng tôi thích các đội ngũ chức vụ nhỏ hơn là các buổi nhóm chữa lành lớn vì ba lý do:
1. Một tổ chức vụ nhỏ cung cấp một môi trường thân gần hơn, tại đó tính riêng tư của các cá nhân xin cầu nguyện có thể được giữ một cách dễ dàng hơn.
2. Các tổ chức vụ nhỏ thường là thích hợp hơn để khuyến khích chức vụ có chiều sâu trong bối cảnh của các mối quan hệ chăm sóc cá nhân.
3. Một tổ chức vụ nhỏ thường có sẵn một số lượng kinh nghiệm và ân tứ thuộc linh đa dạng hơn là những gì thường có ở một cá nhân duy nhất.
Hầu hết những sự chữa lành xảy ra tức thì hay phải qua một thời gian?
Trong chức vụ của Chúa Giê-xu, hầu hết những sự chữa lành đều xảy ra tức thì. Tuy nhiên, đã có những trường hợp, trong đó sự chữa lành dường như xảy ra qua một thời gian (xem 8:22-26; 5:8). Trong chức vụ của chúng tôi, hầu hết sự chữa lành dường như xảy ra qua một thời gian, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thì sự chữa lành xảy ra tức thì.
Có phải tất cả bệnh tật là hậu quả cụ thể của sự chèn lấn của ma quỷ không?
Không! Mặc dầu Kinh Thánh cho thấy bệnh tật có thể là do những ảnh hưởng của ma quỷ (xem LuLc 13:11; Mat Mt 8:28). Chúng ta tin rằng khi xem tất cả hay phần lớn những sự sai chức năng trong thân thể hoặc tâm trí như là có nguồn gốc từ ma quỷ là không đúng. “Quỷ chiếm hữu” là hình thức cao độ nhất của tình trạng quỷ ám, ngày nay có thể xảy ra nhưng trường hợp đó là vô cùng hiếm. Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp, Cơ Đốc nhân là người thắng hơn nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu Christ là Chúa chúng ta (xem RoRm 8:37).
Sự chăm sóc mục vụ gì được dành cho những người không được chữa lành?
Dường như phải đúng thời điểm cả trong sự cứu rỗi lẫn trong việc chữa lành. Kết quả là, chúng ta hãy khuyến khích những người không nhận được sự chữa lành hãy để chúng ta cầu nguyện cho họ một lần nữa vào lúc khác. Điều quan trọng đối với chúng ta là phải quả quyết với những người chưa nhận được sự chữa lành để họ không bị đè nặng bởi một cảm nhận thất bại hoặc mặc cảm tội lỗi. Là một đội ngũ giúp đỡ, mục tiêu của chúng ta là phải phản ánh tình yêu thương, sự quan tâm, ân điển và sự cam kết của Chúa Giê-xu ở một mức độ làm cho bối cảnh của chức vụ là một sự nâng đỡ nhẹ nhàng thậm chí nếu như lời cầu xin cụ thể vẫn còn đó chưa được trả lời.
Bệnh tật có thể được Đức Chúa Trời sử dụng cho sự vinh hiển của Ngài không?
Có! Mặc dầu bệnh tật không phải là ý muốn hoàn hảo của Đức Chúa Trời dành cho đời sống chúng ta, chúng tôi tin rằng sự chịu khổ và những hoạn nạn thuộc mọi hình thức, kể cả tật bệnh dai dẳng, có thể được Đức Chúa Trời sử dụng để kiện toàn đức tin chúng ta và đem vinh hiển đến cho danh Ngài (IPhi 1Pr 1:6, 7).



Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 11-5-2021 06:28 PM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách